2e61fe69bee0c9df0ae5c9121275da4b

 

 

CHƯƠNG 2

 

 

MỘT SÁNG THỨ BẢY không lâu sau khi y bước sang tuổi ba mươi sáu, y mở mắt ra và trải qua một cảm giác kỳ lạ, tốt đẹp mà đôi khi y có được, cái cảm giác khi mà y nhận ra rằng cuộc đời mình thật sáng sủa. Y tưởng tượng rằng Harold và Julia đang ở Cambridge, hai người họ đang ngái ngủ di chuyển quanh căn bếp, rót cà phê vào những cái cốc đã ố màu và sứt mẻ của mình và rũ đám sương còn vương trên lớp túi nhựa bọc ngoài tờ báo sáng, và, trên trời kia, Willem đang bay về với y từ Cape Town. Y hình dung Malcolm đang ôm chặt Sophie trên chiếc giường ở Brooklyn, và rồi, bởi vì y cảm thấy hi vọng, JB vẫn bình an và ngáy vang trên chiếc giường của hắn ở Lower East Side. Ở đây, trên phố Greene, chiếc lò sưởi tuôn ra những tiếng thở khí. Tấm đra trải giường có mùi của xà phòng và khí trời. Phía trên y kia là chiếc chúc đài treo với những ống dài bằng thép mà Malcolm vừa mới lắp vào một tháng trước. Bên dưới y là nền nhà bằng gỗ màu đen sáng bóng. Cả căn hộ – dường như vẫn là điều không tưởng bởi sự rộng rãi và những khả năng và tiềm năng của nó – thật im ắng, và thuộc về y.

Y duỗi ngón chân về phía cuối giường và rồi gập cong chúng lại về phía cẳng chân mình: không sao cả. Y xoay lưng trên chiếc nệm: không sao cả. Y co đầu gối lên ngang ngực mình: không sao cả. Không có chỗ nào bị đau hết, không có chỗ nào có vẻ bị đau: cơ thể y lại thuộc về y, một thứ sẽ hoạt động vì y bất kể những gì mà y có thể hình dung ra được, mà không hề than vãn hay phá hoại. Y nhắm mắt lại, không phải vì y mệt mỏi mà bởi vì đây là một khoảnh khắc tuyệt vời, và y biết cần tận hưởng nó ra sao.

Những khoảnh khắc như vậy chẳng khi nào kéo dài lâu – đôi khi, tất cả những gì mà y cần phải làm là ngồi dậy, và y sẽ bị nhắc nhớ, như thể là một cái tát vào mặt vậy, rằng cơ thể y sở hữu y, chứ không phải là điều ngược lại – nhưng những năm gần đây, khi mọi việc trở nên tồi tệ hơn, y đã rất cố gắng để từ bỏ cái ý tưởng rằng tình hình của y sẽ được cải thiện, và thay vì thế y cố gắng tập trung vào và biết ơn trước những giây phút được ân xá, bất kỳ khi nào và bất cứ nơi đâu mà cơ thể y lựa chọn ban tặng chúng. Cuối cùng y ngồi dậy, chậm chạp, và rồi đứng lên, cũng chậm chạp như thế. Và cho đến lúc ấy, y vẫn cảm thấy thật tuyệt vời. Một ngày tươi đẹp, y quyết định, và bước vào phòng tắm, vượt qua chiếc xe lăn đang hờn dỗi, một con quỷ xấu xí ủ rũ, nằm một góc trong phòng ngủ của y.

Y sửa soạn xong xuôi và rồi ngồi xuống với đống tài liệu và chờ đợi. Thường thường, y sẽ dành phần lớn ngày thứ Bảy ở văn phòng – điều ấy ít nhất cũng không hề thay đổi kể từ hồi y còn có thể đi bách bộ: ôi, những cuốc đi bộ của y! Là y đó ư, kẻ có thể tự mình bước đi, nhẹ nhàng như một chú dê, lên khu Upper East Side và trở lại nhà, mười một dặm tất cả? – nhưng hôm nay y sẽ gặp Malcolm và đưa cậu tới gặp ông thợ may của y, bởi vì Malcolm sắp kết hôn và cần mua một bộ vét.

Bọn họ không hoàn toàn chắc chắn rằng liệu Malcolm có thật sự kết hôn hay không. Họ nghĩ là cậu sẽ làm vậy. Ba năm qua, cậu và Sophie đã chia tay rồi quay lại, và chia tay, và rồi quay lại với nhau. Nhưng năm ngoái, Malcolm đã nói chuyện với Willem về đám cưới, và liệu Willem có cho rằng đó là một cái thú hay không; và với JB về trang sức, và khi mà đám phụ nữ nói rằng họ không thích kim cương, thì liệu họ có ý đó thật hay không, hay họ chỉ thử lòng anh thôi; và với y về hợp đồng tiền hôn nhân.

Y đã cố gắng hết sức để trả lời các câu hỏi của Malcolm, và rồi cho cậu tên của một người bạn từng học chung với y tại trường luật, một luật sư về hôn nhân. “Ô,” Malcolm thốt lên, rụt người lại, như thể y vừa cho cậu biết tên của một sát thủ chuyên nghiệp vậy. “Tôi không chắc là tôi cần tới nó bây giờ, Jude ạ.”

“Được rồi,” y nói, và lấy lại tấm danh thiếp, mà Malcolm dường như còn chẳng muốn động vào. “À, nếu và khi nào cậu cần, thì cứ bảo tôi nhé.”

Và rồi, một tháng trước, Malcolm hỏi rằng liệu y có thể giúp cậu chọn một bộ vét hay không. “Tôi thậm chí còn chẳng có lấy một bộ, hâm nhỉ?” cậu hỏi. “Theo cậu tôi có nên kiếm lấy một bộ hay không? Cậu có nghĩ rằng tôi nên bắt đầu, tôi chẳng biết nữa, mang vẻ già dặn hơn hay gì đó? Cậu có cho rằng nên làm vậy hay không?”

“Tôi nghĩ là cậu trông rất tuyệt, Mal,” y nói. “Và tôi không cho rằng cậu cần tới bất kỳ sự trợ giúp nào để cải thiện vẻ bề ngoài hết cả. Nhưng nếu cậu cần một bộ vét, dĩ nhiên là tôi rất vui được giúp cậu.”

“Cảm ơn cậu,” Malcolm nói. “Ý của tôi là, tôi nghĩ là tôi nên có một thứ như thế. Cậu biết đấy, chỉ phòng trường hợp cần thôi mà.” Cậu dừng lại. “Mà, tôi không tin được là cậu có thợ may vét riêng cơ đấy.”

Y mỉm cười. “Ông ấy không phải là thợ may vét của tôi đâu.” “Ông ấy chỉ là một người may vét, và tình cờ một vài bộ vét ấy lại thuộc về tôi.”

“Chúa ơi,” Malcolm nói, “Harold đúng là đã tạo ra một con quái vật.”

Y bật cười, vui vẻ. Nhưng y thường cảm thấy như thể một bộ vét là thứ duy nhất sẽ giúp y nom thật bình thường. Trong nhiều tháng y phải ngồi xe lăn, những bộ vét ấy là một cách thuyết phục các khách hàng của y rằng y là kẻ có năng lực và, đồng thời, cũng thuyết phục bản thân y rằng y cũng giống như những người khác, rằng y ít nhất cũng có thể ăn mặc như họ. Y không xem mình là kẻ hão huyền, mà là cẩn trọng: hồi mà y còn nhỏ, những thằng bé trong trại trẻ mồ côi thỉnh thoảng vẫn chơi bóng chày với những thằng bé ở trường học địa phương, những kẻ thường chế giễu chúng, bịt mũi mình mỗi khi chúng đi qua sân bóng. “Đi tắm đi!” chúng sẽ hét lên như vậy. “Chúng mày hôi quá! Hôi quá là là hôi!” Nhưng chúng thực sự đã tắm: chúng bắt buộc phải tắm rửa vào mỗi buổi sáng, đổ thứ sữa tắm nhơn nhớt màu hồng vào lòng bàn tay và khăn rửa mặt và kỳ cọ khắp người trong khi một nhân viên của trại trẻ sẽ đi qua đi lại giữa những hàng vòi hoa sen, quật chiếc khăn tắm mỏng manh vào lưng đứa trẻ nào không làm đúng thao tác, hay quát tháo những đứa kỳ cọ không đủ mạnh. Thậm chí là cho tới tận bây giờ, y vẫn còn hoảng sợ trước sự ghê tởm, trước việc trở nên nhếch nhác, hay bẩn thỉu, hay khó coi. “Mày sẽ luôn xấu xí, nhưng điều đấy không có nghĩa là mày không thể gọn gàng,” Cha Gabriel từng nói với y như vậy, và mặc dù Cha Gabriel đã sai về rất nhiều việc, y biết rằng ông ta đã đúng về điều này.

Malcolm đến và ôm chào y và rồi bắt đầu, như cậu vẫn luôn như vậy, nghiên cứu ngôi nhà của y, vươn cái cổ dài của cậu và xoay chầm chậm quanh căn phòng, mắt cậu sáng như ngọn hải đăng, tạo ra những tiếng động nho nhỏ khi làm vậy.

Y trả là câu hỏi của Malcolm ngay cả trước khi cậu có thể hỏi: “Tháng sau, Mal.”

“Cậu đã nói vậy vào ba tháng trước.”

“Tôi biết. Nhưng bây giờ tôi thực sự có ý như vậy đấy. Giờ thì tôi đã có tiền. Hoặc là tôi sẽ, vào cuối tháng này.”

“Nhưng chúng mình đã bàn việc này rồi mà.”

“Tôi biết. Và Malcolm – cậu quả là vô cùng hào phóng. Nhưng tôi không thể không trả tiền cậu được.”

Y đã sống ở căn hộ này hơn bốn năm nay, và trong suốt bốn năm, y chẳng thể cải tạo nó bởi vì y không có tiền, và y không có tiền là bởi vì y phải trả tiền mua nhà. Trong khi ấy, Malcolm đã vẽ ra các kế hoạch, và xây tường ngăn lại phòng ngủ, và giúp y chọn một cái sofa, mà nằm ngay giữa phòng khách, như một con tàu vũ trụ, và khắc phục một số vấn đề nho nhỏ, bao gồm cả sàn nhà. “Thật là điên rồ,” khi ấy y đã bảo với Malcolm như vậy. “Cậu sẽ phải sửa lại toàn bộ khi việc sửa sang xong xuôi.” Nhưng Malcolm nói rằng dù sao cậu cũng sẽ làm vậy; dù sao màu của nền nhà là một sản phẩm mới mà cậu muốn thử nghiệm, và cho tới khi y đồng ý tiến hành, phố Greene sẽ là phòng thí nghiệm của cậu, nơi mà cậu có thể thực hiện những thử nghiệm nho nhỏ, nếu như y không phiền, (và dĩ nhiên, là y không phiền). Nhưng mặt khác căn hộ vẫn còn rất giống với hồi y mới vừa chuyển đến: một khối hình chữ nhật dài nằm trên tầng sáu của một tòa nhà ở phía nam SoHo, với những ô cửa sổ ở mỗi đầu hồi, một bên mở ra phía tây và một bên hướng về phía đông, cũng như là toàn bộ bức tường nằm ở phía nam, nhìn ra một bãi đỗ xe. Căn phòng của y và buồng tắm nằm ở mặt đông, nhìn xuống nóc của một tòa nhà thấp nằm trên phố Mercer; phòng của Willem — hay là thứ mà y vẫn còn cho là phòng của Willem – nằm ở phía tây, nhìn xuống phố Greene. Căn bếp được đặt ở giữa căn hộ, và căn phòng tắm thứ ba. Và ở giữa các phòng là một khoảng không, sàn nhà có màu đen sáng bóng lên như những phím dương cầm.

Cảm giác thật lạ khi có được quá nhiều không gian, và cả một cảm giác xa lạ khi có thể kham nổi nó. Nhưng mà mày có thể, đôi khi y phải tự nhắc nhở bản thân mình như vậy, như mỗi khi y đứng trong siêu thị, phân vân rằng liệu y có nên mua một lọ ô-liu đen mà y thích, mặn đến mức khiến cho mặt y nhăn lại và chảy nước mắt hay không. Khi y mới chuyển tới thành phố này, đó hẳn là một sự xa xỉ, và y chỉ mua chúng có một lần mỗi tháng, một thìa sáng bóng mỗi lần. Mỗi tối y chỉ ăn có một trái, mút mát phần thịt quả thật chậm rãi khỏi chiếc hạt trong lúc y đọc các bản tóm tắt hồ sơ tố tụng. Mày có thể mua chúng, y tự nhủ. Mày có tiền. Nhưng y vẫn cảm thấy điều này thật khó để mà có thể nhớ ra.

Lý do đằng sau ngôi nhà ở phố Greene, và lọ ô-liu vẫn thường được cất trong tủ lạnh, là công việc của y tại Rosen Pritchard & Klein, một trong những hãng luật quyền lực và tiếng tăm nhất thành phố, nơi mà y là một luật sư tranh tụng và, trong hơn một năm qua, một cộng sự. Năm năm trước, y và Citizen và Rhodes cùng tham gia vào một vụ án có liên quan đến vấn đề gian lận chứng khoán tại một ngân hàng thương mại lớn có tên Thackery Smith, và ngay sau khi vụ án khép lại, y được một người đàn ông có tên Lucien Voigt liên hệ, người mà y biết rằng là trưởng bộ phận tố tụng tại Rosen Pritchard & Klein, và là người đại diện cho Thackery Smith trong vụ thương thuyết.

Voigt mời y đi uống nước. Ông ta cảm thấy ấn tượng trước cách làm việc của y, đặc biệt là ở trên tòa, ông ta nói. Và Thackery Smith cũng vậy. Ông ta đã từng nghe tiếng y trước đây – y và Thẩm phán Sullivan từng cùng nghiên cứu các bộ luật – và đã tìm hiểu về y. Liệu y có bao giờ cân nhắc tới việc rời Văn phòng Luật sư Hoa Kỳ và chuyển sang chiến tuyến bên kia chưa?

Sẽ là nói dối nếu y trả lời rằng chưa từng nghĩ tới. Xung quanh y, mọi người đều đã rời đi. Citizen, y biết, đang đàm phán với một hãng luật quốc tế ở Washington, D.C. Rhodes đang cân nhắc về việc có nên vào làm tại ngân hàng hay không. Bản thân y cũng được hai hãng luật khác tiếp cận, và đều từ chối họ. Họ yêu Văn phòng Luật sư Hoa Kỳ, tất cả bọn họ. Nhưng Citizen và Rhodes đều lớn tuổi hơn y, và Rhodes và vợ anh ấy muốn có con, và họ cần tiền. Tiền, tiền: đôi khi đó là tất cả những gì mà họ nói tới.

Cả y nữa, cũng nghĩ về tiền – thật khó mà không làm vậy. Mỗi lần y trở về nhà sau một bữa tiệc tại nhà bạn bè của JB hay Malcolm, phố Lispenard dường như lại trở nên tồi tàn hơn đôi chút, lại thành ra ít có thể chịu đựng hơn đôi chút. Mỗi khi thang máy bị hỏng và y phải leo cầu thang bộ, và rồi phải ngồi nghỉ trên hành lang, lưng y dựa vào cánh cửa ra vào, trước khi y có đủ sức để mở cửa vào nhà mình, y mơ về việc sống ở một nơi nào đó tiện nghi và đáng tin cậy hơn. Mỗi lần y đứng trên bậc cầu thang của ga tàu điện ngầm, sẵn sàng để leo xuống, nắm lấy tay lan can và gần như thở ra bằng miệng đầy gắng sức, y sẽ ước rằng giá mà y có thể gọi taxi. Và rồi còn có cả những nỗi lo sợ khác, những nỗi sợ lớn hơn: trong những giây phút vô cùng tăm tối của đời y, y hình dung ra việc mình là một lão già, làn da y căng ra như là một tờ giấy da bên khung sườn, vẫn còn sống ở phố Lispenard, dùng khuỷu tay mà bò vào phòng tắm bởi vì y không còn đi được nữa. Trong những giấc mơ, y chỉ có một mình – không hề có những Willem hay JB hay Malcolm hay Andy nào hết, không Harold mà cũng chẳng Julia. Y là một lão già, già khụ, và chẳng có ai ở đó, và chỉ còn có mình y tự lo lấy mình.

“Cậu bao nhiêu tuổi?” Voigt hỏi.

“Ba mươi mốt,” y trả lời.

“Thật trẻ,” Voigt nhận xét, “nhưng cậu sẽ không trẻ mãi. Cậu có thật sự muốn chết già tại Văn phòng Luật sư Hoa Kỳ không? Cậu biết người ta nói gì về trợ lý công tố viên rồi đấy: Những kẻ đã bỏ lại phía sau những năm tháng tốt đẹp nhất của cuộc đời mình.” Ông ta nói về lương lậu, về một con đường chóng vánh tiến tới vị trí cộng sự. “Chỉ cần nói với tôi rằng cậu sẽ cân nhắc về việc này thôi.”

“Tôi sẽ,” y trả lời.

Và y quả có làm như vậy. Y không hề bàn về chuyện này với Citizen hay Rhodes – hay Harold, bởi vì y biết ông sẽ nói gì – nhưng y đã nói chuyện với Willem, và cùng với nhau họ cân nhắc về những lợi ích của công việc này bên cạnh những hạn chế hiển nhiên: giờ làm việc (nhưng y không bao giờ rời khỏi chỗ làm nếu như chưa xong việc, Willem cự lại), sự chán ngán, khả năng cao là y sẽ làm việc với những kẻ chẳng ra gì (nhưng ngoài Citizen và Rhodes ra, y đã sẵn làm việc với những kẻ chẳng ra gì rồi đấy chứ, Willem bày tỏ ý kiến). Và, dĩ nhiên, thực tế rằng giờ đây y sẽ bảo vệ những kẻ mà y đã dành ra sáu năm để truy tố họ: những kẻ gian dối và những kẻ lừa đảo và trộm cướp, những kẻ tự xưng và mạnh miệng giả danh nạn nhân. Y không giống như Harold hay Citizen – y là kẻ thực tế; y biết rằng việc theo đuổi ngành luật có nghĩa là sự hi sinh, hoặc là tiền bạc hoặc là đạo đức, nhưng điều ấy vẫn khiến y khó chịu, sự từ bỏ của những gì mà y biết là chính đáng. Và vì cái gì? Để mà y có thể đảm bảo rằng y sẽ không trở thành lão già ấy, cô đơn và ốm yếu? Đó có vẻ như là sự ích kỷ tệ hại nhất, sự bê tha tồi tệ nhất, để chối bỏ những gì y biết là đúng chỉ đơn giản bởi vì y sợ, bởi vì y sợ sẽ trở nên không thoải mái và khổ sở.

Rồi, hai tuần sau cuộc gặp gỡ với Voigt, y trở về nhà rất muộn vào một tối thứ Sáu nọ. Y mệt rã rời; y buộc phải sử dụng đến chiếc xe lăn vào ngày hôm đó bởi vì vết thương trên chân phải của y trở nên vô cùng đau đớn, và y thấy vô cùng nhẹ nhõm khi được trở về nhà, về lại phố Lispenard, rồi y cảm thấy bản thân mình suy yếu – chỉ trong một vài phút thôi, y sẽ được vào trong nhà, và y sẽ quấn một chiếc khăn ẩm, nóng được hấp bằng lò vi sóng, quanh bắp chân mình và tận hưởng sự thư thái ấm áp. Nhưng khi y cố gắng nhấn nút thang máy, y chẳng nghe được gì ngoài tiếng ken két của bánh răng chuyển động, tiếng rít yếu ớt của máy móc khi bị hỏng.

“Không!” y kêu lên. “Ôi không!” Tiếng của y vang vọng trong hành lang, và y đập tay vào cánh cửa thang máy hết lần này đến lần khác: “Không, không, không!” Y cầm cái cặp táp của mình lên và ném nó xuống sàn, giấy tờ vung vãi cả ra. Quanh y, cả tòa nhà vẫn tiếp tục lặng im và vô vọng.

Cuối cùng y dừng lại, xấu hổ và giận dữ, và nhặt nhạnh giấy tờ và cất lại vào cặp táp. Y nhìn đồng hồ: mười một giờ. Willem đang diễn, Cloud 9, nhưng y biết anh sẽ sớm rời khỏi sân khấu. Nhưng khi y gọi cho anh, Willem không nhấc máy. Và rồi y bắt đầu hoảng hốt. Malcolm đang đi nghỉ ở Hi Lạp. JB đang ở trại sáng tác. Con gái của Andy, Beatrice, vừa mới ra đời tuần trước: y không thể gọi cho anh. Chỉ có từng ấy người y cho phép được giúp đỡ mình, những người mà y cảm thấy tương đối thoải mái khi bám vào họ như một con lười, những người mà y sẽ cho phép họ lôi y lên khắp các bậc thang.

Nhưng vào thời điểm ấy, y lại vô cớ, vô cùng tuyệt vọng muốn được bước vào trong căn hộ. Và y đứng, cắp chiếc cặp táp dưới cánh tay trái của mình và vác chiếc xe lăn, quá đắt đỏ để bỏ lại trên hành lang, với tay bên phải. Y bắt đầu cố gắng leo lên cầu thang, tì phần bên trái cơ thể vào tường, túm lấy chiếc xe lăn bằng một tay quay của nó. Y di chuyển chậm chạp – y phải nhảy lên bằng chân trái của mình, trong khi cố gắng tránh đặt bất kỳ một sức nặng nào lên chân phải, hay để cho chiếc xe lăn va vào vết thương của y. Khi leo lên, y phải dừng lại nghỉ sau mỗi ba bậc thang. Có tới một trăm mười bậc thang kể từ hành lang lên tới tầng năm, và khi lên đến bậc thang thứ năm mươi, y run rẩy lợi hại nên y phải dừng lại và nghỉ trong vòng nửa tiếng. Y gọi đi gọi lại và nhắn tin cho Willem. Trong lần gọi thứ tư, y để lại một tin nhắn mà y mong rằng mình không bao giờ phải để lại: “Willem, tôi thật sự cần giúp đỡ. Làm ơn hãy gọi cho tôi. Làm ơn.” Y mường tượng rằng Willem sẽ gọi lại ngay cho y, nói rằng anh đang trên đường về, nhưng y cứ chờ đợi và chờ đợi và Willem không hề gọi lại, và cuối cùng y lại cố gắng đứng lên.

Theo một cách nào đó, y cũng vào được trong nhà. Nhưng y không thể nhớ được một điều nào khác trong đêm đó; khi y thức dậy vào ngày hôm sau, Willem đang ngủ trên tấm thảm cạnh giường y, và Andy ngủ trên chiếc ghế mà họ hẳn đã kéo vào phòng của y từ phòng khách. Lưỡi y cứng lại, đờ đẫn, buồn nôn, và y biết rằng Andy đã phải tiêm cho y một mũi giảm đau, mà y rất ghét: y sẽ cảm thấy mất phương hướng và bị táo bón trong nhiều ngày.

Khi y tỉnh lại lần nữa, Willem đã đi, nhưng Andy đã thức dậy, và đang nhìn y.

“Jude, cậu phải rời khỏi nơi khốn kiếp này đi,” anh nói, lặng lẽ.

“Tôi biết,” y trả lời.

“Jude, cậu nghĩ cái quái gì thế?” Willem sau đó hỏi y, sau khi anh trở lại từ tiệm tạp hóa và Andy giúp đưa y vào phòng tắm — y không thể tự đi được: Andy phải dìu y -và rồi đưa y trở lại giường, vẫn trong bộ quần áo của ngày hôm trước, và rời đi. Willem đã tham gia một buổi tiệc sau buổi biểu diễn và không nghe thấy tiếng chuống điện thoại reo; khi anh cuối cùng cũng đọc được tin nhắn của y, anh vội vã chạy về nhà và tìm thấy y đang co quắp trên sàn nhà và đã gọi cho Andy. “Tại sao cậu lại không gọi cho Andy? Tại sao cậu lại không ra một nhà hàng nào đó mà ngồi và chờ tôi hả? Tại sao cậu lại không gọi cho Richard? Tại sao cậu lại không gọi Philippa và nhờ cô ấy tìm tôi? Tại sao cậu không gọi cho Citizen, hay Rhodes, hay Eli, hay Phaedra, hay Henry Youngs, hay—”

“Tôi không biết,” y trả lời, khổ sở. Quả thực chẳng thể giải thích được với người khỏe mạnh về thứ logic của người ốm, và y chẳng còn năng lượng nữa để mà cố gắng.

Tuần tiếp theo, y liên hệ với Lucien Voigt và chốt lại các điều khoản về công việc với ông ta. Và sau khi y ký hợp đồng, y gọi cho Harold, người đã yên lặng trong vòng năm giây dài dằng dặc trước khi hít thở thật sâu và bắt đầu.

“Cha chỉ không hiểu, Jude ạ,” ông nói. “Cha không hiểu. Con không bao giờ có vẻ là kẻ ham tiền. Đúng không? Ý của cha là, cha đoán vậy. Con – con đang – có một sự nghiệp tốt đẹp ở Văn phòng Luật sư Hoa Kỳ. Con đang làm công việc có ý nghĩa. Và con từ bỏ tất cả để bảo vệ, những ai đây? Những kẻ phạm tội. Những kẻ tự cho mình đặc quyền, những kẻ chắc chắn rằng họ sẽ không bị tóm rằng việc bị tóm – điều mà họ rất quan tâm – sẽ không bao giờ xảy ra đối với bọn họ. Những kẻ cho rằng luật pháp là để dành cho những người kiếm được ít hơn chín con số mỗi năm. Những kẻ cho rằng luật pháp chỉ được áp dụng dựa trên chủng tộc, hoặc theo khung thuế thu nhập mà thôi.”

Y không nói gì, chỉ để Harold trở nên ngày một kích động hơn, bởi vì y biết rằng Harold đã đúng. Họ chưa bao giờ thẳng thắn nói về điều này, nhưng y biết Harold vẫn luôn cho rằng y sẽ tạo dựng sự nghiệp của mình trong ngành dịch vụ công. Suốt nhiều năm, Harold luôn nói chuyện với một sự thất vọng và buồn bã về những cựu sinh viên tài năng mà ông yêu quý đã từ bỏ công việc của mình – tại Văn phòng Luật sư Hoa Kỳ, tại Bộ Tư pháp, tại các văn phòng luật sư công, các chương trình trợ giúp pháp lý – để đến với các hãng luật tư nhân. “Một xã hội không thể vận hành như nó đáng lý ra nên vận hành trừ phi những con người có đầu óc xuất chúng về luật xem đó như là sứ mệnh của họ,” Harold thường nói, và y vẫn luôn đồng ý với ông. Và giờ y vẫn đồng ý với ông, và vì thế mà y chẳng thể tự biện hộ cho mình.

“Con không có gì muốn nói cho bản thân mình ư?” cuối cùng, Harold hỏi y.

“Con xin lỗi, Harold,” y nói. Harold không nói gì. “Cha rất giận con,” y thì thào.

“Ta không giận, Jude ạ,” Harold nói. “Ta chỉ thất vọng thôi. Con có biết là con đặc biệt như thế nào không? Con có biết là con có thể tạo nên sự khác biệt như thế nào nếu mà con ở lại không? Con có thể trở thành thẩm phán nếu như con muốn – con có thể trở thành một quan tòa vào một ngày nào đó. Nhưng giờ thì con không thể nữa. Giờ thì con sẽ chỉ là một luật sư tranh tụng nào đó trong một hãng luật nào đó, và giờ thì con sẽ chống lại tất cả những điều tốt đẹp mà con từng thực hiện trước đây. Như thế là một sự lãng phí, Jude ạ, một sự lãng phí.”

Y lại im lặng. Y tự lặp lại những lời của Harold với chính mình: Một sự lãng phí, một sự lãng phí. Harold thở dài. “Vậy, mục đích của việc này thực sự là gì?” ông hỏi. “Vì tiền à? Phải không? Tại sao con không nói với ta là con cần tiền, hả Jude? Ta có thể đưa cho con một ít. Tất cả chuyện này là vì tiền ư? Hãy nói cho ta biết là con cần gì, Jude, và ta sẽ rất vui nếu được giúp con.”

“Harold,” y bắt đầu, “cha thật – cha thậ tốt. Nhưng – con không thể.”

“Cứt ạ,” Harold nói, “con sẽ không làm vậy đấy chứ. Ta đang đề nghị với con một cách để con giữ lại công việc của mình, Jude, để không phải nhận một công việc mà con sẽ chán ghét, vì những việc mà con sẽ ghét – và đó không phải là một sự có thể, đấy là sự thật – mà không hề có ngoại lệ hay ràng buộc nào cả. Ta đang nói với con rằng ta rất vui khi được giúp đỡ con về chuyện tiền nong.”

Ôi, Harold, y nghĩ. “Harold,” y nói, khổ sở, “số tiền mà con cần không phải là số tiền mà cha có. Con thề đấy.”

Harold im lặng, và khi ông nói tiếp, giọng của ông nghe khác hẳn. “Jude, con đang gặp phải rắc rối gì hay sao? Con có thể nói với cha, con biết mà. Dù đó có là gì, thì cha cũng sẽ giúp con.”

“Không ạ,” y trả lời, nhưng y chỉ muốn khóc. “Không, Harold, con ổn mà.” Y vòng cánh tay phải của mình quanh bắp chân bị băng bó, với một cơn đau ổn định, thường xuyên.

“Ôi,” Harold nói. “Nhẹ cả người. Nhưng Jude này, con có thể cần nhiều tiền đến thế vì điều gì vậy, ngoài một căn hộ ra, mà Julia và ta sẽ giúp con mua được nó, con có nghe ta nói không thế?”

Đôi khi y nhận thấy mình vừa chán nản vừa kinh ngạc trước khả năng tưởng tượng kém cỏi của Harold: trong tâm trí Harold, con người ta có những bậc cha mẹ luôn tự hào về họ, và tiết kiệm tiền chỉ để mua các căn hộ và đi nghỉ, và hỏi xin những thứ khi mà họ muốn có được chúng; ông dường như không nhận thấy một vũ trụ mà tại đó có những thứ có thể sẽ không được trao đi, mà tại đó không phải bất kỳ ai cũng có cùng một quá khứ và tương lai. Nhưng đó là cái lối suy nghĩ thật hẹp hòi, và thật là hiếm hoi – hầu hết thời gian, y ngưỡng mộ sự lạc quan trước sau như một của Harold, về cái sự bất lực hoặc không sẵn lòng của ông trong việc trở nên hoài nghi, để tìm kiếm sự bất hạnh hay đau khổ trong mọi tình huống. Y thấy yêu sự ngây thơ của Harold, mà càng đáng chú ý hơn trước những gì ông từng giảng dạy và những mất mát của ông. Và làm sao mà y có thể nói với Harold rằng y đang cân nhắc đến một chiếc xe lăn, thứ cần phải được thay thế sau cứ mỗi vài năm, và là thứ mà bảo hiểm không chi trả toàn bộ? Làm sao y có thể nói được với ông rằng Andy, người không tham gia bảo hiểm, chẳng bao giờ thu tiền của y, nhưng có lẽ sẽ muốn làm như vậy vào một ngày nào đó, và nếu như mà anh làm vậy, thì chẳng lẽ y lại không trả tiền cho anh ư? Làm sao mà y có thể nói với ông rằng thời gian gần đây vết thương của y đã vỡ ra, Andy đã nói tới chuyện cho y nhập viện và, có lẽ trong tương lai, phải làm phẫu thuật cắt bỏ? Làm sao y có thể nói được với ông rằng nếu như cái chân của y bị cắt bỏ, thì điều đó có nghĩa là sẽ phải nằm viện, và làm vật lý trị liệu, và lắp chân giả? Làm sao y có thể nói với ông về cuộc phẫu thuật mà y muốn thực hiện cho chiếc lưng của mình, về việc đốt các vết sẹo của y bằng tia laser? Làm sao y có thể nói với Harold về nỗi sợ hãi lớn nhất của y: nỗi cô đơn của y, của việc trở thành một lão già với một ống thông tiểu và một lồng ngực trụi trơ, xương xẩu? Làm sao y có thể nói với Harold rằng y không hề mơ đến việc kết hôn, hay có con, mà là một ngày nào đó y sẽ có đủ tiền để chi trả cho người chăm sóc y nếu như y cần tới, một ai đó sẽ đối xử tử tế với y và chấp nhận sự riêng tư và tự trọng của y? Và rồi, phải, còn có cả những điều mà y muốn nữa: Y muốn sống ở một nơi nào đó mà thang máy có thể hoạt động bình thường. Y muốn sử dụng taxi khi mà y muốn. Y muốn tìm một chốn nào đó riêng tư để có thể bơi, bởi vì sự vận động ấy làm ổn định chiếc lưng của y và bởi vì y không thể đi bách bộ được nữa.

Nhưng y không thể nói với Harold bất kỳ điều nào trong số đó. Y không muốn Harold biết rằng y không hoàn hảo ra sao, rằng y chẳng qua chỉ là một thứ rác rưởi nào đó mà thôi. Và vì thế mà y chẳng nói gì cả, và bảo với Harold rằng y phải đi thôi, và rằng y sẽ nói chuyện với ông sau.

Ngay cả trước khi y báo với Harold, y đã chuẩn bị sẵn để từ chức khỏi công việc mới của mình, không hơn, nhưng đầu tiên là trước sự băn khoăn của y, và rồi là ngạc nhiên, và rồi thích thú, và rồi là một chút chán ghét, khi y nhận ra rằng mình thực sự yêu thích nó. Y đã có kinh nghiệm với các doanh nghiệp dược phẩm khi y còn là một công tố viên, và rất nhiều phần trong công việc ban đầu của y liên quan đến ngành này: y từng làm việc với một công ty đang mở một chi nhánh ở châu Á để phát triển chính sách bài trừ tham nhũng, thường xuyên đi tới Tokyo cùng một cộng sự cấp cao để giải quyết vụ này – đó là một vụ nhỏ, gọn gàng, có thể giải quyết được, và do đó thành ra khác thường. Những vụ khác thì phức tạp hơn, và dài hơi hơn, đôi khi kéo dài lê thê: y chủ yếu làm việc để lập lời biện hộ cho một khách hàng khác của công ty, đấy là một tập đoàn dược phẩm lớn, chống lại Luật Khiếu nại sai. Và ba năm trong cuộc đời y tại Rosen Pritchard & Klein, khi mà công ty quản lý đầu tư mà Rhodes làm việc bị điều tra vì gian lận chứng khoán, họ đã tìm đến y, và đảm bảo mối quan hệ đối tác với y: y đã có kinh nghiệm tại tòa, điều mà hầu hết các cộng sự khác không có được, nhưng cuối cùng y biết rằng y sẽ cần phải mang về một khách hàng, và khách hàng đầu tiên vẫn luôn khó tìm nhất.

Y chưa từng thú nhận điều này với Harold, nhưng y thực sự thích việc điều khiển cuộc điều tra được thúc đẩy bởi những người tố giác, thích nhấn mạnh vào những ranh giới của Đạo luật Chống tham nhũng tại nước ngoài, thích việc có thể kéo giãn pháp luật, như là một sợi giây thun, chỉ để vượt qua điểm căng tự nhiên của nó, chỉ để chỉ ra vị trí mà nó sẽ bắn lại vào anh với một cơn đau nhói. Vào ban ngày y tự nhủ với mình rằng đó là một công việc trí tuệ, rằng công việc của y là một biểu hiện của tính dẻo dai của bản thân pháp luật. Nhưng khi đêm về y đôi khi lại nghĩ đến những điều Harold sẽ nói nếu như y thành thật với ông về những việc y làm, và sẽ lại nghe thấy lời ông: Thật là lãng phí, thật lãng phí. Y đang làm gì thế này?, y sẽ nghĩ vậy vào những giây phút đó. Có phải công việc này đã biến y thành kẻ vụ lợi, hay y vẫn luôn như vậy và chỉ tự cho mình là khác?

Nó vẫn nằm trong sự cho phép của pháp luật, y sẽ tranh luận với Harold-trong-tâm-trí-mình như vậy.

Chỉ bởi vì con có thể làm điều đó thì không có nghĩa là con nên làm như vậy, Harold-trong-tâm-trí-y sẽ đáp lại lời y.

Và quả thực, Harold không hề sai, vì y thấy nhớ Văn phòng Luật sư Hoa Kỳ. Y nhớ việc trở nên chính trực và được bao quanh bởi sự đam mê, bởi bầu nhiệt huyết, bởi sự nỗ lực. Y nhớ Citizen, người đã quay về London, và Marshall, người mà thi thoảng vẫn cùng y làm vài ly, và Rhodes, người mà y gặp gỡ thường xuyên hơn nhưng cũng là người luôn luôn mệt mỏi, và buồn bã, và là người mà y còn nhớ rằng từng luôn vui vẻ và hoạt bát, một người sẽ bật nhạc điện tử tango và khiêu vũ với một cô nàng tưởng tượng quanh căn phòng khi họ ở lại văn phòng đến tối muộn và cảm thấy chóng mặt, chỉ để y và Citizen ngước lên từ máy tính của mình và bật cười. Họ đang già đi, tất cả bọn họ. Y thích Rosen Pritchard, y thích những con người ở đây, nhưng y không bao giờ ngồi lại với họ vào tối muộn để tranh luận về các vụ án và bàn về những cuốn sách: nơi này không phải là dạng văn phòng như thế. Những đồng nghiệp đồng lứa với y có những cô bạn gái hay bạn trai không hài lòng ở nhà (hoặc bản thân họ là những người bạn gái hay bạn trai không vui vẻ gì); những người hơn tuổi y thì đều đã kết hôn. Trong những thời điểm hiếm hoi mà họ không trao đổi về công việc, họ tán gẫu về những lễ đính hôn và mang thai và nhà cửa. Họ không bàn về pháp luật, không phải để vui cười hay bởi sự hăng hái nhiệt tình.