7aaf8fedb23f538e4d06c3d0555bb41e

 

 

CHƯƠNG 2 (tiếp)

 

 

Vào cuối năm thứ ba, y đã thanh toán xong tiền nhà, và ngay lập tức bắt đầu tiết kiệm cho việc tân trang lại. Việc này đòi hỏi ít thời gian hơn y nghĩ, một phần là bởi vì có điều gì đó đã xảy ra đối với Andy. Y xuống trung tâm thành phố vào một ngày nọ để gặp anh theo lịch hẹn, và Andy lao vào phòng khám, nom chán nản mà vẫn có vẻ vui mừng một cách kỳ lạ.

“Có chuyện gì thế?” y hỏi, và Andy lặng lẽ đưa cho y trang báo mà anh xé ra từ một cuốn tập san. Y đọc: đó là một báo cáo học thuật về một cải tiến phẫu thuật bằng tia laser đang được thử nghiệm mang đến nhiều hứa hẹn về giải pháp loại bỏ sẹo lồi mà không gây tổn thương giờ đây đã được chứng minh là có nhiều tác dụng phụ có hại về mặt trung hạn: mặc dù sẹo lồi đã được xóa, các bệnh nhân vẫn gặp phải các vết thương thô, giống như bỏng, và lớp da bên dưới các vết sẹo trở nên yếu hơn hẳn, dễ bị nứt và vỡ hơn trước, mà sẽ dẫn đến rộp da và nhiễm trùng.

“Cậu đang nghĩ đến việc này, đúng không?” Andy hỏi y, khi y ngồi đó và cầm tờ báo trong tay, không thể nói. “Tôi hiểu cậu mà, Judy. Và tôi biết là cậu đã lên lịch hẹn tại văn phòng của cái tên lang băm Thompson kia. Đừng chối; họ gọi cho tôi để lấy bệnh án của câu. Tôi không gửi cho họ. Xin cậu đừng làm vậy, Jude ạ. Tôi nghiêm túc đấy. Điều cuối cùng mà cậu cần là những vết thương hở trên lưng cũng như ở chân cậu.” Và rồi, khi y không nói gì cả. “Nói gì với tôi đi chứ.”

Y lắc đầu. Andy nói đúng: y cũng tiết kiệm cho cả việc này nữa. Cũng giống như tiền thưởng hàng năm và hầu hết khoản tiết kiệm của y, toàn bộ số tiền y kiếm được từ hồi xưa bởi việc phụ đạo cho Felix đều được dồn vào để mua nhà, nhưng những tháng gần đây, khi rõ ràng là y đã đóng khoản thanh toán cuối cùng, y lại bắt đầu tiết kiệm cho cuộc phẫu thuật. Y đã lên kế hoạch cả rồi: y sẽ làm phẫu thuật và rồi y sẽ hoàn thành việc tiết kiệm cho việc sửa nhà. Y đã hình dung về nó – lưng của y sẽ nhẵn như mặt sàn, những vết sẹo dày, cứng đầu kia sẽ bốc hơi trong vài giây, và với điều đó, toàn bộ bằng chứng về quãng thời gian mà y còn sống tại nhà an toàn và ở Philadelphia, tư liệu về những năm tháng ấy sẽ hoàn toàn bị xóa sổ khỏi cơ thể y. Y đã nỗ lực để quên đi, y cố làm vậy mỗi ngày, nhưng càng cố gắng nhiều, những vết sẹo ấy vẫn luôn ở đó để nhắc nhở y, như một bằng chứng của việc những gì y giả vờ không xảy ra, thực sự đã xảy ra.

“Jude,” Andy nói, ngồi xuống cạnh y trên giường khám bệnh. “Tôi biết là cậu thấy thất vọng. Và tôi hứa với cậu rằng khi nào có một phương pháp điều trị vừa hiệu quả vừa an toàn, tôi sẽ báo với cậu. Nhưng lúc này thì không, và lương tâm tôi không cho phép cậu làm vậy với chính bản thân mình.” Y im lặng; họ đều im lặng. “Đáng lý ra tôi phải hỏi cậu điều này thường xuyên hơn, Jude ạ, nhưng — cậu có bị đau không? Những vết sẹo ấy có khiến cậu khó chịu không? Cậu có cảm giác da mình bị căng ra không?”

Y gật đầu. “Nghe này, Jude,” Andy nói sau một lúc im lặng. “Tôi có thể cho cậu một số loại kem để làm dịu chúng lại, nhưng cậu sẽ cần phải xoa bóp một chút vào mỗi tối, nếu không thì nó sẽ không hiệu quả. Cậu có thể để ai đó làm việc này giúp cậu không? Willem? Richard?”

“Tôi không thể,” y trả lời, nói với tờ báo đang cầm trong tay.

“Ôi,” Andy nói. “Dù sao thì tôi cũng sẽ kê đơn cho cậu, và tôi sẽ chỉ cậu cách làm – đừng lo, tôi đã hỏi một bác sĩ da liễu rồi, đây không phải là phương pháp mà tôi bịa ra đâu – nhưng tôi không thể nói là nó sẽ hiệu quả với cậu ra sao.” Anh đứng dậy. “Cậu cởi đồ ra và quay về phía tường được chứ?”

Y làm theo, và cảm thấy bàn tay của Andy đặt trên vai mình, và rồi chầm chậm di chuyển dọc theo lưng y. Y nghĩ rằng Andy có thể nói, như đôi khi anh vẫn làm vậy, “Không tệ lắm đâu, Jude ạ,” hay “Cậu không việc gì phải ngại cả,” nhưng lần này thì không, anh chỉ lướt tay trên lưng y, như thể bàn tay của anh là tia laser vậy, một thứ gì đó dao động trên người y và chữa trị cho y, để lớp da bên dưới trở nên khỏe mạnh và lành lặn. Cuối cùng Andy bảo y mặc áo vào, và y làm theo, và quay người lại. “Tôi xin lỗi, Jude,” Andy nói, và lần này, Andy chẳng thể nhìn vào y.

“Cậu có muốn ăn gì không?” Andy hỏi sau khi buổi khám bệnh kết thúc, khi y mặc quần áo của mình vào, nhưng y lắc đầu: “Tôi nên quay lại văn phòng thôi.” Andy yên lặng sau đó, nhưng khi y rời đi, anh ngăn y lại. “Jude,” anh nói, “Tôi xin lỗi. Tôi không muốn là kẻ phá vỡ hy vọng của cậu.” Y gật đầu – y biết là Andy không hề muốn vậy – nhưng trong thời điểm đó, y không thể ở cùng anh, y chỉ muốn rời đi.

Tuy vậy, y tự nhắc nhở mình – y quyết định sẽ thực tế hơn, để ngừng cho rằng y có thể làm cho bản thân mình khá lên – thực tế rằng y không thể thực hiện cuộc phẫu thuật này có nghĩa là giờ đây y đã có tiền để Malcolm có thể sửa nhà. Sau nhiều năm y đã có một ngôi nhà, y đã chứng kiến Malcolm trở nên cứng cỏi và sáng tạo hơn trong công việc, và vì thế kế hoạch mà y đưa ra ban đầu khi y mới mua căn hộ này đã được thay đổi và điều chỉnh và cải tiến rất nhiều lần: ở đó, y có thể thấy được sự phát triển của điều mà ngay cả y cũng có thể nhận ra là một sự tự tin về mặt thẩm mỹ, một sự tự tin về phong cách riêng. Không lâu trước khi y bắt đầu làm việc tại Rosen Pritchard & Klein, Malcolm đã nghỉ việc ở Ratstar, và cùng với hai người bạn đại học của cậu và Sophie, một người quen của cậu tại trường kiến trúc, mở một công tên Bellcast; nhiệm vụ đầu tiên của họ là sửa chữa chỗ nghỉ tạm của một người bạn của cha mẹ Malcolm. Bellcast thi công phần lớn các công trình dân dụng, nhưng năm ngoái họ đã được nhận giải thưởng cống hiến vì cộng đồng đầu tiên, cho một bảo tàng nhiếp ảnh ở Doha, và Malcolm — cũng như Willem, cũng như chính bản thân y — vắng mặt khỏi thành phố ngày một nhiều hơn và thường xuyên hơn.

“Đừng bao giờ đánh giá thấp tầm quan trọng của việc có cha mẹ giàu có, tôi cho là vậy,” một tên khốn nào đó đã cằn nhằn, đầy chua chát như vậy trong một bữa tiệc của JB khi gã ta nghe được rằng Bellcast đạt giải nhì trong cuộc thi thiết kế đài tưởng niệm các chiến sĩ Nhật và Hoa Kỳ ở Los Angeles, và JB đã quạt gã một trận trước khi y và Willem có cơ hội; hai người bọn họ mỉm cười với nhau qua đầu JB, tự hào về hắn vì đã kịch liệt bảo vệ Malcolm.

Và vì vậy y đã xem, với mỗi một bản thiết kế của phố Greene được điều chỉnh, hành lang hiện ra và rồi biến mất, và căn bếp được mở rộng và rồi thu hẹp lại, và giá sách từ vị trí kéo dài dọc bức tường hướng bắc, nơi không có cửa sổ, sang bức tường hướng nam, và rồi lại quay trở về với phương án cũ. Một trong những bản vẽ đã xóa bỏ hết các bức tường – “Đấy là một căn xép, Judy ạ, và cậu nên tôn trọng tính toàn vẹn của nó,” Malcolm tranh luận với y, nhưng y rất kiên quyết: y cần một phòng ngủ; y cần một cánh cửa mà y có thể đóng vào và khóa lại – và trong những điều khác, Malcolm đã cố gắng bít kín những ô cửa sửa hướng ra phía nam, mà là lý do khiến y lựa chọn mua tầng sáu, và sau đó Malcolm đã thừa nhận rằng đó là một ý tưởng ngu ngốc. Nhưng y thích ngắm nhìn thiết kế của Malcolm, thấy cảm động vì cậu đã bỏ rất nhiều thời gian – nhiều hơn cả y nữa – để suy nghĩ về việc y sẽ sinh hoạt như thế nào. Và giờ đây nó sắp thành hiện thực. Giờ đây y đã có đủ tiền tiết kiệm để Malcolm có thể thỏa mãn ngay cả ý tưởng thiết kế lạ lùng nhất của mình. Giờ đây y đã có đủ tiền để chi trả cho mọi món đồ nội thất mà Malcolm gợi ý cho y, cho mọi tấm thảm và những cái bình hoa.

Những ngày này, y tranh luận với Malcolm về những ý định gần đây của cậu. Lần cuối cùng họ xem xét bản vẽ, vào ba tháng trước, y nhận thấy một chi tiết bao quanh buồng tắm trong căn phòng ngủ chính mà y không thể xác định được đó là gì. “Đây là cái gì thế?” y hỏi Malcolm.

“Thanh vịn dọc tường,” Malcolm trả lời, nhanh nhảu, như thể nói ra điều đó nhanh hơn sẽ khiến cho nó trở nên ít quan trọng hơn. “Judy, tôi biết cậu định nói gì, nhưng—” Nhưng y đã bắt đầu nghiên cứu bản thiết kế kỹ càng hơn, nhìn vào những ghi chú nhỏ xíu của Malcolm cho phòng tắm, cậu đã thêm tay vịn thép vào cạnh vòi sen cũng như quanh bồn tắm, và trong gian bếp, là nơi mà cậu hạ độ cao của kệ bếp xuống.

“Nhưng tôi không phải ngồi xe lăn,” y nói, mất hết cả tinh thần.

“Nhưng mà Jude,” Malcolm bắt đầu, và rồi dừng lại. Y biết Malcolm muốn nói gì:  Nhưng cậu đã từng ngồi đấy thôi. Và cậu sẽ phải ngồi lại. Nhưng cậu không làm vậy. “Đây là những hướng dẫn tiêu chuẩn của ADA[1],” thay vì vậy cậu nói.

“Mal,” y nói, chán nản vì y cảm thấy khó chịu làm sao. “Tôi hiểu. Nhưng tôi không muốn đây là căn hộ của người què.”

“Sẽ không, Jude ạ. Nó sẽ là nhà của cậu. Nhưng cậu không nghĩ là, có lẽ, chỉ là một sự đề phòng mà thôi—”

“Không, Malcolm. Bỏ chúng đi. Ý tôi là vậy đấy.”

“Nhưng cậu không nghĩ rằng, chỉ là một vấn đề thực tế—”

Giờ thì cậu lại quan tâm đến vấn đề thực tế? Kẻ muốn tôi sống trong một không gian rộng năm nghìn phút vuông mà không hề có lấy một bức tường?” Y dừng lại. “Tôi xin lỗi, Mal.”

“Được rồi, Jude,” Malcolm nói. “Tôi hiểu mà. Tôi sẽ làm theo lời cậu.”

Giờ thì, Malcolm đang đứng trước mặt y, cười toe toét. “Tôi có thứ này muốn cho cậu xem,” cậu nói, vung vẩy cuộn giấy trong tay mình.

“Malcolm, cảm ơn cậu,” y nói. “Nhưng mình có thể xem nó sau được không?” Y có hẹn với người thợ may; y không muốn trễ giờ.

“Sẽ nhanh thôi,” Malcolm nói, “và tôi sẽ để lại nó ở chỗ cậu.” Cậu ngồi xuống cạnh y và mở cuộn giấy ra, đưa một đầu cho y giữ, giải thích cho y về những thay đổi và điều chỉnh. “Quầy bếp sẽ được điều chỉnh về độ cao bình thường,” Malcolm nói, chỉ vào phòng bếp. “Không còn thanh vịn dọc tường ở khu vực vòi hoa sen, nhưng tôi sẽ làm cho cậu một cái gờ để cậu có thể ngồi xuống, chỉ để dự phòng thôi. Tôi thề là nó nom rất đẹp. Tôi vẫn giữ lại thanh vịn cạnh bồn cầu – cậu hãy cân nhắc về điều này, có được không? Tôi sẽ lắp đặt nó sau cùng, và nếu như mà cậu thực sự, thực sự ghét nó, thì tôi sẽ bỏ nó đi, nhưng … nhưng tôi sẽ làm thế, Judy.” Y gật đầu, đầy miễn cưỡng. Y không biết rằng, mãi nhiều năm sau này, y sẽ thấy biết ơn rằng Malcolm đã chuẩn bị cho tương lai của y, cho dù y không hề muốn vậy: y sẽ nhận thấy rằng trong ngôi nhà của y, các hành lang đều rộng hơn, rằng phòng tắm và nhà bếp đều quá khổ, để xe lăn có thể di chyển tự do, rằng các ô cửa đều rất rộng, rằng ở bất cứ nơi nào có thể, các cánh cửa đều là cửa trượt thay vì xoay, rằng không có tủ gỗ bên dưới bồn rửa mặt trong phòng tắm chính, rằng các ngăn cao nhất trong tủ quần áo có thể được hạ xuống bằng một nút bấm, rằng có một chỗ như ghế ngồi trong bồn tắm, và, cuối cùng, rằng Malcolm đã thắng trong cuộc tranh cãi về thanh vịn dọc tường quanh nhà vệ sinh. Y sẽ cảm thấy đôi chút ngạc nhiên cay đắng rằng những người khác trong cuộc đời y – Andy, Willem, Richard, và giờ là Malcolm — đã thấy trước được tương lai của y, và biết đó là điều không thể tránh khỏi.

Sau cuộc hẹn của họ, nơi mà Malcolm đặt may một bộ vét màu xanh dương và một bộ màu xám đậm, và là nơi mà Franklin, người thợ may, chào y và hỏi rằng tại sao ông lại không được gặp y suốt hai năm qua — “Tôi khá chắc chắn rằng đấy là lỗi của tôi,” Malcolm trả lời, mỉm cười — họ dùng bữa trưa. Thật thích khi được nghỉ ngày Chủ nhật, y nghĩ, khi họ uống nước chanh hoa hồng và ăn món súp lơ nướng với za’atar[2] ở một nhà hàng Israeli đông đúc gần cửa tiệm của Franklin. Malcolm rất hào hứng với việc bắt tay vào sửa sang ngôi nhà, và cả y nữa, cũng vậy. “Đây đúng là thời điểm hoàn hảo,” Malcolm nói đi nói lại. “Tôi sẽ để văn phòng nộp tất cả mọi thứ cho thành phố vào thứ Hai, và khi được phê duyệt, tôi sẽ hoàn thành xong dự án ở Doha và có thể bắt đầu ngay lập tức, và cậu có thể sang ở với Willem trong thời gian xây dựng.” Malcolm vừa mới hoàn tất phần việc cuối cùng ở căn hộ của Willem, mà y tham gia vào việc giám sát còn nhiều hơn cả Willem nữa; vào gia đoạn cuối, y chọn màu sơn thay Willem. Malcolm đã làm một công việc tuyệt vời, y nghĩ; y sẽ không ngại ở lại đó vào năm sau.

Vẫn còn sớm khi họ ăn xong, và họ nấn ná lại trên vỉa hè bên ngoài nhà hàng. Tuần trước trời toàn mua, nhưng hôm nay bầu trời xanh trong và y vẫn còn thấy khỏe, và thậm chí có chút bồn chồn, và y hỏi Malcolm có muốn đi dạo một chút hay không. Y có thể thấy Malcolm hơi do dự, đánh mắt dọc cơ thể y để xem khả năng của y đến đâu, nhưng rồi cậu mỉm cười và đồng ý, và hai người bọn họ bắt đầu đi về phía tây, và rồi theo hướng bắc, về Village. Họ vượt qua tòa nhà ở phố Mulberry mà JB từng sống trước khi hắn chuyển đi xa hơn về phía đông, và họ im lặng trong một phút, cả hai người, y biết, đều nghĩ về JB và băn khoăn rằng giờ này hắn đang làm gì, và biết mà đồng thời cũng không biết tại sao hắn lại không trả lời điện thoại, tin nhắn, email của họ và Willem. Ba người bọn họ đã có hàng chục lần nói chuyện với nhau, với Richard, với Ali và với Henry Youngs về việc cần phải làm gì, nhưng với mỗi một nỗ lực mà họ thực hiện nhằm tìm kiếm JB, hắn lại tránh né họ, hoặc chặn đường họ, hoặc phớt lờ họ. “Chúng ta chỉ cần đợi cho tới khi mọi chuyện trở nên tệ hơn,” Richard đã nói vào một lúc nào đó, như thể JB không còn ở trong nhóm của họ nữa, và họ chẳng thể làm gì ngoại trừ việc chờ đợi tới thời điểm hắn sẽ gặp phải cơn khủng hoảng mà bọn họ có thể giải quyết, và họ sẽ có thể nhảy vào cuộc sống của hắn một lần nữa.

“Được rồi, Malcolm, tôi cần phải hỏi cậu,” y nói, khi họ đi dọc con phố Hudson vắng tanh vào cuối tuần, vỉa hè không có cây và vắng bóng người, “cậu có định làm đám cưới với Sophie hay không đây? Tất cả chúng tôi đều muốn biết.”

“Trời ơi, Jude, tôi không biết,” Malcolm bắt đầu, nhưng giọng cậu nghe có vẻ nhẹ nhõm, như thể cậu đã chờ đợi suốt để nghe câu hỏi ấy. Có lẽ đúng là như vậy. Cậu liệt kê những điểm tiêu cực tiềm tàng (việc kết hôn chỉ mang tính thủ tục; nó có cảm giác kéo dài mãi mãi; cậu không thực sự hứng thú với cái ý tưởng về một đám cưới nhưng e là Sophie thì khác; cha mẹ cậu sẽ cố gắng tham gia vào; có điều gì đó về việc dành cả phần đời còn lại của cậu với một kiến trúc sư khiến cậu thấy nản; cậu và Sophie là đồng sáng lập của công ty — nếu có gì đó xảy ra giữa họ, thì chuyện gì sẽ xảy ra với Bellcast đây?) và các điểm tích cực, mà nghe cũng giống như là tiêu cực (nếu cậu không cầu hôn, cậu nghĩ là Sophie sẽ bỏ đi; cha mẹ cậu cứ làm phiền cậu suốt về chuyện này và cậu muốn ngăn họ lại; cậu thật sự yêu Sophie, và biết rằng cậu sẽ không thể làm tốt hơn cô ấy; cậu đã ba mươi tám tuổi rồi, và cảm thấy rằng cậu cần phải làm đó). Khi y nghe Malcolm, y cố không cười: y vẫn luôn thích điều này ở Malcolm, làm sao mà cậu lại quyết đoán như vậy trên những trang giấy và các bản thiết kế của mình, trong khi ở những phần còn lại của cuộc đời mình cậu lại do dự đến thế, và không hề e ngại trước việc chia sẻ thẳng thắn điều đó. Malcolm không bao giờ là người giả vờ rằng mình thật ngầu, hay tự tin, hay nhẹ nhàng hơn so với con người thật của mình, và khi mà họ càng nhiều tuổi hơn, y lại càng trân trọng và ngưỡng mộ cái tính chân thành dễ thương này ở cậu, cái sự tin tưởng tuyệt đối của cậu trước bạn bè mình và ý kiến của họ.

“Cậu nghĩ sao hả Jude?” cuối cùng Malcolm hỏi. “Tôi thực sự muốn nói với cậu về chuyện này. Chúng mình có nên ngồi xuống đâu đó không? Cậu có thời gian không? Tôi biết Willem đang trên đường về nhà.”

Y có thể giống như Malcolm hơn, y nghĩ; y có thể hỏi xin sự giúp đỡ của các bạn y, y có thể trở nên yếu đuối bên họ. Rốt cuộc, y cũng đã từng như vậy trước đây; chẳng qua đó không phải là một lựa chọn. Nhưng họ vẫn luôn tử tế với y, họ không bao giờ cố gắng khiến y cảm thấy ngại – chẳng lẽ nó lại không dạy cho y điều gì hay sao? Có lẽ, ví dụ, y sẽ hỏi Willem rằng liệu anh có thể giúp đỡ y với cái lưng của y hay không: nếu như Willem thấy chán ghét với những gì anh nhìn thấy, thì anh cũng không bao giờ nói ra. Và Andy đã đúng — thật quá khó để y có thể tự mình bôi kem, và cuối cùng y đã phải dừng lại, cho dù y chẳng hề vứt hộp kem đi.

Y cố gắng suy nghĩ đến việc làm cách nào để mở lời với Willem, nhưng y nhận ra y không thể đi xa hơn từ đầu tiên — Willem — dù chỉ là trong tâm trí y. Và vào thời điểm ấy, y biết rằng y sẽ không thể nói với Willem: Không phải là tôi không tin cậu, y nói với Willem, với người mà y sẽ không bao giờ có cuộc nói chuyện kiểu này. Mà bởi vì tôi không thể chịu nổi việc cậu nhìn thấy con người thật của tôi. Giờ đây khi y hình dung bản thân mình như một người già, y vẫn cô độc, nhưng ở trên phố Greene, và trong những suy nghĩ mông lung này, y nhìn thấy Willem ở trong một ngôi nhà ở một nơi nào đó toàn màu xanh và những cái cây – tại Adirondacks, tại Berkshires — và Willem thì hạnh phúc, anh được vây quanh bởi những người yêu thương anh, và có lẽ là một vài lần trong năm anh sẽ vào thành phố để thăm y ở phố Greene, và họ sẽ dành cho nhau một buổi chiều. Trong những giấc mơ ấy, y luôn luôn ngồi, nên y không biết liệu y còn có thể đi lại được hay không, nhưng y biết rằng y rất vui vì được thấy Willem, luôn luôn, và rằng vào cuối những cuộc gặp gỡ của họ, y có thể nói với anh rằng đừng lo lắng, rằng y có thể tự chăm sóc cho mình, đưa ra sự cam đoan ấy như một lời chúc phúc, hài lòng rằng y có đủ sức mạnh để không làm hỏng cuộc sống điền viên của Willem với những nhu cầu, nỗi cô đơn, và mong muốn của y.

Nhưng điều đó, y nhắc nhở bản thân, là tương lai của rất nhiều năm nữa. Còn lúc này có Malcolm ở đây, và khuôn mặt tràn đầy hi vọng và lo lắng của cậu, đợi câu trả lời của y.

“Cậu ấy không về trước khi trời tối đâu,” y bảo Malcolm. “Mình có cả một buổi chiều, Mal ạ. Tôi có đủ thời gian như cậu cần.”

 


[1] ADA: Americans with Disabilities Act of 1990 (US)

 

[2] Za’atar (tiếng Ả Rập: زَعْتَر‎) là tên gọi chung của một họ loài rau thơm của vùng Trung Đông từ các chi Origanum (oregano, Calamintha (basil thyme), thymus (thường gọi là cỏ xạ hương) và Satureja (savory). Tên gọi Za’atar phần lớn để chỉ Origanum syriacum, loài mà nhiều người coi là cây bài hương. Đây còn là tên một gia vị làm từ các loại thảo mộc khô trộn với vừng, hạt thù du khô, muối cũng như những loại gia vị khác. Bên cạnh việc sử dụng trong Ẩm thực Ả Rập, hỗn hợp thảo mộc và gia vị này còn phổ biến khắp Trung Đông.