schoolkrasnov_Bo_BNvHgOwb

 

 

CHƯƠNG 2 (tiếp)

 

 

Hãng luật khuyến khích các luật sư của mình hoạt động vì cộng đồng, và y xung phong vào một tổ chức phi lợi nhuận thực hiện tư vấn pháp lý miễn phí cho các nghệ sĩ. Tổ chức này duy trì thứ mà họ gọi là “giờ studio” vào mỗi chiều và tối, khi các nghệ sĩ có thể ghé qua và hỏi ý kiến luật sư, và mỗi tối thứ Tư y lại nghỉ việc sớm, vào lúc bảy giờ, và ngồi trên nền nhà kêu kẽo kẹt của văn phòng nhóm đặt trên phố Broome ở khu SoHo trong ba giờ đồng hồ, giúp các nhà xuất bản chuyên luận cấp tiến nhỏ muốn được thành lập như một thực thể phi lợi nhuận, và các họa sĩ với các vụ tranh tụng về quyền sở hữu trí tuệ, và các nhóm nhảy, các nhiếp ảnh gia, các nhà văn, và các nhà làm phim với những bản hợp đồng quá thiên về pháp lý (y được giới thiệu với một người ghi chép trên một tờ giấy ăn với một chiếc bút chì) mà chúng trở nên phức tạp một cách vô nghĩa hoặc không cần thiết đến mức các họa sĩ không hiểu được chúng – y hầu như cũng không hiểu được chúng – và dù sao cũng đã ký tên lên đó.

Harold cũng không thực sự hài lòng với hoạt động tình nguyện của y; y có thể nói rằng ông nghĩ nó thật phù phiếm. “Mấy nghệ sĩ ấy có thật sự giỏi không?” Harold hỏi. “Có thể là không,” y trả lời. Nhưng đánh giá các nghệ sĩ ấy có giỏi hay không không phải là việc của y – đó là việc của người khác, rất nhiều những người khác, đã làm sẵn cái việc ấy rồi. Y chỉ ở đó để cung cấp sự giúp đỡ thiết thực mà rất ít người trong số họ có được, vì nhiều người trong bọn họ sống trong một thế giới ngơ điếc trước các vấn đề thực tế. Y biết đó là việc viển vông, nhưng y ngưỡng mộ họ: y ngưỡng mộ bất cứ ai có thể sống hết năm này qua năm khác chỉ dựa trên những niềm hy vọng cháy bỏng, kể cả khi họ đã già đi và vô danh hơn mỗi ngày. Và, cũng không kém phần viển vông, y nghĩ về thời gian mà mình dành cho tổ chức này như là một lời chào dành cho các bạn y, tới tất cả những ai đang sống theo kiểu sống mà khiến y kinh ngạc: y xem họ thành công như vậy, và y tự hào về họ. Không như y, họ không có con đường rõ ràng nào để đi theo, và dầu vậy họ vẫn cứ bướng bỉnh tiến về phía trước. Họ bỏ ra những tháng năm của mình để tạo nên những điều đẹp đẽ.

Richard bạn y nằm trong ban lãnh đạo của tổ chức, và vào một số ngày thứ Tư anh sẽ ghé qua đó trên đường về nhà – gần đây anh mới vừa dọn tới SoHo – và ngồi đó và nói chuyện với y nếu như y có đang rảnh, hoặc chỉ để vẫy tay chào từ đầu bên kia căn phòng nếu y đang bận việc với khách hàng. Một tối nọ sau giờ tư vấn, Richard mời y tới nhà anh để làm một ly, và họ đi bộ dọc theo hướng tây của con phố Broome, qua Centre, và Lafayette, và Crosby, và Broadway, và Mercer, trước khi rẽ sang hướng nam về phố Greene. Richard sống trong một tòa nhà hẹp, những phiến đá lát đã xỉn thành màu bồ hóng, với một cánh cánh cửa garage cao ngất nằm ở tầng trệt và, ngay bên phải, là cánh cửa sắt với ô cửa sổ bằng kính có kích cỡ của khuôn mặt người nằm phía trên. Không có tiền sảnh, nhưng có một hành lang xám xịt, lát đá được thắp sáng bởi ba bóng đèn trần treo lủng lẳng trên dây điện. Cái hành lang rẽ sang bên phải và dẫn tới một cái thang máy công nghiệp nom như một cái xà lim, có kích cỡ ngang với diện tích của căn phòng khách và buồng ngủ của Willem ở ngôi nhà của họ trên phố Lispenard cộng lại, với một cái cửa kéo run rẩy đóng rầm lại khi nhấn nút, mà chạy thật êm lên cao trong một cái ống được xây bằng gạch. Ở tầng thứ ba, chiếc thang máy dừng lại, và Richard mở cái lồng ra và tra chìa khóa vào một cánh cửa thép đồ sộ, xấu xí ở ngay trước mặt họ, mở ra căn hộ của anh.

“Chúa ơi,” y thốt lên, bước vào bên trong, trong lúc Richard bật đèn lên. Sàn nhà được lát bằng gỗ trắng, và các bức tường cũng mang màu trắng. Trên đầu y, trần nhà  lấp lánh và tỏa sáng với với vô số đèn chùm – cũ, thủy tinh, mới, bằng thép – được treo cứ mỗi khoảng ba phút, với độ cao không đều nhau, thành ra khi họ đi sâu hơn vào trong căn gác, y có thể cảm thấy các hạt thủy tinh lướt qua đầu y, và Richard, người thậm chí còn cao hơn cả y, phải cúi xuống để chúng khỏi quệt vào trán anh. Không có  những vách ngăn, nhưng gần cuối là không gian hình hộp hẹp, không có giá đỡ bằng kính, cao và rộng ngang cánh cửa trước, và khi y tiến tới gần hơn, y có thể nhìn thấy bên trong nó là một sáp ong khổng lồ duyên dáng như một mảnh san hô hình quạt. Phía sau chiếc hộp kính là một tấm nệm phủ chăn, và phía trước nó là một tấm thảm Berber màu trắng xù xì, những mặt kính lấp lánh dưới ánh đèn, và một chiếc ghế tràng kỷ bọc nệm len màu trắng và chiếc TV, một ốc đảo lạ kỳ của đời sống riêng tư giữa quá nhiều sự khô khan. Đó là căn hộ lớn nhất mà y từng đặt chân tới.

“Nó không phải là đồ thật,” Richard giải thích, khi thấy y nhìn vào cái sáp ong. “Tôi làm ra nó từ sáp.”

“Thật đẹp,” y nói, và Richard gật đầu cảm ơn.

“Đi nào,” anh nói, “tôi sẽ đưa cậu tham quan ngôi nhà.”

Anh đưa cho y một chai bia và rồi mở ra một cánh cửa nằm ngay gần tủ lạnh. “Cầu thang thoát hiểm,” anh nói. “Tôi thích chúng. Chúng – chúng giống như chiếc cầu thang dẫn tới địa ngục, cậu biết đấy?”

“Đúng vậy,” y đồng tình, nhìn về cánh cửa, nơi cầu thang có vẻ như biến mất vào bóng tối. Và rồi y lùi lại, bỗng nhiên thấy lo lắng và cảm thấy thật ngớ ngẩn vì thế, và Richard, dường như không để ý, đóng cánh cửa và chốt nó lại.

Họ đi thang máy xuống tầng hai và bước vào studio của Richard, và Richard cho y xem tác phẩm anh đang thực hiện. “Tôi gọi chúng là sự xuyên tạc,” anh nói, và để y cầm thứ mà y cho là một cành bạch dương trắng nhưng thực ra lại được làm từ đất nung, và rồi một hòn đá, tròn và nhẵn và nhẹ tênh, mà được đẽo từ tro và máy tiện – tạo nên cảm giác chắc và nặng, và một bộ xương của loài chim được tạo thành từ hàng trăm mảnh sứ nhỏ. Chia đôi chiều dài không gian là một hàng bảy chiếc hộp kính, nhỏ hơn so với cái ở trên lầu đựng cái tổ ong bằng sáp nhưng mỗi hộp vẫn to bằng một cánh cửa sổ, và mỗi một chiếc hộp đều đựng một khối lởm chởm, vỡ vụn của thứ vật chất buồn nôn màu vàng đậm nửa giống như cao su, nửa giống với thịt người. “Đây mới là sáp ong thật, hoặc đã từng là,” Richard giải thích. “Tôi để lũ bọ làm việc trên chúng một thời gian, và rồi tôi thả lũ bọ ra. Mỗi một tác phẩm này đều được đặt tên theo thời gian chúng bị chưng dụng, hay trong bao lâu chúng thực sự trở thành một ngôi nhà và một nơi trú ẩn.”

Họ ngồi trên những chiếc ghế xoay bằng da mà Richard dùng để làm việc và uống bia và nói chuyện: về tác phẩm của Richard, và về cuộc triển lãm sắp tới của anh, cuộc triển lãm thứ hai, sẽ được mở trong sáu tháng nữa, và về những bức họa mới của JB.

“Cậu vẫn chưa thấy chúng, đúng không?” Richard hỏi. “Tôi có ghé qua xưởng vẽ của cậu ấy vào hai tuần trước, và chúng thực sự rất đẹp, những tác phẩm hay nhất của cậu ta.” Anh mỉm cười với y. “Có nhiều tranh vẽ cậu lắm, cậu biết đấy.”

“Tôi biết,” y trả lời, cố gắng để không tỏ ra khó chịu. “Thế, Richard này,” y nói, thay đổi đề tài câu chuyện, “anh tìm được chỗ này như thế nào? Nó tuyệt quá.”

“Nó là của tôi.”

“Thật ư? Anh sở hữu nó à? Tôi rất ấn tượng đấy; anh trưởng thành thật đấy.”

Richard bật cười. “Không, tòa nhà này – thuộc về tôi.” Anh giải thích: ông bà anh có một công ty xuất nhập khẩu, và khi cha và cô của anh còn trẻ, họ đã mua mười sáu tòa nhà ở trung tâm hành phố, tất cả đều là những nhà máy cũ, để chứa hàng: sáu cái ở khu SoHo, sáu cái ở TriBeCa, và bốn ở Chinatown. Khi bốn người cháu tròn ba mươi tuổi, họ sẽ được nhận một tòa nhà. Khi họ bước sang tuổi ba mươi nhăm – như Richard vào năm ngoái — họ sẽ được thêm một tòa nhà khác. Và khi bước sang tuổi bốn mươi, họ sẽ được nhận tòa nhà thứ ba. Họ sẽ có được tòa nhà cuối cùng khi bước sang tuổi năm mươi.

“Anh có được chọn không?” y hỏi, cảm thấy một sự pha trộn đặc biệt giữa choáng váng và khó tin bất cứ khi nào y nghe thấy những câu chuyện kiểu này: bởi cả sự giàu có như vậy có thể tồn tại và có thể được bàn luận như một câu chuyện thường nhật, và rằng một người mà y quen biết từ lâu có thể có được điều đó. Chúng chính là lời nhắc nhở về việc y đôi khi vẫn còn ngây thơ và đơn giản đến nhường nào – y chẳng bao giờ có thể hình dung ra nổi sự giàu sang như vậy, y chẳng bao giờ có thể tưởng tượng nổi y quen biết một người giàu có nhường ấy. Ngay cả trong những năm gần đây, ngay cả trong những năm y sống ở New York và, đặc biệt là, khi công việc của y đã dạy y khác đi, y vẫn chẳng thể tưởng tượng được rằng những kẻ giàu có không giống như Ezra hay Richard hay Malcolm mà là như những gì được miêu tả trong những mẩu truyện tranh, trong những bức biếm họa: những lão già, thò đầu ra ngoài ô cửa sổ xe hơi màu đen với những ngón tay béo múp và chiếc áo lông lộng lẫy và cái đầu hói bóng loáng, với một cô vợ gầy gò mảnh dẻ và dinh thự to đùng với nền nhà sáng bóng.

“Không,” Richard cười toe toét, “họ cho chúng tôi tòa nhà mà họ nghĩ rằng nó hợp với tính cách của chúng tôi. Ông anh họ cáu kỉnh của tôi được một tòa nhà nằm ở đường Franklin từng được sử dụng để trữ giấm.”

Y bật cười. “Thế còn nơi này từng được dùng vào việc gì?”

“Tôi sẽ cho cậu thấy.”

Và rồi họ quay lại thang máy, lên tầng thứ tư, nơi mà Richard mở cửa ra và bật đèn lên, và họ đối mặt với những kệ hàng xếp chồng lên nhau, lên tới tận trần nhà, mà y nghĩ là những viên gạch. “Nhưng không chỉ có gạch thôi đâu,” Richard nói, “đó là gạch trang trí màu nâu đỏ, được nhập khẩu từ Umbria.” Anh nhặt lên một viên từ một tấm nâng hàng dang dở và đưa nó cho y, và y lật viên gạch lại, nó được tráng một lớp men mỏng màu xanh lá cây, nằm trong tay y, y di lòng bày tay dọc theo phần phồng lên của nó. “Tầng năm và tầng sáu cũng cất đầy những thứ này,” Richard nói, “chúng đang được bán cho một nhà bán buôn ở Chicago, và rồi những tầng này sẽ được dọn sạch.” Anh mỉm cười. “Giờ thì cậu biết tại sao tôi lại có một cái thang máy rất tốt ở đây rồi đấy.”

Họ quay trở lại căn hộ của Richard, vượt qua khu vườn treo đèn chùm, và Richard đưa cho y một chai bia khác. “Nghe này,” anh nói, “tôi cần nói với cậu một việc quan trọng.”

“Anh nói đi,” y trả lời, đặt chai bia xuống bàn và nghiêng người về phía trước.

“Những viên gạch có thể sẽ được chuyển ra khỏi đây vào cuối năm,” Richard nói. “Tầng năm và tầng sáu được thiết kế hệt như thế này – mặt tường lát gạch ở cùng một vị trí, ba phòng tắm – và câu hỏi ở đây là cậu có muốn một tầng hay không.”

“Richard,” y nói, “tôi thích lắm. Nhưng anh sẽ lấy bao nhiêu?”

“Tôi không nói về việc thuê nó, Jude ạ,” Richard trả lời. “Tôi nói về việc mua nó.” Richard đã nói chuyện với cha của anh, người là luật sư của ông nội anh: họ đã biến đổi tòa nhà này thành một công ty liên doanh, và anh sẽ mua một số cổ phần nhất định. Điều duy nhất mà gia đình Richard yêu cầu là anh hoặc người thừa kế của anh cho họ quyền mua lại căn hộ từ anh đầu tiên nếu anh quyết định bán nó đi. Họ sẽ đưa ra một mức giá hợp lý, và y sẽ trả tiền thuê nhà hàng tháng cho Richard và sẽ được gộp vào tiền mua nhà của y. Nhà Goldfarb từng thực hiện điều này trước đó – cô bồ của ông anh họ cáu kỉnh của anh đã mua một tầng trong khu nhà trữ giấm một năm trước – và mọi việc vẫn tiến hành thuận lợi. Hình như, họ còn được miễn trừ một ít thuế nếu như họ chuyển đổi mỗi tòa nhà của mình thành công ty liên doanh hai thành viên, và vì thế cha của Richard đang cố gắng để tất cả các cháu của mình làm vậy.

“Tại sao anh lại làm điều này?” y hỏi Richard, thật khẽ, một khi y đã bình tĩnh lại. “Tại sao lại là tôi?”

Richard nhún vai. “Ở đây một mình buồn lắm,” anh nói. “Không phải lúc nào tôi cũng ghé qua đây. Nhưng đôi khi thật tốt khi biết rằng còn có một sinh vật khác đang sống trong tòa nhà này. Và cậu là người bạn có trách nhiệm nhất của tôi, mà cũng chẳng phải là có nhiều sự cạnh tranh cho cái danh hiệu này cho cam. Và tôi thích cậu. Ngoài ra—” Anh dừng lại. “Cậu hứa là sẽ không giận nhé.”

“Ôi trời,” y nói. “Tôi hứa.”

“Willem đã kể tôi nghe về chuyện kia, cậu biết đấy, khi cậu cố lên lầu năm ngoái và cái thang máy bị hỏng ấy. Chuyện đó chẳng có gì mà phải xấu hổ cả, Jude ạ. Cậu ấy chỉ lo lắng cho cậu thôi. Tôi bảo với cậu ấy rằng tôi sẽ hỏi cậu về việc này, và cậu ấy đã nghĩ – cậu ấy nghĩ – đây là nơi mà cậu có thể sống lâu dài: mãi mãi. Và thang máy ở đây thì không bao giờ hỏng. Và nếu có, thì tôi cũng ở ngay tầng dưới. Ý tôi là – dĩ nhiên, cậu cũng có thể mua nhà ở nơi khác, nhưng tôi mong rằng cậu sẽ cân nhắc tới việc dọn về đây.”

Lúc ấy y không hề cảm thấy giận dữ mà là bị phơi bày: không chỉ trước Richard mà còn trước cả Willem. Y đã cố gắng che giấu nhiều nhất có thể trước Willem, không phải bởi vì y không tin tưởng anh mà bởi vì y không muốn Willem coi y như là một người kém cỏi, như là một ai đó cần phải được quan tâm và giúp đỡ. Y muốn Willem, muốn tất cả bọn họ, nghĩ về y như một kẻ đáng tin cậy và khỏe mạnh, một kẻ mà họ có thể tìm đến với những vấn đề của mình, thay vì việc y luôn phải tìm tới họ. Y thấy xấu hổ, khi nghĩ đến những cuộc nói chuyện về y – giữa Willem và Andy, và giữa Willem với Harold (mà y chắc chắn là diễn ra nhiều hơn so với mức mà y e sợ), và giờ đây là giữa Willem với Richard — và cũng thấy buồn nữa khi Willem mất quá nhiều thời gian để lo lắng cho y, rằng anh phải nghĩ về y theo cái cách mà anh phải nghĩ về Hemming, nếu như mà Hemming còn sống: như một kẻ cần được chăm sóc, như một kẻ cần được quyết định thay. Y lại thấy hình ảnh của chính mình khi về già: Liệu đó có phải cũng là tầm nhìn của Willem, rằng hai người bạn họ cùng có chung một nỗi sợ hãi, rằng kết cục của y trong mắt Willem dường như cũng là thứ không thể tránh khỏi giống như những gì y nghĩ về mình?

Rồi, y nghĩ về một cuộc nói chuyện y từng có với Willem và Philippa; Philippa đang nói về việc một ngày nào đó, khi cô và Willem đã già, họ sẽ sống trong căn nhà và vườn cây của cha mẹ cô ở miền nam Vermont. “Tôi có thể thấy nó ngay lúc này,” cô nói. “Bọn trẻ sẽ phải quay về sống với chúng tôi, bởi vì chúng không thể xoay xở trong thế giới thực, và chúng sẽ có sáu đứa con với những cái tên như Bom Phá và Cà Rốt và Chồn, chúng sẽ cởi chuồng và chạy nhông nhông và sẽ không được đưa đến trường, và Willem và tôi sẽ phải bảo trợ chúng cho tới cuối đời—”

“Các con cậu sẽ làm gì?” y hỏi, thực tế ngay cả lúc đang đùa.

“Oberon sẽ thực hiện các tác phẩm nghệ thuật chỉ sử dụng các sản phẩm thực phẩm, và Miranda sẽ chơi đàn tam thập lục với bộ dây đàn làm bằng những sợi chỉ,” Philippa nói, và y mỉm cười. “Chúng sẽ đi học mãi mãi, và Willem sẽ phải tiếp tục làm việc cho tới khi anh ấy kiệt sức đến mức tôi phải đẩy anh ấy bằng xe lăn” – cô dừng lại, đỏ mặt, nhưng tiếp tục sau khi tạm ngừng một chút – “để chi trả cho mọi bằng cấp và thí nghiệm của chúng. Tôi sẽ phải từ bỏ công việc thiết kế phục trang và mở một công ty sản xuất nước sốt táo hữu cơ để thanh toán các khoản nợ của chúng tôi và duy trì ngôi nhà, mà sẽ là một cái xác tàu khổng lồ, thật lộng lẫy với lũ mối ở khắp mọi nơi, và chúng tôi sẽ có một chiếc bàn ăn bằng gỗ lớn, đầy sứt sẹo nhưng đủ chỗ cho cả mười hai người chúng tôi.”

“Mười ba,” bỗng nhiên Willem thêm vào.

“Tại sao lại là mười ba?”

“Bởi vì — Jude sẽ sống cùng với chúng mình.”

“Ô, tôi ư?” y hỏi nhẹ nhàng, nhưng hài lòng, và nhẹ nhõm, khi được đưa vào mộng cảnh lúc xế chiều của Willem.

“Tất nhiên. Cậu sẽ có nhà nghỉ dành cho khách, và mỗi sáng Bom Phá sẽ mang cho cậu món bánh quế kiều mạch bởi vì cậu quá ốm để ăn cùng chúng tôi ở bàn chính, và rồi sau bữa sáng tôi sẽ tới thăm cậu và trốn khỏi Oberon và Miranda, những đứa muốn tôi đưa ra mấy lời nhận xét thông minh và khuyến khích về những nỗ lực mới đây nhất của chúng.” Willem cười toe toét với y, và y cười đáp lại, dù y có thể thấy rằng bản thân Philippa không còn cười nữa, mà nhìn chằm chằm vào chiếc bàn. Rồi cô nhìn lên, và mắt họ gặp nhau trong một nửa giây, và cô lập tức quay mặt đi.

Ngay sau đó, y nghĩ, thái độ của Philippa đối với y đã thay đổi. Trừ y ra, nó không hề rõ ràng đối với những người khác – có lẽ là ngay cả với cô ấy nữa – nhưng tại nơi mà y từng bước vào nhà và thấy cô ngồi phác họa bên bàn và hai người bọn họ có thể nói chuyện, một cách thân mật, trong lúc y uống một ly nước và xem cô vẽ, thì giờ đây cô chỉ gật đầu với y và nói rằng, “Willem vừa chạy ra ngoài mua đồ,” hay “Anh ấy sẽ quay về ngay,” cho dù y không hề hỏi (cô luôn được chào đón ở phố Lispenard, dù Willem có ở đó hay không), và y sẽ nán lại đôi chút cho tới khi đã rõ là cô không muốn nói chuyện, và rồi rút về phòng mình để làm việc.

Y hiểu tại sao Philippa bực mình về y: Willem rủ y đi khắp mọi nơi với họ, bao gồm y trong mọi việc, kể cả kế hoạch nghỉ hưu của họ, kể cả trong những mơ mộng của Philippa về tuổi già của họ. Sau đấy, y luôn biết ý mà từ chối lời mời của Willem, ngay cả khi đó là những việc không liên quan đến y và cặp đôi Philippa — nếu họ tham gia một bữa tiệc tại nhà Malcolm mà y cũng được mời, y sẽ rời đi một mình, và vào Lễ Tạ ơn, y sẽ chắc chắn rằng cũng mời Philippa đến Boston, cho dù cuối cùng cô không tới. Y thậm chí còn cố gắng nói chuyện với Willem về cảm giác của y, để nhắc nhở anh về những gì y chắc chắn là cô đang cảm thấy.

“Cậu không thích cô ấy à?” Willem hỏi y, đầy lo lắng.

“Cậu biết là tôi quý Philippa mà,” y trả lời. “Nhưng mà tôi nghĩ rằng — tôi nghĩ rằng cậu nên ở bên cô ấy nhiều hơn, Willem ạ, chỉ hai người bọn cậu thôi. Cô ấy sẽ thấy khó chịu nếu luôn có cả tôi xuất hiện nữa.”

“Cô ấy đã nói gì với cậu à?”

“Không, Willem ạ, dĩ nhiên là không rồi. Tôi chỉ đoán thế thôi. Từ kinh nghiệm phong phú của tôi về phụ nữ, cậu biết đấy.”

Sau này, khi Willem và Philippa chia tay, y cảm thấy có lỗi như thể y là người bị kết tội duy nhất. Nhưng thậm chí là cả trước đó, y đã băn khoăn rằng, liệu, cả Willem nữa, cũng đã nhận ra rằng không một người bạn gái nghiêm túc nào có thể chịu đựng được sự có mặt thường xuyên của y trong cuộc đời Willem; y tự hỏi rằng liệu Willem có đang cố lên kế hoạch khác cho y hay không, vì vậy cuối cùng y sẽ không sống trong một căn nhà tranh nằm trên phần đất mà một ngày nào đó anh sẽ sở hữu cùng với vợ mình nữa, vì vậy mà y sẽ không trở thành người bạn độc thân đáng buồn của Willem, một sự gợi nhớ vô ích về quãng đời ngây ngô, thiếu chín chắn của anh. Ta sẽ ở một mình, y quyết định. Y sẽ không là kẻ hủy hoại cái cơ hội được hạnh phúc của Willem: y muốn Willem có được khu vườn và ngôi nhà và những đứa cháu và người vợ sẽ ghen tuông với sự bầu bạn và chăm sóc của anh. Y muốn Willem có được mọi thứ mà anh xứng đáng, mọi thứ mà anh mong muốn. Y muốn mỗi ngày của anh đều thoát khỏi lo lắng và bổn phận và trách nhiệm – ngay cả khi những lo lắng và bổn phận và trách nhiệm ấy là dành cho y.

Tuần sau đó, cha của Richard — một người đàn ông cao lớn, dễ chịu, hay cười mà y từng gặp tại buổi triển lãm đầu tiên Richard, vào ba năm trước – gửi cho y bản hợp đồng, mà y nhờ một người bạn cùng lớp tại trường luật, một luật sư bất động sản, cùng xem xét với y, và bản báo cáo kỹ thuật của tòa nhà, mà y đưa cho Malcolm. Giá cả gần như làm y muốn mửa, nhưng người bạn học của y nói rằng y cần phải làm vậy: “Đây là một thỏa thuận không thể tin được, Jude ạ. Cậu sẽ không, không, không bao giờ tìm được một nơi nào với cùng diện tích ấy ở khu đó với mức giá như vậy đâu.” Và sau khi nghiên cứu bản báo cáo, và rồi không gian đó, Malcolm đã nói với y điều tương tự: Mua nó đi.

Vì thế y đã làm vậy. Và mặc dù y và gia đình Goldfarb đã thỏa thuận về tiến trình thanh toán mười năm nhàn nhã, một kế hoạch thuê nhà miễn lãi, y quyết định rằng sẽ thanh toán tiền mua nhà nhanh nhất có thể. Cứ mỗi hai tuần, y lại chuyển một nửa số tiền lương của mình vào tài khoản mua nhà, và một nửa còn lại để dành cho việc tiết kiệm và chi phí sinh hoạt. Y kể cho Harold nghe về việc y chuyển nhà trong một cuộc gọi điện thoại hàng tuần của họ (“Ơn Chúa,” Harold nói: ông chưa bao giờ thích phố Lispenard), nhưng không kể với ông rằng y đã mua nhà, bởi vì y không muốn Harold cảm thấy buộc phải chu cấp tiền cho y. Từ phố Lispenard y chỉ mang theo tấm nệm và cây đèn và một cái bàn và một cái ghế, tất cả những thứ đó được y sắp xếp vào một góc của ngôi nhà mới. Vào ban đêm, y đôi khi sẽ nhìn lên trong lúc làm việc và nghĩ rằng đây quả là một quyết định lố bịch: Làm sao mà y có thể lấp đầy không gian của nhiều chỗ trống đến thế? Làm sao để có cảm giác nơi này thuộc về y? Y nhớ đến Boston, về con phố Hereford, và làm sao mà ở đó, y chỉ dám mơ về một phòng ngủ, về một cánh cửa mà một ngày nào đó y có thể đóng lại. Ngay cả khi y đã tới Washington, làm thư ký cho Sullivan, y đã sống trong phòng khách của một căn hộ một phòng ngủ mà y chia sẻ cùng một trợ lý pháp luật y hiếm khi thấy mặt — phố Lispenard là nơi mà lần đầu tiên trong cuộc đời mình y có được một căn phòng, một căn phòng thật sự với một cái cửa sổ thật sự, hoàn toàn thuộc về y. Nhưng một năm sau khi y chuyển tới phố Greene, Malcolm đã dựng lên các bức tường, và nơi này bắt đầu mang đến cảm giác dễ chịu hơn đôi chút, và một năm sau đó, Willem chuyển vào, và nó càng dễ chịu hơn. Y ít gặp Richard hơn y tưởng — họ vẫn đi lại suốt — nhưng vào các tối Chủ nhật, đôi khi y sẽ xuống xưởng vẽ của anh và giúp anh thực hiện một trong số các dự án của mình, đánh bóng mấy cành cây nhỏ với tờ giấy nhám, hoặc cắt các cuống ra khỏi chiếc lông đuôi công. Xưởng điêu khắc của Richard là nơi mà y sẽ yêu thích nếu còn là một đứa trẻ — mọi nơi đều chứa đựng những thứ kỳ diệu: những cành con và đá cuội và xác bọ khô và lông vũ và những con chim nhồi bông sáng màu và những khối gỗ màu nhạt mang nhiều hình dạng – và đôi khi y ước rằng y được phép bỏ bê công việc của mình và chỉ đơn giản ngồi trên sàn nhà và chơi đùa, là điều mà y thường quá bận rộn để thực hiện khi còn là một cậu bé.