PHẦN III

PHÙ HOA CHUYỆN

***

 

 

d81b8a3e4f7554f346e6cda6478a320f

 

 

CHƯƠNG 1

 

 

BẠN Ở CHUNG KÝ TÚC XÁ Hood của họ vào năm thứ hai đại học là ba cô nàng đồng tính, đều học năm cuối, cùng chơi trong một ban nhạc có tên Backfat và vì một lý do nào đó mà quý JB (và, Jude, và rồi Willem, và cuối cùng là Malcolm, một cách đầy miễn cưỡng). Giờ đây, mười lăm năm sau khi bốn người bọn họ đã tốt nghiệp đại học, hai trong số các cô nàng đồng tính ấy đã kết đôi với nhau và sống ở Brooklyn. Trong bốn người, chỉ có JB là nói chuyện với họ thường xuyên: Marta là một luật sư làm việc phi lợi nhuận vì những người lao động nghèo, và Francesca là nhà chỉ đạo mỹ thuật và dựng cảnh phim.

       “Tin vui đây!” JB thông báo với họ vào một ngày thứ Sáu của tháng Mười trong bữa tối. “Những cô ả Bushwick vừa gọi — Edie đang ở thành phố!” Edie là cô nàng thứ ba trong nhóm đồng tính nữ ba người, một cô nàng người Mỹ gốc Hàn khỏe mạnh, dễ xúc động luôn đi lại giữa San Francisco và New York, và có vẻ như luôn sẵn sàng cho một công việc bất ngờ này hoặc khác: lần cuối cùng họ gặp cô nàng, cô chuẩn bị đến Grasse để tham gia khóa đào tạo chuyên gia về mùi hương, và chỉ mới tám tháng trước đó, cô nàng vừa hoàn thành một khóa học về nghệ thuật ẩm thực Afghanistan.

       “Và tại sao đây lại là tin vui?” Malcolm hỏi, người gần như chưa từng hoàn toàn tha thứ cho ba người đó vì thái độ không ưa không thể giải thích được của họ dành cho cậu.

       “À,” JB nói, và ngừng lại, cười toe toét. “Cô ấy đang chuyển đổi!”

       “Thành đàn ông à?” Malcolm hỏi. “Tha cho tôi đi, JB. Bấy lâu nay cô ta chưa bao giờ bày tỏ ý nghĩ chán ghét đối với giới tính của mình cả!” Một đồng nghiệp cũ của Malcolm làm phẫu thuật chuyển giới vào năm ngoái và Malcolm đã trở thành chuyên gia tự phong trong lĩnh vực này, giảng giải cho bọn họ về việc không biết chấp nhận sự khác biệt và sự ngu dốt của họ cho tới khi cuối cùng JB cũng phải hét lên với cậu, “Chúa ơi, Malcolm, tôi còn giống người chuyển giới hơn cả Dominic!”

       “À, mà dù sao thì, cô ấy cũng sẽ làm vậy,” JB tiếp tục, “và nhóm mấy ả sẽ tổ chức một bữa tiệc ăn mừng tại nhà họ, và tất cả chúng ta đều được mời.”

       Họ rên lên. “JB, tôi chỉ còn có mỗi năm tuần trước khi đi London, và tôi còn vô số việc phải làm nữa,” Willem biện bạch. “Tôi không thể dành cả tối để mà nghe Edie Kim than thở ở Bushwick.”

       “Cậu không thể không đi được!” JB rít lên. “Bọn họ đặc biệt yêu cầu cậu! Francesca sẽ mời một cô gái có biết cậu và muốn được gặp lại cậu. Nếu mà cậu không đến, họ sẽ nghĩ là cậu cho rằng mình đã hơn hẳn họ. Và còn có cả hàng đống người mà lâu lắm rồi chúng mình chưa gặp lại nữa—”

       “Vâng, và có lẽ là có lý do cho việc ta chưa gặp lại họ đấy,” Jude nói.

       “—và ngoài ra, Willem, cô nàng kia sẽ vẫn đợi cậu cho dù cậu có xuất hiện ở Brooklyn trong vòng một giờ hay không. Và đây đâu phải là tận thế kia chứ. Chỉ là Bushwick thôi mà. Judy sẽ chở chúng ta đi.” Jude đã mua một chiếc xe vào năm ngoái, và mặc dù nó không được xịn cho lắm, JB vẫn thích thú với việc đi loanh quanh cùng với chiếc xe ấy.

       “Gì thế? Tôi không đi đâu đấy,” Jude nói.

       “Sao lại không?”

       “Tôi đang phải ngồi xe lăn, JB ạ, cậu không nhớ à? Và theo như tôi nhớ, chỗ của Marta và Francesca không có cầu thang máy.”

       “Sai bét,” JB trả lời một cách đắc thắng. “Cậu đã thấy lâu rồi cậu chưa gặp họ chưa? Họ chuyển khỏi chỗ ấy rồi. Chỗ ở mới của họ có thang máy đấy. Thực ra, là thang chở hàng.” Hắn ngả người ra sau, gõ tay lên mặt bàn trong khi những người còn lại chỉ còn biết im lặng. “Và tất cả chúng ta đều sẽ đi!”  

       Vì vậy ngày thứ Bảy sau đó họ gặp nhau trên căn gác xép của Jude ở phố Greene và y đưa bọn họ tới Bushwick, nơi mà y phải lái xe vòng quanh khu nhà của Marta và Francesca để tìm chỗ đỗ xe.

       “Có một chỗ ở ngay đằng kia,” JB nói sau mười phút.

       “Đấy là khu vực bốc xếp hàng hóa,” Jude bảo với hắn.

       “Nếu cậu đặt tấm biển người khuyết tật lên, thì ta có thể đỗ ở bất kỳ chỗ nào ta muốn,” JB trả lời.

       “Tôi không muốn dùng nó — cậu biết rồi đấy.”

       “Nếu như cậu không dùng đến nó, thì mục đích của việc mua xe ở đây là gì, hả?”

       “Jude, tôi nghĩ đằng kia có chỗ trống kìa,” Willem nói, mặc kệ JB.

      

       “Cách đây tận bảy khu nhà,” JB càu nhàu.

       “Im đi, JB,” Malcolm nói.

       Khi họ bước vào bữa tiệc, mỗi một người bị một người khác lôi đến một góc khác nhau của căn phòng. Willem nhìn thấy Jude bị Marta kiên quyết lôi đi: Cứu tôi, Jude nói thầm với anh, và anh mỉm cười và đáp lại y với một cái vẫy tay. Dũng cảm lên, anh ra hiệu lại, và Jude trợn tròn mắt. Anh biết Jude không muốn đến nơi này nhường nào, không muốn cứ phải giải thích đi giải thích lại rằng tại sao y lại phải ngồi xe lăn, và dầu vậy Willem vẫn năn nỉ y: “Đừng bắt tôi phải tới đấy một mình.”

       “Không phải chỉ có một mình cậu đâu. Còn có cả JB và Malcolm đi cùng cậu nữa.”

       “Cậu hiểu ý tối mà. Bốn mươi nhăm phút và chúng ta sẽ rời khỏi đó. JB và Malcolm có thể tự quay về thành phố nếu như họ muốn ở lại lâu hơn.”

       “Mười lăm phút.”

       “Ba mươi.”

       “Được rồi.”

       Trong khi ấy, Willem, bị Edie Kim gài bẫy, người về cơ bản vẫn giống như hồi cô ta còn ở trường đại học: mập hơn một chút, có lẽ vậy, nhưng chỉ có vậy. Anh ôm lấy cô nàng. “Edie,” anh nói, “xin chúc mừng.”

       “Cảm ơn, Willem,” Edie nói. Cô ta mỉm cười với anh. “Cậu nom thật tuyệt. Thật sự rất, rất tuyệt.” JB vẫn luôn cho rằng Edie thích anh, nhưng anh chẳng bao giờ tin cả. “Tôi thật sự rất thích The Lacuna Detectives. Cậu đóng rất đạt.”

       “Ô,” anh nói. “Cảm ơn nhé.” Anh thì ghét The Lacuna Detectives. Anh rất ghét quá trình sản xuất bộ phim đó — câu chuyện, nghe thì thật hay ho, kể về một cặp thám tử siêu hình luôn đi vào tiềm thức của những người mất trí nhớ, nhưng vị đạo diễn lại chuyên chế đến mức bạn diễn của Willem đã phải bỏ diễn sau hai tuần khai máy và đoàn phim phải phân lại vai, và mỗi ngày một lần, lại có ai đó vừa khóc vừa chạy khỏi phim trường — nên thực ra anh chưa bao giờ xem bộ phim đấy cả. “Vậy,” anh nói, cố gắng đổi đề tài câu chuyện, “khi —”

       “Tại sao Jude lại ngồi xe lăn?” Edie hỏi.

       Anh thở dài. Khi Jude bắt đầu sử dụng xe lăn thường xuyên vào hai tháng trước, lần đầu trong vòng bốn năm qua, kể từ khi y bước sang tuổi ba mươi mốt, y đã chuẩn bị sẵn cho họ cách trả lời câu hỏi này. “Không phải là vĩnh viễn,” anh trả lời. “Cậu ấy bị nhiễm trùng ở chân và nó làm cho cậu ấy bị đau nếu phải đi bộ nhiều.”

       “Chúa ơi, anh chàng tội nghiệp,” Edie nói. “Marta nói là cậu ấy đã nghỉ ở Văn phòng Luật sư Hoa Kỳ và rất thành công ở một hãng luật tư nhân.” JB cũng luôn nghi ngờ rằng Edie thích cả Jude nữa, điều mà Willem cho là khá hợp lý.

       “Ừ, được vài năm rồi,” anh trả lời, phấn khởi vì đã chuyển được đề tài câu chuyện sang Jude, đối tượng mà anh vẫn luôn thích thú khi được trả lời các câu hỏi; anh rất thích nói chuyện về Jude, và anh biết những gì mình có thể và không thể nói về y, hoặc nhân danh y, nhưng anh không hề thích cái giọng điệu tinh quái, thân mật mà người ta sử dụng khi hỏi về y, như thể anh có thể phỉnh phờ và lừa lọc trong việc tiết lộ những điều mà chính Jude sẽ chẳng nói ra. (Như thể là anh sẽ làm vậy.) “Dù sao thì, Edie, thật mừng cho cậu.” Anh dừng lại. “Tôi xin lỗi – đáng lẽ tôi nên hỏi trước – cậu có còn muốn được gọi là Edie nữa hay không?”

       Edie xụ mặt. “Tại sao lại không chứ?”

       “À —” Anh dừng lại. “Tôi không biết là cậu đã đi được bao xa trong quá trình, và —”

       “Quá trình nào?”

       “Ừm, quá trình chuyển đổi?” Anh nên dừng lại khi nhìn thấy sự bối rối của Edie, nhưng anh không làm vậy. “JB nói là cậu đang chuyển đổi?”

       “Ừ, tới Hong Kong,” Edie nói, vẫn xụ mặt. “Tôi sẽ là giáo viên tự do dạy nấu món chay cho một trung tâm nữ công gia chánh. Đợi một chút – cậu nghĩ là tôi sẽ làm phẫu thuật chuyển giới đấy phỏng?”  

       “Ôi trời,” anh nói, và hai ý nghĩ, tách biệt nhưng lại liên quan với nhau, hiện lên trong đầu anh: Mình sẽ giết JB. Và: Mình không thể đợi được để kể cho Jude nghe về vụ này. “Edie, tôi rất, rất xin lỗi.”

       Anh nhớ lại hồi còn học đại học Edie rất khó hiểu: những điều vô cùng nhỏ nhặt cũng làm cho cô ta khó chịu (anh từng nhìn thấy cô ta khóc nức nở bởi vì phần đầu cây kem ốc quế của cô ta chảy xuống đôi giày mới), nhưng những chuyện to tát (cái chết của chị gái cô nàng; tiếng gào thét cãi vã, ném những cục bông tuyết vào người bạn gái trong cuộc chia tay, diễn ra ở Quad, và mọi người trong ký túc xá Hood đều thò đầu qua cửa sổ để theo dõi) lại không hề khiến cô nàng bối rối. Anh không biết mình nói hớ khi nào, và bản thân Edie cũng không chắc, cái miệng nhỏ của cô nàng co lại thành một dấu hiệu của sự bối rối. Dầu vậy, cuối cùng, cô nàng bắt đầu cười phá lên, và gọi ai đó ở đầu bên kia của căn phòng — “Hannah! Hannah! Đến đây! Em phải nghe chuyện này!” — và anh thở hắt ra, xin lỗi và chúc mừng cô nàng một lần nữa, và chuồn đi.

       Anh bước qua căn phòng để đi về phía Jude. Sau nhiều năm — gần như là nhiều thập kỷ — trong những bữa tiệc như thế này, hai người bọn họ đã cùng tạo ra với nhau một thứ ngôn ngữ ký hiệu, một loại kịch câm mà mỗi một cử chỉ đều mang một ý nghĩa nào đó — cứu tôi — mặc dù với nhiều mức độ khác nhau. Thông thường, họ có thể đơn giản nắm bắt được ánh mắt của người nọ từ đầu bên kia căn phòng và ra hiệu về sự tuyệt vọng của mình, nhưng ở trong những bữa tiệc như thế này, khi mà cả căn hộ chỉ được chiếu sáng bằng ánh nến và các vị khách mời có vẻ như nhân lên gấp bội trong lúc anh mới chỉ kịp nói có vài câu với Edie, thường sẽ cần tới thứ ngôn ngữ cơ thể biểu cảm hơn. Sờ vào gáy của mình nghĩa là người kia nên gọi điện vào máy cho anh ta ngay lập tức; vân vê dây đeo đồng hồ có nghĩa là “Hãy đến đây và thế chỗ tôi trong cuộc trò chuyện này, hay ít nhất là hãy tham gia vào”; và kéo thùy tai trái xuống có nghĩa “Hãy đưa tôi ra khỏi đây ngay lập tức.” Anh đã nhìn thấy, từ khóe mắt, rằng Jude liên tục kéo tai suốt mười phút qua, và lúc này anh có thể thấy Marta cùng gia nhập với một cô gái u buồn mà anh vẫn còn nhớ rõ đã từng gặp mặt (và không ưa một chút nào) trong buổi tiệc lần trước. Hai người đó lù lù xuất hiện trước mặt Jude như thể chỉ có họ mới có quyền làm vậy và, dưới ánh nến, đầy hung tợn, như thể Jude là một đứa trẻ vừa mới bị bắt quả tang làm vỡ một góc được làm bằng rễ cam thảo của ngôi nhà bánh gừng, và họ đang quyết định xem liệu sẽ luộc y lên với trái mận khô hay sẽ nướng y với củ cải.

       Anh đã cố, như sau đó anh nói với Jude, anh thật sự đã làm vậy; nhưng anh đang ở đầu này của căn phòng và Jude thì ở tận đầu kia, và anh cứ liên tục bị ngăn lại và lôi vào những cuộc nói chuyện với những người mà anh không gặp nhiều năm và, càng phiền hơn nữa, là những người mà anh chỉ vừa mới gặp cách đây vài tuần. Khi anh cố gắng di chuyển về phía trước, anh vẫy Malcolm và chỉ về hướng của Jude, nhưng Malcolm chỉ trao cho anh một cái lắc vai vô dụng và thì thầm “Sao?” và anh đáp lại với một cử chỉ thô bạo: Đừng bận tâm.

       Mình phải ra khỏi đây, anh nghĩ, khi anh bơi qua đám đông, nhưng sự thật là anh thường không bận tâm tới những bữa tiệc kiểu này, không thật sự; một phần lớn trong anh thậm chí còn yêu thích chúng nữa. Anh ngờ rằng điều này cũng đúng với cả Jude, mặc dù có lẽ là ở một mức độ ít hơn — chắc chắn là y luôn thể hiện tốt ở các bữa tiệc, và mọi người luôn muốn nói chuyện với y, và mặc dù hai người bọn họ luôn than phiền với nhau về JB và về việc hắn cứ lôi kéo bọn họ vào những việc như thế này và họ thấy mệt mỏi ra sao, cả hai người đều biết rằng họ đơn giản có thể từ chối nếu muốn, và họ đều hiếm khi làm vậy — xét cho cùng, họ sẽ đi đâu để sử dụng ngôn ngữ cử chỉ của họ, cái thứ ngôn ngữ mà chỉ có hai người duy nhất sử dụng trên thế giới này?

       Trong những năm gần đây, khi cuộc sống của anh đã dần rời xa trường đại và cái con người mà anh từng là, đôi khi anh cảm thấy thật dễ chịu khi gặp gỡ những con người thời đó. Anh trêu chọc JB về việc hắn như thể chưa từng rời khỏi ký túc xá Hood, nhưng thật ra, anh thấy ngưỡng mộ cái cách mà JB duy trì các mối quan hệ của hắn, và của bọn họ, về sau này, và làm thế nào mà hắn có thể xoay xở với rất nhiều mối quan hệ trong số đó tùy theo hoàn cảnh. Bất kể bộ sưu tập bạn bè của hắn từ hồi xưa, vẫn luôn có một sự cố chấp nhất định trong cái cách mà JB nhìn nhận và trải nghiệm cuộc sống, và xung quanh hắn, ngay cả những kẻ kiên trì với quá khứ nhất cũng ít bị cuốn vào những dư âm của quá khứ hơn hẳn, và thay vì vậy khiến cho bản thân họ bằng lòng với việc người đang đứng trước mặt họ đây đã trở thành bất kỳ ai. Anh cũng đánh giá cao cả việc những người mà JB lựa chọn tiếp tục duy trì tình bạn với họ, phần lớn, không ấn tượng với con người mà anh đã trở thành (nếu như anh có thể được cho là đã trở thành một ai đó). Một số người giờ đây đối xử với anh khác hẳn – đặc biệt là trong vòng một năm qua – nhưng hầu hết bọn họ đều có những cuộc sống và sở thích và sự theo đuổi thật đặc biệt, và đôi khi, những thành tích của Willem được xem như không mấy quan trọng hơn so với của họ. Những người bạn của JB là các nhà thơ và nghệ sĩ trình diễn và các học giả và nghệ sĩ múa đương đại và triết gia — hắn, như Malcolm từng để ý, đánh bạn với tất cả những người ở trường đại học của họ mà có vẻ như ít làm ra tiền nhất — và cuộc sống của họ thường là những khoản trợ cấp và ở ký túc xá và là thành viên của những nhóm hội và các giải thưởng. Thành công, trong sự phân hạng của JB ở Ký túc xá Hood, không được định nghĩa bởi doanh thu phòng vé (như là đối với người đại diện và quản lý của anh) hay các bạn đồng diễn của anh hay những bài viết phê bình về anh (như là đối với các bạn cao học của anh): nó được định nghĩa đơn giản và chỉ bằng việc tác phẩm của anh ra sao, và liệu anh có tự hào về nó hay không. (Mọi người thực sự đã nói với anh ở những bữa tiệc này: “Ôi, tôi chưa xem phim Black Mercury 3081. Nhưng anh có tự hào về công việc của mình ở trong đó không?” Không, anh không hề tự hào về nó. Anh đã vào vai một nhà khoa học xui xẻo trong dải ngân hà người cũng là một võ sĩ nhu đạo và đã đánh bại một con quái vật vũ trụ khổng lồ. Nhưng anh đã hài lòng về nó: anh đã làm việc chăm chỉ và diễn xuất một cách nghiêm túc, và rằng đó là tất cả những gì mà anh được kỳ vọng để thực hiện.) Đôi khi anh băn khoăn rằng liệu anh có đang bị lừa phỉnh hay không, rằng toàn bộ cái vòng tròn quan hệ này của JB tự nó là một tác phẩm trình diễn nghệ thuật, một trong số những sự cạnh tranh và lo lắng và tham vọng của thế giới thực — cái thế giới tồn tại quanh tiền bạc và lòng tham và đố kị — bị bỏ qua trong niềm vui thuần khiết của việc lao động. Đôi khi cái cảm giác ấy khiến lòng anh se lại, theo cái cách tốt đẹp nhất: anh nhìn thấy trong những buổi tiệc này, quãng thời gian anh còn ở bên những người bạn trong ký túc xá Hood, như là một thứ gì đó có tác dụng làm sạch và phục hồi, một thứ gì đó đưa anh trở về với con người mà anh từng là, hồi hộp khi tham gia vào vở kịch Noises Off của trường đại học, bắt các bạn cùng phòng tập lời thoại với anh vào mỗi tối.

       “Một lễ tẩy trần sự nghiệp,” Jude nói, mỉm cười, khi anh kể với y điều này.

       “Một buổi tắm vòi hoa sen không thể định giá chứ,” anh phản đối.

       “Sự gột rửa tham vọng.”

       “Ô, hay đấy!”

       Nhưng đôi khi những bữa tiệc — giống như tối nay — mang tới tác động ngược lại. Đôi khi anh nhận thấy mình bực bội với định nghĩa của những người khác về anh, sự hoàn nguyên và tính bất di bất dịch của nó: anh từng, và sẽ mãi là, Willem Ragnarsson của Ký túc xá Hood, Phòng số 8, một kẻ dốt toán và giỏi tán gái, một nhân vật vừa đơn giản lại vừa dễ hiểu, với tính cách chỉ cần vẽ bằng hai nét bút. Họ không hề sai, thật vậy  — có gì đó thật đáng chán về việc ở trong một ngành nghề mà tại đó anh được xem như là một kẻ có học thức chỉ đơn giản bởi vì anh không đọc những loại tạp trí và trang mạng nhất định và bởi vì anh đã từng học đại học — nhưng điều đó khiến cho cuộc đời anh, mà anh biết dù sao cũng thật nhỏ bé, càng có vẻ nhỏ bé hơn nữa.

       Và đôi khi anh cảm nhận được trong sự mơ hồ về sự nghiệp của anh nơi những người bạn cũ một điều gì đó thật cố chấp và cố ý và hẹp hòi; năm ngoái, khi bộ phim lớn đầu tiên của anh được phát hành, anh tham dự một bữa tiệc ở Red Hook và đã nói chuyện với một kẻ a dua ở Hood mà vẫn luôn có mặt trong những buổi tụ tập như thế này, một gã có tên là Arthur từng sống trong khu nhà tồi tàn, Ký túc xá Dillingham, và giờ xuất bản một cuốn tập san được ít người biết đến nhưng uy tín về bản đồ số.

       “Vậy, Willem này, gần đây cậu làm gì?” Arthur hỏi, rốt cuộc, sau khi nói chuyện gần mười phút về ấn phẩm mới đây nhất của tờ Histories, về hình ảnh ba chiều mô phỏng tuyến đường buôn lậu thuốc phiện ở Đông Dương từ năm 1839 đến năm 1842.

      

       Anh trải qua, sau đó, khoảnh khắc bối rối mà đôi khi anh rơi vào trong những buổi tụ họp. Đôi khi câu hỏi ấy được đưa ra theo một cách đầy mánh khóe, mỉa mai, như thể là một lời chúc mừng vậy, và anh sẽ mỉm cười và tham gia vào trò chơi của họ — “Ô, chẳng có gì nhiều nhặn đâu, tôi vẫn đang chờ đợi ở Ortolan thôi. Dạo này chúng tôi có món cá than với tobiko[1] rất ngon” — nhưng đôi khi, mọi người không hề biết gì cả. Việc không biết gì cả gần đây diễn ra ngày một ít hơn, và khi nó xảy ra, nó thường đến từ một ai đó sống quá xa mạng lưới văn hóa mà ngay cả việc đọc tờ New York Times cũng là một hành động bất thường, hay thường xuyên hơn, là một ai đó đang cố gắng truyền đạt sự chê trách của họ — không, phải là sự gạt bỏ của họ mới phải — về anh và cuộc đời và công việc của anh bằng cách vẫn khăng khăng không chịu biết gì về nó.

       Anh không biết đến Arthur đủ nhiều để biết rằng anh ta thích thú với điều gì (mặc dù anh biết anh ta đủ để không có nổi thiện cảm với anh ta, cái cách mà anh ta phạm quá gần vào không gian của anh khiến anh bị dồn sát vào bức tường), vì thế anh chỉ đơn giản trả lời rằng: “Tôi đang đóng phim.”

       “Thật ư,” Arthur nói một cách nhạt nhẽo. “Có cái tên nào tôi từng nghe đến không?”

       Câu hỏi này — không phải là bản thân câu hỏi, mà là giọng điệu của Arthur, sự vô ý và chế nhạo trong đó — mới khiến anh bực mình, nhưng anh không thể hiện ra. “À,” anh nói chậm rãi, “hầu hết đều là mấy bộ phim độc lập[2]. Mới đây nhất tôi vừa đóng một phim có tên là The Kingdom of Frankincense, và tháng sau tôi sẽ đóng bộ phim The Unvanquished, dựa trên một cuốn tiểu thuyết?” Arthur nom có vẻ mơ hồ. Willem thở dài; anh đã giành được một giải thưởng với bộ phimThe Kingdom of Frankincense. “Và một bộ phim tôi đóng vài năm trước vừa mới được phát hành: nó có tên là Black Mercury 3081.”

       “Nghe hay đấy,” Arthur nói, có vẻ chán. “Dù tôi không nghĩ là tôi đã từng nghe đến nó. Hử. Tôi sẽ phải tìm hiểu thêm về nó. Ôi, mừng cho cậu, Willem ạ.”

       Anh ghét cái cách mà một số người nói câu “mừng cho cậu, Willem ạ,” như thể công việc của anh là một thứ ảo tưởng bọc đường, một câu chuyện hư cấu mà anh tự bịa ra cho mình và cho cả những người khác, và không phải là một thứ gì đó có thực trên đời. Anh đặc biệt ghét cái đêm đó, khi mà cách nơi ấy năm mươi thước, ngay bên ngoài khung cửa sổ sau lưng Arthur kia, là tấm biển quảng cáo sáng rực được gắn trên đỉnh một tòa nhà có khuôn mặt của anh trên đó — khuôn mặt cau có của anh, xin thừa nhận: anh, sau rốt, đã chiến đấu với một sinh vật ngoài hành tinh – và dòng chữ cao hai phút BLACK MERCURY 3081: SẼ SỚM ĐƯỢC TRÌNH CHIẾU. Trong những thời điểm ấy, anh thấy thất vọng về những con người ở Ký túc xá Hood. Rốt cuộc họ chẳng có gì tốt đẹp hơn những người khác hết cả, anh nhận ra. Suy cho cùng, họ cũng chỉ biết ghen tị và cố khiến cho mình cảm thấy tồi tệ. Sau đó, anh sẽ khó chịu với chính bản thân mình: Đây chính là những gì mày muốn, anh nhắc nhở bản thân. Vậy thì tại sao mày lại bận tâm đến suy nghĩ của người khác thế? Nhưng đóng phim chính là việc quan tâm đến ý kiến của người khác (đôi khi nó có cảm giảm như toàn bộ điều này chỉ có một ý nghĩa duy nhất là như vậy), và dù anh có thích cái ý nghĩ rằng mình tự miễn dịch với suy nghĩ của người khác ra sao — như thể theo một cách nào đó anh đã vượt qua được việc lo lắng về nó — rõ ràng là anh không hề như vậy.

       “Tôi biết điều này nghe thật nhỏ mọn,” anh nói với Jude sau bữa tiệc. Anh thấy xấu hổ về việc mình đã khó chịu ra sao — anh sẽ không thừa nhận điều đó với ai hết.

       “Chẳng có gì là nhỏ mọn ở đây cả,” Jude nói. Họ đang lái xe quay về thành phố từ Red Hook. “Nhưng Arthur là một thằng khốn, Willem ạ. Hắn vẫn luôn là vậy. Và nhiều năm nghiên cứu về Herodotus[3] chẳng khiến cho hắn được khá hơn.”

       Anh mỉm cười, miễn cưỡng. “Tôi không biết nữa,” anh nói. “Đôi khi tôi cảm thấy có gì đó thật … thật vô nghĩa trong những điều tôi làm.”

       “Sao cậu lại nói như thế được, Willem? Cậu là một diễn viên tài năng; thực sự đấy. Và cậu—”

       “Đừng có mà nói là tôi mang niềm vui đến cho nhiều người đấy.”

       “Thực ra, tôi sẽ không nói vậy. Những bộ phim của cậu không hẳn là loại có thể mang đến niềm vui cho mọi người.” (Willem chuyên đóng các loại vai có tính cách phức tạp và tăm tối — thường có tính bạo lực ngầm, thường lung lay về mặt đạo đức — khơi gợi nên những mức độ cảm thông khác nhau. “Ragnarsson[4] Khủng khiếp,” Harold gọi anh.)

       “Ngoại trừ lũ sinh vật ngoài hành tinh, dĩ nhiên.”

       “Đúng vậy, trừ sinh vật ngoài hành tinh. Mặc dù nếu như có chúng — thì đến cuối phim cậu cũng sẽ tiêu diệt chúng, đúng không? Nhưng mà Willem này, tôi rất thích xem những bộ phim ấy, và cả nhiều người khác cũng vậy. Nhiêu đó cũng mang một ý nghĩa nào đó đúng không? Liệu bao nhiêu người có thể nói được rằng, họ có thể đưa một ai đó rời khỏi cuộc sống thường ngày của mình đây?” Và khi anh không trả lời: “Cậu biết đấy, có lẽ ta không nên đến những bữa tiệc như vậy nữa; chúng đã trở thành những bài tập không lành mạnh về khổ dâm và chán ghét bản thân của cả hai ta.” Jude quay sang anh và cười thật tươi. “Ít nhất thì cậu cũng hoạt động trong lĩnh vực nghệ thuật. Tôi cũng có thể bị xem như là đang làm việc cho một tổ chức buôn lậu vũ khí. Tối nay Dorothy Wharton hỏi tôi là tôi cảm thấy thế nào khi thức dậy vào mỗi sáng và biết rằng tôi đã từ bỏ một phần linh hồn vào ngày hôm trước.”

       Cuối cùng, anh cũng bật cười. “Không phải chứ.”

       “Có đấy. Cứ như là nói chuyện với Harold vậy.”

       “Ừ, nếu như Harold là một cô ả da trắng với tóc cuốn lọn dài.”

       Jude mỉm cười. “Như tôi vừa nói đấy, cứ như là nói chuyện với Harold vậy.”

       Nhưng thật ra, cả hai người đều biết rằng tại sao họ vẫn cứ tiếp tục tham dự những bữa tiệc như thế: bởi vì chúng đã trở thành một trong những cơ hội hiếm hoi mà cả bốn người bọn họ có thể ở bên nhau, và đôi khi chúng dường như là cơ hội duy nhất để tạo ra những kỷ niệm mà cả bốn người có thể chia sẻ cùng nhau, để giữ cho tình bạn của họ tồn tại bằng cách đưa từng khúc củi vào trong ngọn lửa sắp tàn đầy muội than. Đó là cách thức của họ để giả vờ rằng mọi thứ vẫn còn như cũ.   

       Nó cũng cho họ một lý do để giả vờ rằng mọi thứ vẫn ổn với JB, khi cả ba người còn lại đều biết rằng có điều gì đó không ổn. Willem không thể xác định rõ có điều gì không ổn ở hắn — JB có thể, theo cách của hắn, trở nên trốn tránh y như Jude trong một số cuộc nói chuyện — nhưng anh biết rằng JB rất cô đơn, và không hạnh phúc, và không chắc chắn, và rằng không có một cảm giác nào trong số đó là quen thuộc về hắn cả. Anh cảm nhận được rằng JB — người từng rất yêu thích trường đại học, những cấu trúc và hệ thống cấp bậc và cái xã hội thu nhỏ của nó mà hắn từng rất giỏi với việc xoay xở trong đó — đang cố gắng tái tạo lại thứ tình bạn dễ dàng, vô ưu mà họ từng có được thông qua mỗi buổi tiệc, khi mà cái bản thể chuyên nghiệp của họ vẫn còn mơ hồ đối với bản thân họ và họ được gắn kết lại với nhau bởi nguyện vọng của mình thay vì bị chia rẽ bởi những thực tế thường ngày. Vì thế mà hắn sắp đặt những buổi gặp gỡ này, và họ ngoan ngoãn nghe theo như vẫn luôn như vậy, trao cho hắn một sự tử tế nho nhỏ khi để hắn trở thành người dẫn đầu của cả nhóm, người duy nhất ra quyết định cho tất cả bọn họ, như vẫn luôn là vậy.   

       Anh những muốn gặp riêng JB, chỉ có hai người bọn họ, nhưng những ngày này, khi hắn không ở cùng những người bạn thời đại học của mình, JB lại giao du với những nhóm khác, những kẻ hoạt động nghệ thuật, mà có vẻ như chỉ có hứng thú với việc hút hít và rồi sau đó là làm tình không an toàn, và nó rõ ràng là không hề hấp dẫn đối với anh. Anh ngày càng ít có mặt ở New York hơn — chỉ có tám tháng trong vòng ba năm qua — và khi mà anh nhà, vẫn luôn có hai sức ép song hành giữa việc dành quãng thời gian ý nghĩa bên bạn bè anh và hoàn toàn không làm gì hết cả.

       Lúc này, dù anh vẫn tiếp tục tiến về phía Jude, vừa mới thoát khỏi Marta và người bạn cáu kỉnh của cô ta và đang nói chuyện với Carolina bạn họ (khi nhìn thấy cảnh này, anh lại cảm thấy có lỗi, vì đã mấy tháng anh không nói chuyện với Carolina và anh biết rằng cô rất giận anh), khi Francesca chặn đường để giới thiệu với anh một cô gái tên Rachel từng làm việc cùng anh trong bộ phim Cloud 9 vào bốn năm trước, khi ấy cô đảm nhiệm vị trí trợ lý biên kịch. Anh mừng vì gặp lại cô — anh vẫn thấy thích cô trong suốt những năm qua; anh vẫn luôn nghĩ rằng cô thật xinh đẹp — nhưng mà anh biết, thậm chí là ngay cả khi anh nói chuyện cùng cô, rằng không nên tiến xa hơn một cuộc trò chuyện. Rốt cuộc, anh không hề phóng đại: anh sẽ đóng một bộ phim mới trong vòng năm tuần nữa. Giờ không phải lúc để vướng vào một thứ gì đó mới mẻ và phức tạp, và anh thật sự không có năng lượng để dành cho cuộc tình một đêm, mà anh biết, theo một cách buồn cười cũng sẽ gây mệt mỏi không kém gì một mối quan hệ dài hơi.

       Khoảng mười phút sau khi nói chuyện với Rachel, điện thoại của anh vang lên, và anh xin thứ lỗi và kiểm tra tin nhắn của Jude: Tôi về đây. Tôi không muốn phá ngang cuộc nói chuyện của cậu với bà Ragnarsson tương lai. Gặp cậu ở nhà nhé.

       “Cứt,” anh kêu lên, và rồi nói với Rachel, “Xin lỗi.” Đột nhiên, sự quyến rũ của bữa tiệc chấm dứt, và anh chỉ muốn được rời đi. Sự có mặt của họ trong những bữa tiệc thế này là một kiểu sân khấu mà bốn người bọn họ đồng ý bước lên để biểu diễn cho chính mình, nhưng một khi một trong số các diễn viên rời khỏi sân khấu, việc tiếp tục dường như chẳng còn ý nghĩa gì nữa. Anh nói lời tạm biệt với Rachel, người chuyển từ biểu cảm ngượng ngùng sang thù địch khi nhận ra rằng anh sẽ thực sự rời đi và cô không được mời đi cùng với anh, và rồi một nhóm người — Marta, Francesca, JB, Malcolm, Edie, Carolina — ít nhất là một nửa số người cảm thấy khó chịu với anh. Anh phải mất thêm ba mươi phút nữa mới có thể tự mình thoát khỏi căn hộ, và trên đường xuống dưới nhà, anh nhắn tin trả lời Jude, hi vọng, Cậu còn ở đây không? Giờ tôi cũng về đây, và rồi, khi anh không nhận được trả lời, Tôi sẽ bắt tàu. Mua vài thứ ở cửa hàng tiện dụng — tí gặp lại cậu nhé.

       Anh bắt tàu tuyến L đến Đại lộ Số Tám và rồi đi bộ xuôi theo hướng nam qua một vài tòa nhà nữa để tới căn hộ của mình. Cuối tháng Mười là khoảng thời gian yêu thích của anh ở thành phố này, và anh luôn thấy buồn nếu phải bỏ lỡ nó. Anh sống ở góc phố Perry giao với West Fourth, trong một căn hộ ở tầng ba có cửa sổ nằm ngang tầm với những ngọn cây bạch quả; trước khi anh chuyển vào, anh tưởng tượng ra rằng anh sẽ nằm ườn trên giường vào những cuối tuần và nhìn những chiếc lá vàng bị cơn gió bứt khỏi những tán cây và cuốn tung lên trong không trung. Nhưng anh chưa bao giờ thực hiện được điều đó.  

       Anh không hề có cảm giác đặc biệt đối với ngôi nhà, dù cho nó là của anh và anh đã bỏ tiền ra mua nó, thứ đầu tiên và to nhất mà anh từng mua sau khi thanh toán hết khoản vay sinh viên. Khi anh bắt đầu tìm kiếm, cách đây một năm rưỡi, anh chỉ biết rằng anh muốn sống ở trung tâm thành phố và rằng anh cần một khu nhà có thang máy, để mà Jude có thể tới thăm anh. 

       “Như thế có phải là phụ thuộc lẫn nhau quá hay không?” bạn gái của anh khi đó, Philippa, hỏi anh, nửa đùa nửa thật.

       “Vậy ư?” anh hỏi lại, hiểu rõ ý của cô nhưng vờ như không biết.

       “Willem,” Philippa nói, bật cười để che giấu sự khó chịu của mình. “Đúng vậy.”  

       Anh nhún vai, chẳng bận tâm. “Anh không thể sống ở nơi mà cậu ấy không thể tới thăm anh,” anh nói.

       Cô thở dài. “Em biết.”

      

       Anh biết rằng Philippa chẳng chống đối gì Jude; cô thích y là đằng khác, và Jude cũng thích cô, và thậm chí vào một ngày nọ y từng nhẹ nhàng nói với Willem rằng anh nên dành nhiều thời gian cho Philippa hơn khi anh ở nhà. Khi anh và Philippa bắt đầu hẹn hò — cô là chuyên gia thiết kế trang phục, hầu như là cho rạp hát — cô thấy thích thú, thậm chí là bị thu hút, trước tình bạn của họ. Cô đã nhìn thấy ở họ, anh biết, như là một bằng chứng về lòng trung thành, và đáng tin cậy, và kiên định nơi anh. Nhưng khi họ tiếp tục hẹn hò, khi họ nhiều tuổi hơn, có điều gì đó đã thay đổi, số thời gian mà anh ở bên JB và Malcolm và, đặc biệt, là Jude trở thành bằng chứng về sự thiếu trưởng thành nơi anh, sự không sẵn sàng nơi anh để bỏ lại đằng sau những dễ chịu của một cuộc đời — cuộc đời cùng với họ — vì sự không chắc chắn khi ở bên người khác, với cô. Cô không bao giờ yêu cầu anh phải hoàn toàn từ bỏ họ — thực ra, một trong những điều mà anh thấy yêu ở cô chính là việc cô thân thiết với nhóm bạn của mình ra sao, và rằng hai người bọn họ có thể dành trọn một đêm ở bên những người bạn riêng của mình, trong nhà hàng yêu thích của mình, có những cuộc chuyện trò của mình, và rồi gặp nhau khi chúng kết thúc, hai buổi tối riêng biệt kết thúc với một sự chia sẻ duy nhất — nhưng rốt cuộc, cô muốn, một sự nhượng bộ nơi anh, một sự dâng hiến dành cho cô và mối quan hệ của họ sẽ thay thế cho các mối quan hệ khác.

       Đó là điều mà anh không thể thực hiện. Nhưng anh cảm thấy anh đã cho cô nhiều hơn những gì mà cô nhận thấy. Trong hai năm cuối cùng của họ bên nhau, anh không hề tới nhà Harold và Julia để mừng lễ Tạ ơn hay mừng Giáng sinh, thay vì thế anh tới nhà cha mẹ cô ở Vermont; anh cũng từ bỏ chuyến du lịch hàng năm của anh cùng với Jude; anh cùng cô tham dự các đám cưới và bữa tối và buổi diễn của các bạn cô, và ở bên cô mỗi khi anh về thành phố, nhìn cô phác thảo các mẫu thiết kế cho vở kịch The Tempest, gọt những chiếc bút chì màu đắt tiền cho cô trong khi cô ngủ, và anh, dù tâm trí vẫn còn mắc kẹt ở một múi giờ khác, đi quanh căn hộ, bắt đầu đọc các cuốn sách và dừng lại, mở ra và gập lại các tờ tạp chí, biếng nhác dựng thẳng lại các lọ đựng mỳ và ngũ cốc trên quầy bếp. Anh làm tất cả những điều này một cách hạnh phúc và không hề oán giận. Nhưng như thế vẫn là chưa đủ, và họ đã chia tay, lặng lẽ và, anh nghĩ, ồ, vào năm ngoái, sau gần bốn năm bên nhau.  

       Ông Irvine, khi biết tin họ chia tay, đã lắc đầu (đó là ở bữa tiệc mừng thôi nôi của con Flora). “Mấy cậu thực sự biến thành một lũ Peter Pan rồi đấy,” ông nói. “Willem, cháu sao thế? Ba mươi sáu rồi đúng không? Bác chẳng hiểu có vấn đề gì với cháu nữa. Cháu làm ra tiền. Cháu đã nổi tiếng. Chẳng lẽ cháu không nghĩ rằng mấy đứa nên thôi dính lại với nhau và có thái độ nghiêm túc về sự trưởng thành hay sao?”

      

Nhưng một người có thể trưởng thành theo cách nào? Liệu việc kết hôn có thực sự là lựa chọn hợp lý duy nhất? (Nhưng rồi, một lựa chọn duy nhất là không có lựa chọn nào cả.) “Hàng ngàn năm tiến hóa và phát triển xã hội và đây là lựa chọn duy nhất của chúng ta?” anh từng hỏi Harold như vậy khi họ tới Truro chơi vào mùa hè vừa rồi, và Harold bật cười. “Nghe này, Willem,” ông nói, “ta nghĩ là cháu đang làm rất tốt. Ta biết là ta đã khiến cháu khó xử về việc ổn định cuộc sống, và ta đồng ý với cha của Malcolm rằng kết hôn là một điều tuyệt vời, nhưng tất cả những gì cháu thực sự cần phải làm chỉ là trở thành một người tốt, mà cháu vốn dĩ đã là như vậy rồi, và tận hưởng cuộc sống của cháu. Cháu hẵng còn trẻ. Cháu vẫn còn rất nhiều thời gian để mà suy nghĩ về việc cháu muốn làm gì và muốn sống cuộc đời mình ra sao.” 

       “Thế nếu như cháu muốn sống như thế này thì sao ạ?”

       “Ồ, vậy thì, cũng chẳng sao cả,” Harold trả lời. Ông mỉm cười với Willem. “Mấy đứa bọn cháu đang sống cuộc sống mà mọi gã đàn ông đều mơ đến, cháu biết đấy. Thậm chí có là John Irvine thì cũng vậy thôi.”

       Gần đây, anh đã tự hỏi rằng liệu sự lệ thuộc lẫn nhau có phải là một điều xấu. Anh có được niềm vui trong tình bạn, và điều ấy chẳng gây hại đến ai cả, vậy thì ai mà thèm quan tâm rằng liệu đó có phải là sự lệ thuộc hay không? Và dù sao, làm sao mà tình bạn lại có thể lệ thuộc hơn một mối quan hệ tình ái cho được? Làm sao mà nó lại đáng ngưỡng mộ khi anh ở độ tuổi hai mươi bảy và đáng sợ khi anh ở tuổi ba mươi nhăm đến thế? Tại sao tình bạn lại không thể tốt đẹp bằng tình yêu? Tại sao nó thậm chí lại không thể tốt hơn? Đó là hai con người ở lại bên nhau, ngày qua ngày, được gắn kết với nhau không phải bởi tình dục hay sự hấp dẫn cơ thể hay tiền bạc hay con cái hay tài sản, mà chỉ bởi vì sự đồng thuận trong việc tiếp tục duy trì, cùng nhau cống hiến để tạo nên một sự hòa hợp mà không bao giờ có thể trở thành điều lệ. Tình bạn chính là việc chứng kiến sự suy sụp chậm chạp của một người, và những cơn chán nản kéo dài, và những thắng lợi chẳng mấy thường xuyên. Đó chính là cái cảm giác vinh dự trước cái quyền được hiện diện trong những thời điểm tăm tối nhất của bạn mình, và biết rằng đổi lại anh cũng có thể tỏ ra buồn nản khi bên người đó.

       Tuy nhiên, điều khiến anh phiền muộn hơn cả sự non nớt của bản thân, là năng lực của anh trong vai trò một người bạn. Anh vẫn luôn tự hào trước việc mình là một người bạn tốt; tình bạn vẫn luôn là một điều quan trọng đối với anh. Nhưng anh có thật sự tốt đẹp đến thế? Vấn đề chưa được giải quyết của JB, là một ví dụ; một người bạn tốt sẽ luận ra được một điều gì đó. Và một người bạn tốt chắc chắn sẽ nghĩ ra cách tốt hơn để đối diện với Jude, thay vì cứ tự nói với mình, như là tụng kinh, rằng đơn giản chẳng có cách nào khác, và nếu như là có, nếu một ai đó (Andy? Harold? Hay bất kỳ ai?) có thể nghĩ ra được một kế hoạch, thì anh sẽ vui lòng tuân theo. Nhưng dù anh có nói với chính mình điều ấy, anh vẫn biết rằng anh chỉ đang viện lý do cho mình.

       Cả Andy cũng biết điều đó. Năm năm trước, Andy đã gọi cho anh ở Sofia và mắng anh một trận. Đó là buổi quay đầu tiên của anh; lúc ấy đã rất khuya rồi, và khi anh trả lời điện thoại và nghe Andy nói rằng, “Với một kẻ dương dương cho rằng mình là một người bạn tốt, mẹ kiếp đáng lý cậu ra phải ở đây để mà chứng tỏ điều ấy chứ,” anh đã ở vào thế tự vệ, bởi vì anh biết rằng Andy nói đúng.

      

       “Đợi một chút,” anh ngồi bật dậy, sự giận dữ và sợ hãi xua tan cơn buồn ngủ.

       “Cậu ta đang ngồi nhà và cắt nát người mình, cậu ta bây giờ trông giống như mẩu tờ giấy ăn bị xé vụn vậy, cậu ta trông như một bộ xương khô, và cậu thì ở đâu, hả Willem?” Andy chất vấn. “Và đừng có mà nói rằng ‘Tôi đang quay phim.’ Tại sao cậu lại không kiểm tra cậu ta hả?”

       “Ngày nào tôi cũng gọi cho cậu ấy,” anh cũng bắt đầu quát lên.

       “Cậu biết rõ là việc này rất khó khăn với cậu ấy,” Andy tiếp tục, cắt ngang lời anh. “Cậu biết là việc nhận nuôi sẽ khiến cậu ấy cảm thấy mình yếu đuối. Vậy thì tại sao cậu lại không để mắt đến cậu ấy, hả Willem? Tại sao những kẻ tự-xưng-mình-là bạn của cậu không làm gì hết hả?”

      

       “Bởi vì cậu ấy không muốn họ biết rằng cậu ấy tự cắt người mình, đó là lý do đấy! Và tôi không biết mọi chuyện lại khó khăn với cậu ấy đến mức này, Andy ạ,” anh nói. “Cậu ấy chẳng bao giờ nói gì với tôi cả. Làm sao mà tôi biết được cơ chứ?”

       “Bởi vì! Cậu phải biết! Mẹ kiếp, cậu sử dụng cái đầu đi chứ Willem!”

       “Mẹ kiếp, anh đừng có mà quát lên với tôi,” anh hét lên. “Anh chỉ đang nổi điên, Andy, bởi vì cậu ấy là bệnh nhân của anh và anh đếch nghĩ ra được cách nào để giúp cậu ấy trở nên khá hơn và vì thế mà anh đổ mọi chuyện lên đầu tôi.”

      

       Anh thấy hối hận ngay khi vừa nói ra câu đó, và trong giây phút ấy cả hai người đều im lặng, thở hổn hển trong điện thoại. “Andy,” anh bắt đầu.

      

       “Không,” Andy nói. “Cậu nói đúng, Willem. Tôi xin lỗi. Tôi xin lỗi.”

       “Không,” anh nói, “tôi xin lỗi.” Đột nhiên anh thấy thật khốn khổ, nghĩ về Jude trong cái phòng tắm xấu xí ở trên phố Lispenard ấy. Trước khi đi, anh đã tìm cái dao cạo của Jude khắp mọi nơi — bên dưới bồn xả nước của bồn cầu; đằng sau tủ thuốc; thậm chí là cả dưới các ngăn kéo của cái tủ, lôi từng cái ngăn kéo ra để mà kiểm tra hết khắp bề mặt của chúng — nhưng vẫn không thể tìm thấy. Nhưng Andy đã đúng — đấy trách nhiệm của anh. Đáng lý ra anh nên làm tốt hơn mới phải. Và anh đã không làm được, nên thật ra, anh đã thất bại.

       “Không,” Andy nói. “Tôi thực sự xin lỗi, Willem; điều này hoàn toàn không thể biện hộ được. Và cậu nói đúng — tôi không biết phải làm gì nữa.” Giọng anh nghe thật mệt mỏi. “Chỉ là vì cậu ấy có — cậu ấy có một cuộc đời bất hạnh, Willem ạ. Và cậu ấy tin tưởng cậu.”

       “Tôi biết,” anh lầm bầm. “Tôi biết là cậu ấy tin tôi.”

       Vì vậy, họ đã vạch ra một kế hoạch, và khi anh trở về nhà, anh trông chừng Jude chặt chẽ hơn so với trước đây, một quy trình cho thấy là không hề bị lộ một cách phi thường. Thực ra, trong khoảng một tháng sau khi lễ nhận nuôi diễn ra, Jude khác hẳn so với trước đây. Anh không xác định được chính xác: ngoại trừ những dịp hiếm hoi, anh chẳng thể nào xác định được ngày nào thì Jude thấy đau khổ và ngày nào thì không. Nó không giống như việc y thường ủ rũ và hờ hững và rồi, bỗng nhiên, lại không như vậy — hành vi và nhịp điệu và các cử chỉ cơ bản của y vẫn giống như trước đấy. Nhưng có điều gì đó đã thay đổi, và trong một thời gian ngắn, anh có cái cảm giác kỳ lạ rằng Jude mà anh biết đã được thay thế bởi một Jude khác, và rằng Jude này, cái sự thay đổi này, là một người mà anh có thể hỏi bất cứ điều gì, người có thể kể những câu chuyện hài hước về lũ thú cưng và những người bạn và những mẩu chuyện vụn vặt về thời thơ ấu, người chỉ mặc áo dài tay bởi vì anh ta thấy lạnh mà không phải bởi vì đang cố giấu diếm một điều gì đó. Anh quyết định rằng sẽ nắm bắt Jude theo những lời nói của y nhiều hết mức có thể: rốt cuộc, anh cũng chẳng phải là bác sĩ của y. Anh là bạn của y. Việc của anh là đối xử với y nhưng những gì mà y muốn được đối xử, chứ không phải là một đối tượng để mà theo dõi.

       Và vì vậy, ở một thời điểm nào đó, sự cảnh giác của anh giảm xuống, và rốt cuộc, Jude kia biến mất, quay trở lại vùng đất của những câu chuyện cổ tích và xứ sở thần tiên, và Jude mà anh biết lại trở về. Nhưng rồi, đôi khi, thật khó khăn để tự nhắc nhở mình rằng những gì mà anh biết về Jude chỉ là những gì mà Jude cho phép anh được biết: anh gọi cho Jude mỗi ngày khi anh đi xa quay phim, thường là vào một thời gian đã được hẹn trước, và có một ngày vào năm ngoái anh đã gọi và họ có một cuộc nói chuyện bình thường, giọng của Jude không có vẻ gì khác so với mọi khi, và hai người bọn họ cười phá lên trước một câu chuyện của Willem, khi anh nghe thấy rõ ràng tiếng thông báo trên loa dội lại từ xa như ở trong bệnh viện: “Mời bác sĩ Nesarian, bác sĩ  Nesarian đến phòng giải phẫu số ba.”

       “Jude?” anh hỏi.

       “Đừng lo, Willem,” y nói. “Tôi không sao. Tôi chỉ bị nhiễm trùng nhẹ thôi; tôi nghĩ là Andy hơi bị lo lắng thái quá.”

       “Nhiễm trùng gì thế? Chúa ơi, Jude!”

       “Nhiễm trùng máu, nhưng không sao đâu. Thật đấy, Willem, nếu nghiêm trọng, thì tôi đã nói với cậu rồi.”

       “Không, cậu không hề nói với tôi, Jude ạ. Nhiễm trùng máu rất nghiêm trọng đấy.”

       Y im lặng. “Tôi sẽ nói mà, Willem.”

       “Harold có biết không?”

       “Không,” y nói, gay gắt. “Và cậu không được nói với ông ấy đâu đấy.”

      

       Những cuộc mặc cả như thế này khiến anh choáng váng và khó chịu, và anh dành cả buổi tối để cố nhớ ra những cuộc nói chuyện từ tuần trước, nhặt nhạnh trong đó những manh mối về việc có điều gì đó có lẽ đã bị bỏ sót và anh có thể đã đơn giản, ngớ ngẩn bỏ qua nó. Trong những khoảnh khắc tự hỏi rộng lượng hơn, anh tưởng tượng rằng Jude là một ảo thuật gia chỉ có duy nhất một trò là che giấu, nhưng cứ mỗi năm, y lại thành thạo hơn, vì vậy mà giờ đây y chỉ cần lấy một phần của chiếc áo choàng của y để che trước mắt anh và y ngay lập tức trở nên vô hình, thậm chí là với cả những người biết y rõ nhất. Nhưng vào những lúc khác, anh cay đắng phẫn nộ với cái thủ thuật này, sự mệt mỏi của việc giữ những bí mật của Jude hết năm này qua năm khác mà vẫn chẳng được nhận lại điều gì ngoại trừ những thông tin vụn vặt nhất, của việc không có được cơ hội để được giúp đỡ y, để được công khai lo lắng cho y. Thật không công bằng, anh sẽ nghĩ như thế vào những lúc ấy. Đây không phải là tình bạn. Nó là một thứ gì đó, nhưng nó không phải là tình bạn. Anh cảm thấy anh đã bị đẩy vào một trò chơi của tội đồng lõa, một điều mà anh không bao giờ định tham gia vào. Mọi điều mà Jude nói với họ cho thấy rằng y không muốn được giúp đỡ. Và rằng y không thể chấp nhận điều đó. Câu hỏi về việc anh phớt lờ yêu cầu của người khác như thế nào hoàn toàn bị bỏ lại — ngay cả nếu điều ấy có nghĩa là gây nguy hiểm cho tình bạn. Đó là một công án đầy đau khổ: Làm thế thế nào để giúp đỡ một người không muốn được giúp đỡ trong khi nhận ra rằng nếu anh không cố gắng giúp, thì rồi anh chẳng phải là một người bạn? Hãy nói với tôi, đôi khi anh muốn hét lên như vậy với Jude. Hãy kể cho tôi nghe mọi chuyện. Hãy nói cho tôi biết tôi cần phải làm gì để khiến cậu nói ra với tôi.  

       Có một lần, trong một buổi tiệc, anh nghe được Jude kể với một ai đó rằng y kể cho anh, Willem, mọi điều, và anh vừa cao hứng vừa bối rối, bởi vì thực ra: anh chẳng biết gì cả. Đôi khi anh thấy thật kỳ lạ trước việc anh quan tâm nhường nào đến một người vẫn luôn từ chối cho anh biết bất cứ điều gì mà những người bạn vẫn thường chia sẻ với nhau — y sống ra sao trước khi họ gặp nhau, y sợ hãi điều gì, y khao khát điều gì, y thích thú trước điều gì, sự mệt nhọc và buồn bã của cuộc sống thường ngày. Bên cạnh việc không thể tự mình nói chuyện với Jude, anh thường ước rằng anh có thể nói được với Harold về Jude, và đoán ra ông biết đến bao nhiêu, và liệu, nếu như họ — và Andy — kết nối toàn bộ sự hiểu biết của mình lại với nhau, họ có thể sẽ tìm ra được một giải pháp. Nhưng đấy chỉ là mơ thôi: Jude sẽ không bao giờ tha thứ cho anh, và thay vì mối liên kết anh có được với y, anh sẽ chẳng còn gì nữa cả.

       Quay trở lại căn hộ, anh vội vã lục tung đống thư — anh hiếm khi nào nhận được những thứ thú vị: mọi thứ liên quan đến công việc đều được gửi cho người đại diện hoặc luật sư của anh; những thứ mang tính cá nhân thì gửi cho Jude — tìm thấy tập kịch bản mà anh đã bỏ quên ở đó tuần trước khi anh ghé qua căn hộ sau khi đi tập gym về; anh thậm chí còn chẳng cởi áo khoác ra.

Kể từ khi anh mua căn hộ vào một năm trước, tổng số thời gian anh đã sống ở đây là sáu tuần. Có một tấm nệm cứng trong phòng ngủ, và một chiếc bàn trà từ hồi còn ở phố Lispenard đặt trong phòng khách, và chiếc ghế thư giãn Fiberglass cũ mà JB nhặt được trên phố, và những thùng sách của anh. Nhưng chỉ có thế. Theo lý thuyết, Malcolm sẽ đảm nhiệm việc tân trang lại căn hộ, cải tạo căn phòng làm việc nhỏ thiếu không khí gần gian bếp thành một hốc tường của phòng ăn và giải quyết một danh sách những vấn đề khác nữa, nhưng Malcolm, như thể cảm nhận được sự thờ ơ của Willem, đã đưa căn hộ vào mức ưu tiên cuối cùng của mình. Đôi khi anh cũng phàn nàn về điều này, nhưng anh biết rằng đó không phải là lỗi của Malcolm: xét cho cùng, anh đã không trả lời những e-mail của Malcolm về việc hoàn thiện hoặc lựa chọn đá lát hay đo đạc cho cái giá sách tự đóng hay chiếc ghế bọc nệm mà Malcolm cần tới sự chấp thuận của anh trước khi đặt làm tại xưởng. Chỉ gần đây anh mới để văn phòng luật sư của mình gửi cho Malcolm những giấy tờ cần thiết cuối cùng để mà bắt đầu việc xây dựng, và tuần tiếp theo, họ cuối cùng cũng ngồi xuống và anh đã đưa ra một vài quyết định, và khi anh trở về nhà vào giữa tháng Một, căn hộ sẽ, như Malcolm hứa với anh, nếu như không hoàn toàn thay đổi, thì ít nhất cũng được cải thiện đáng kể.

Trong khi ấy, anh hầu như vẫn sống với Jude, trong căn hộ ở phố Greene mà anh chuyển tới ngay sau khi anh và Philippa chia tay. Anh lợi dụng việc căn hộ của mình đang được tu sửa lại, và lời hứa mà anh thực hiện với Andy, như là những lý do cho sự chiếm dụng vô thời hạn căn phòng ngủ còn lại của Jude, nhưng thực ra là anh cần tới sự bầu bạn của Jude và sự hiện diện bất biến của y. Khi anh đi quay phim ở Anh, ở Ireland, ở California, ở Pháp, ở Tangiers, ở Algeria, ở India, ở Philippines, ở Canada, anh cần phải có được sự hình dung về điều gì đang chờ đợi anh ở nhà ở New York, và cái hình ảnh ấy không bao giờ là về phố Perry. Nhà đối với anh mà nói chính là phố Greene, và khi mà anh đi xa và chỉ có một mình, anh lại nghĩ về phố Greene, và căn phòng của anh ở đó, và về những cuối tuần, sau khi Jude đã hoàn tất công việc của mình, họ sẽ thức thật khuya, trò chuyện, và anh sẽ cảm thấy rằng thời gian đang trôi qua thật chậm và như nở ra, khiến cho anh tin rằng đêm ấy sẽ được kéo dài mãi mãi.

Và giờ đây anh cuối cùng cũng trở về nhà. Anh chạy xuống cầu thang và ra khỏi cổng chính và đi vào phố Perry. Trời về đêm trở lạnh, và anh đi vội vã, gần như là chạy, tận hưởng như khi anh luôn được một mình dạo phố, khi được ở một mình trong cái thành phố đầy người này. Đó là một trong số những điều mà anh thấy nhớ nhất. Khi đóng phim, anh chẳng bao giờ phải ở một mình. Một trợ lý đạo diễn sẽ đưa anh đi tới phòng nghỉ dành cho diễn viên và quay về trường quay, dù cho phòng nghỉ và trường quay cách nhau tận năm mươi thước. Khi anh đã quen với sơ đồ của trường quay, đầu tiên anh sẽ bị giật mình, rồi thích thú, và rồi, cuối cùng, cảm thấy bực bội với cái lối đối xử với diễn viên như với con nít mà ngành làm phim dường như đang cổ vũ. Anh đôi khi sẽ cảm thấy rằng mình đang bị trói lại, vào một cột trụ, trên một giàn trượt và được đưa đi từ chỗ này sang chỗ khác: anh đi tới phòng trang điểm và rồi tới khu phục trang. Rồi anh đi vào trường quay, và rồi anh quay trở lại phòng nghỉ của mình, và rồi, một hoặc hai giờ sau, anh sẽ được đón từ phòng nghỉ và được hộ tống đến trường quay một lần nữa.  

“Đừng bao giờ để tôi quen thuộc với điều này,” anh yêu cầu Jude, gần như là cầu xin y. Đó là lời kết trong tất cả những câu chuyện của anh: về những bữa trưa mà tại đó mọi người đều phân biệt bản thân bằng thứ hạng và đẳng cấp – các diễn viên và đạo diễn ở một bàn, những người quay phim ở một chiếc bàn khác, thợ điện ngồi ở chiếc bàn thứ ba, những người khuân vác các thiết bị ngồi ở bàn thứ tư, bộ phận phục trang ở chiếc bàn thứ năm – và anh sẽ nói chuyện phiếm về việc tập tành của mình, và những nhà hàng mà anh muốn ghé qua, và chế độ ăn kiêng mà anh đang theo, và các huấn luyện viên, và thuốc lá (anh muốn được hút thuốc đến nhường nào), và việc chăm sóc da mặt (anh cần nó tới nhường nào); về các thành viên trong đoàn làm phim, những người vừa căm ghét các diễn viên và vẫn bối rối trước mỗi sự chú ý nhỏ bé nhất từ họ; về tính cách giống như lũ mèo của đội ngũ trang điểm và làm tóc, những người biết rất nhiều thông tin về đời sống riêng tư của các diễn viên, luôn biết rằng cần phải giữ mồm giữ miệng và khiến cho bản thân mình trở nên hoàn toàn vô hình khi mà họ chỉnh trang lại mái tóc hay dặm lại phấn trong lúc nghe thấy các nữ diễn viên quát tháo bạn trai của mình và các nam diễn viên thì thầm sắp xếp một buổi hẹn hò vào tối muộn qua điện thoại, trong khi đang ngồi trên ghế trang điểm. Chính trong những khung cảnh đó mà anh đã nhận ra rằng anh được bảo vệ nhiều hơn những gì anh từng hình dung, và đồng thời cũng thật dễ dàng, thật cám dỗ làm sao, để bắt đầu tin vào cái đời sống nơi trường quay ấy – nơi mà mọi thứ đều được dâng lên cho anh, và là nơi mà mặt trời có lẽ là sinh ra để rọi sáng cho anh – thực ra chính là cuộc sống.      

Có một lần khi anh đang đứng vào vị trí của mình trong lúc nhà làm phim thực hiện sự điều chỉnh cuối cùng, trước khi bước tới và khẽ vuốt tóc anh – “Tóc của anh ấy!” trợ lý đạo diễn thứ nhất hét lên, cảnh báo – và dịch nó sang bên trái một in-sơ, và rồi sang bên phải, và rồi lại sang bên trái, như thể anh ta đang đặt một chiếc lọ hoa trên mặt lò sưởi vậy.

“Đừng di chuyển, Willem,” anh ta nhắc nhở, và anh phải hứa rằng anh sẽ không làm vậy, gần như nín thở, nhưng thật ra anh chỉ muốn bật cười khúc khích. Bỗng nhiên anh lại nhớ đến cha mẹ mình – những người, điều khiến anh cảm thấy bối rối, khi ngày một già hơn anh lại càng nghĩ tới họ nhiều hơn – và Hemming, và trong vòng nửa giây, anh nhìn thấy họ đứng ngay bên cạnh trường quay ở bên tay trái anh, chỉ vừa đủ xa khỏi tầm mắt để anh không thể thấy rõ được mặt người, những biểu cảm mà anh không thể tưởng tượng ra được.

Anh thích kể với Jude tất cả những điều này, khiến những ngày của anh trên trường quay trở nên vui vẻ và tươi sáng. Đấy không phải là những gì mà anh nghĩ về việc đóng phim, nhưng anh thì biết gì về việc đóng phim kia chứ? Anh luôn ở trong tư thế sẵn sàng, anh luôn luôn đúng giờ, anh tỏ ra lịch sự với tất cả mọi người, anh làm những gì mà nhà làm phim bảo anh làm và chỉ tranh cãi với đạo diễn khi thật cần thiết. Nhưng thậm chí là trong tất cả những bộ phim sau này – mười hai bộ phim trong vòng năm năm qua, tám phim trong vòng hai năm – và qua tất cả những sự ngớ ngẩn của chúng, anh thấy kỳ dị ở trong giây phút trước khi máy bắt đầu quay. Anh đứng ở vị trí ban đầu của mình; anh đứng ở vị trí thứ hai của mình; người quay phim hô lên rằng anh ta đã sẵn sàng.   

“Trang điểm!” trợ lý đạo diễn hô lên, và bộ phận trang điểm – làm tóc, trang điểm, trang phục – vộ vã chạy tới bên anh như thể một lũ kền kền lao vào cái xác thối, gạt tóc anh và kéo thẳng chiếc áo sơ mi của anh và đánh lại phấn mắt cho anh bằng chiếc cọ mềm. Chỉ mất có khoảng ba mươi giây, nhưng trong ba mươi giây ấy, anh nhắm mắt lại để bụi phấn không rơi vào mắt mình, tay của những người khác di duyển đầy chiếm hữu trên cơ thể và đầu tóc anh như thể chúng không còn thuộc về anh nữa, anh có một cảm giác kỳ lạ rằng anh đã ra đi, rằng anh đang lơ lửng trên không trung, và rằng cuộc đời anh chỉ là một sự tưởng tượng. Trong những giây phút ấy, một cơn lốc hình ảnh vụt hiện lên trong đầu anh, quá nhanh và hỗn loạn để có thể nhận biết được từng khung hình trong đó: đây là cảnh mà anh chuẩn bị đóng, dĩ nhiên, và cảnh mà anh đã diễn trước đó, nhưng đồng thời cũng là tất cả những điều chiếm trọn anh, luôn luôn, những điều anh nhìn thấy và nghe thấy và ghi nhớ trước khi anh ngủ thiếp đi vào ban đêm – Hemming và JB và Malcolm và Harold và Julia. Jude.

Cậu có hạnh phúc không? anh từng hỏi Jude (khi ấy họ hẳn đã say).

Tôi không nghĩ rằng hạnh phúc là thứ được dành cho tôi, cuối cùng Jude nói, như thể Willem vừa mới mời y ăn một món mà y không muốn ăn vậy. Nhưng nó được dành cho cậu, Willem ạ.

Khi tổ Phục trang kéo và giật khắp người anh, anh nhận ra anh nên hỏi Jude có ý gì khi nói như vậy: tại sao hạnh phúc lại là dành cho anh mà không phải cho Jude. Nhưng vào lúc anh hoàn thành cảnh quay, anh đã không nhớ ra được cái câu hỏi ấy, hay cuộc nói chuyện gợi ra câu hỏi ấy.

“Âm thanh!” trợ lý đạo diễn thứ nhất hô lên, và tổ trang điểm rút lui.

“Mở máy,” người phụ trách âm thanh lên tiếng, mà có nghĩa là anh ta sẽ bắt đầu thu âm.

“Chạy máy quay,” người quay phim hô, và rồi là tiếng hô báo hiệu cảnh quay, và tiếng dập bản ra hiệu bắt đầu quay phim.

Và rồi anh mở mắt ra.

 


[1] tobiko: trứng cá chuồn, được dùng nhiều trong ẩm thực Nhật Bản, đặc biệt là các món sushi

 

[2] Phim độc lập (tiếng Anh: independent film, independent movie, indie film hoặc indie movie) là một phim dài sản xuất bên ngoài hệ thống hãng phim lớn, thay vào đó là sản xuất và phân phối bởi các cơ quan giải trí độc lập. Phim độc lập đôi khi có thể phân biệt bởi nội dung và phong cách của phim và theo cách nhìn nghệ thuật cá nhân của nhà làm phim. Dù không phải luôn luôn nhưng thông thường phim độc lập được thực hiện với kinh phí thấp hơn đáng kể so với các hãng phim lớn

 

[3] Herodotos xứ Halikarnasseus, còn gọi là Hérodote hay Hêrôđôt là một nhà sử học người Hy Lạp sống ở thế kỷ 5 trước Công nguyên (khoảng 484 TCN – 425 TCN), ông được coi là “người cha của môn sử học” trong văn hóa phương Tây. Herodotos là nhà sử học đầu tiên sưu tầm tài liệu một cách có hệ thống, kiểm tra độ chính xác ở một mức độ nào đó và sắp xếp thành những thể truyện sống động và có cấu trúc tốt. Ông được biết đến nhiều nhất qua tác phẩm Historiai (tiếng Hy Lạp: Iστορίαι), một tài liệu ghi chép những cuộc tra cứu của ông về nguồn gốc cuộc chiến tranh Ba Tư-Hy Lạp xảy ra vào giai đoạn từ 490 đến 479 TCN, và, rộng rãi hơn, về huyền sử, lịch sử hoặc phong tục của rất nhiều chủng tộc sinh sống trên ba châu Á, Âu, Phi – những châu lục mà ông đã đi du lịch.

[4] Ivar the Boneless (Ivar không xương) hay King Ivar Ragnarsson Of Sweden (Vua Ivar Ragnarsson của Thụy Điển) (sinh năm 794 – 872 tại Dublin) là biệt danh của Ivar Ragnarsson. Ông là thủ lĩnh của bộ tộc Viking (và cũng nổi tiếng là một người vô cùng hung hăng). Vào năm 865, cùng với các anh em của mình là Halfdan Ragnarsson (Halfdene) và Ubbe Ragnarsson (Hubba), đã lãnh đạo đội quân Great Heathen Army xâm chiếm khu vực East Anglian của nước Anh. Năm tiếp theo Ivar dẫn đầu đội quân của mình lên phương bắc trên lưng ngựa và dễ dàng chiếm đóng Jorvik (mà người Đan Mạch gọi là xứ York) từ những người Northumbria lúc đó đang tham gia vào cuộc nội chiến. Ivar cũng là người sát hại St Edmund của xứ East Anglia vào năm 869.

 

 

 

Advertisements