ab50a30da4eec7822b7b69ba0fce5fcc

 

CHƯƠNG 3 (tiếp)

 

 

Là ý của y (được chia sẻ bởi Julia) cho rằng Harold có khuynh hướng khiến cho lễ Tạ ơn trở nên phức tạp hơn so với mức cần thiết. Mỗi năm kể từ lần đầu tiên y được mời tới nhà của Harold và Julia trong dịp lễ, Harold hứa với y — thường là vào đầu tháng Mười một, khi mà y vẫn còn đầy hào hứng với kế hoạch — rằng năm nay ông sẽ làm y ngạc nhiên bằng cách nâng cao truyền thống ẩm thực nhàm chán của nước Mỹ. Harold luôn bắt đầu với những tham vọng lớn: vào lễ Tạ ơn đầu tiên của họ, vào chín năm trước, hồi y còn học năm thứ hai trường luật, Harold đã tuyên bố rằng ông sẽ làm món vịt sốt cam, với vị quất làm chủ đạo thay cho cam.

       Nhưng khi y tới nhà Harold với chiếc bánh ngọt nhân hồ đào mà y đã tự nướng vào đêm hôm trước, chỉ có mình Julia đón y nơi bậc cửa. “Đừng có nhắc đến vịt nhé,” bà nói thầm với y khi hôn chào y. Trong bếp, một Harold nom có vẻ căng thăng đang lấy một con gà tây lớn ra khỏi lò nướng.  

       “Đừng có nói gì cả,” Harold cảnh cáo y.

       “Em sẽ nói gì chứ?” y hỏi.

       Năm nay, Harold hỏi y thấy thế nào về cá hồi. “Cá hồi nhồi gì đó,” ông thêm vào.

       “Em thích cá hồi,” y trả lời, đầy thận trọng. “Nhưng thầy biết đấy, Harold, em thực sự thích gà tây.” Họ có vô số những phiên bản khác nhau của cuộc đối thoại kiểu này vào mỗi năm, với việc Harold đưa ra vô số các loài vật và các loại protein — món chân gà ác hấp cách thủy, thịt thăn bò phi lê, đậu phụ với mộc nhĩ, món salad cá ngần xông khói với rượu whiskey nhà làm — cũng như là sự nâng cấp của món gà tây.

       “Chẳng có ai thích gà tây hết, Jude ạ,” Harold nói, mất kiên nhẫn. “Thầy biết em đang làm gì đấy. Đừng có mà xúc phạm tôi bằng cách vờ vịt rằng em thích món gà tây bởi vì em không nghĩ là tôi thật sự có thể làm được món nào khác. Chúng ta sẽ có món cá hồi, thế thôi. À, em có thể làm cái bánh mà em làm vào năm ngoái không? Thầy nghĩ là nó sẽ rất hợp với chai rượu của thầy. Chỉ cần gửi cho thầy danh sách những thứ em cần là được.”

       Điều rắc rối, y luôn nghĩ, là nói chung, Harold không mê thức ăn (hay rượu) đến thế. Thực ra, ông có vị giác rất tệ, và ông thường đưa y tới những nhà hàng quá mức đắt đỏ nhưng lại rất xoàng, nơi mà Harold sẽ vui sướng ngấu nghiến một đĩa đầy thứ thịt cháy đen và đống mì sợi được trình bày lộn xộn đến độ không tưởng tượng nổi. Y và Julia (người cũng ít có hứng thú với ẩm thực) bàn về sự nhất quán kỳ lạ của Harold mỗi năm: Harold có rất nhiều nỗi ám ảnh, một vài trong số những nỗi ám ảnh khó lòng hiểu nổi, thì điều này thật đặc biệt, và đặc biệt hơn nhiều vì sự dai dẳng của nó.

       Willem cho rằng kế hoạch lễ Tạ ơn của Harold bắt đầu như một ngôi làng Do Thái nhỏ ở Đông Âu, nhưng qua nhiều năm, nó đã biến đổi thành một thứ gì đó nghiêm túc hơn, và giờ đây ông thực sự không thể dừng lại, cho dù ông chưa bao giờ thành công.

       “Nhưng cậu biết đấy,” Willem nói, “thật sự thì tất cả là vì cậu.”

       “Ý cậu là gì?” y hỏi.

       “Đó là một cuộc trình diễn dành cho cậu,” Willem nói. “Đó là cách của ông ấy để nói với cậu rằng ông đủ quan tâm tới cậu để cố gắng làm cậu ấn tượng, mà không thực sự nói ra rằng ông quan tâm tới cậu.”

       Y bác bỏ ngay lập tức: “Tôi không nghĩ vậy đâu, Willem.” Nhưng đôi khi, y giả vờ với bản thân mình rằng Willem có thể đã đúng, cảm thấy thật ngớ ngẩn và có đôi chút đáng thương hại bởi vì cái ý nghĩ ấy mới khiến y hạnh phúc làm sao.

       Năm nay Willem là người duy nhất tới dự lễ Tạ ơn: vào lúc y và JB làm lành, JB đã lên kế hoạch đến nhà dì mình cùng với Malcolm; khi mà hắn cố gắng hủy bỏ kế hoạch, họ đã khó chịu đến mức hắn quyết định không chống đối họ thêm nữa.

       “Năm nay có món gì?” Willem hỏi. Họ đang đón tàu vào ngày thứ Tư, vào đêm trước lễ Tạ ơn. “Nai sừng tấm? Thịt nai? Thịt rùa?”

       “Cá hồi,” y trả lời.

      

       “Cá hồi!” Willem thốt lên. “Ô, cá hồi thì dễ rồi. Ta có thể sẽ được ăn món cá hồi vào năm nay.”  

       “Ông ấy bảo ông sẽ nhồi nó với thứ gì đó.”

       “Ôi. Tôi xin rút lại lời mình vừa nói.”

       Bữa tối có tám người: Harold và Julia, Laurence và Gillian, James – bạn của Julia và bạn trai của ông Carey, và y và Willem.

       “Đây là món cá hồi xuất sắc, Harold,” Willem nói, cắt miếng gà tây thứ hai vào đĩa của mình, và mọi người đều bật cười.

       Từ khi nào, y tự hỏi, y đã không còn cảm thấy hồi hộp và lạc lõng trong những bữa tối tại nhà Harold? Chắc chắn, bạn bè của y đã giúp. Harold thích đấu khẩu với họ, thích khiêu khích JB với những nhận định dễ xúc phạm và mập mờ mang tính phân biệt chủng tộc, thích trêu chọc Willem về việc khi nào thì anh mới chịu lập gia đình, thích tranh luận về các cấu trúc và xu hướng thẩm mỹ với Malcolm. Y biết Harold thích thú việc trò chuyện cùng họ, và rằng họ cũng thích điều này, và nó mang đến cho y cơ hội được đơn giản lắng nghe họ là chính mình mà không cảm thấy cần phải tham dự vào; họ là một đàn vẹt khoe bộ lông sặc sỡ của mình với nhau, thể hiện bản thân với những người bạn của mình mà không hề cảm thấy sợ hãi hay giả dối.   

       Bữa tiệc tối xoay quanh câu chuyện về cô con gái của James, người vừa mới kết hôn vào mùa hè. “Tôi thành ông già mất rồi,” James than thở, và Laurence và Gillian, những người có con gái vẫn còn đang học đại học và mừng lễ tại nhà của bạn bè chúng ở Carmel, bày tỏ sự thông cảm.

       “Điều này nhắc nhở tôi,” Harold nói, nhìn vào y và Willem, “khi nào thì hai cậu mới chịu cưới vợ đây phỏng?”

       “Tôi nghĩ là ông ấy bảo cậu đấy,” y mỉm cười với Willem.

      

       “Harold, cháu mới có ba mươi hai!” Willem chống chế, và mọi người lại phá lên cười khi Harold thổi phì phì: “Gì thế, Willem? Đấy là một lời giải thích đấy hử? Hay là lời biện hộ đây? Cậu không còn mười sáu đâu đấy nhá!”

       Nhưng dù y có thích thú buổi tối đó ra sao, một phần trong y vẫn lên tiếng và lo lắng, bất an về cuộc nói chuyện mà Harold và Julia muốn thực hiện với y vào ngày hôm sau. Y cuối cùng cũng nhắc tới điều đó với Willem trong chuyến đi, và trong lúc, khi mà hai người bọn họ làm việc cùng nhau (nhồi gà tây, rửa khoai tây, dọn bàn), họ cố luận ra điều mà Harold định nói với y. Sau bữa tối, họ mặc vào áo khoác và ra ngồi ở khu vườn sau nhà, và lại bắt đầu suy nghĩ tới điều này.

       Chí ít thì y cũng biết rằng họ không gặp phải vấn đề gì cả — đó là điều đầu tiên mà khi gặp y, Harold đã cam đoan với y rằng cả công và Julia đều ổn. Vậy thì, có thể là chuyện gì đây?

       “Có lẽ là ông nghĩ rằng tôi ở bên hai người nhiều quá,” y tâm sự với Willem. Có lẽ là Harold, chỉ đơn giản là, đã phát ốm với y.

       “Không thể nào,” Willem nói, một cách nhanh chóng và quả quyết khiến y thấy nhẹ nhõm. Rồi họ im lặng. “Có lẽ một trong hai người nhận được lời mời làm việc và họ sẽ chuyển đi?”

       “Tôi cũng đã nghĩ tới điều đó. Nhưng tôi không cho là Harold sẽ rời khỏi Boston. Cả Julia cũng vậy.”

       Rốt cuộc, không có nhiều lựa chọn, ít nhất là không có nhiều lựa chọn có thể khiến cuộc nói chuyện với y là cần thiết: có lẽ họ đang bán ngôi nhà ở Truro (nhưng tại sao họ lại cần phải nói với y về việc đó, dù cho y có yêu thích ngôi nhà ra sao đi nữa). Có lẽ Harold và Julia sắp sửa bỏ nhau (nhưng họ vẫn đối xử với nhau như hồi mà y mới vừa gặp họ). Có lẽ họ sẽ bán căn hộ ở New York và muốn biết liệu y có muốn mua nó từ họ hay không (điều này cũng không thể xảy ra: y chắc rằng họ sẽ không bao giờ bán căn hộ ấy). Có lẽ họ sẽ sửa sang lại căn hộ và cần y giám sát hộ việc này.

       Và rồi sự suy đoán của họ ngày càng trở nên cụ thể và đâu đâu hơn: có lẽ Julia sẽ thừa nhận mình là người đồng tính (hoặc có thể là Harold). Có lẽ Harold vừa mới được tái sinh (hoặc có thể là Julia). Có lẽ họ sẽ nghỉ việc, chuyển đến một chốn thanh tịnh nào đó ở ngoại ô New York. Có lẽ họ sẽ trở thành những nhà tu hành khổ hạnh và sẽ tới sống ở thung lũng Kashmir[1] xa xôi. Có lẽ cả hai vợ chồng sẽ tiến hành phẫu thuật thẩm mỹ. Có lẽ Harold sẽ trở thành thành viên của Đảng Cộng hòa. Có lẽ Julia đã tìm thấy Chúa. Có lẽ Harold đã được tiến cử làm trưởng bang cố vấn tư pháp của bang. Có lẽ Julia đã được chính quyền Tây Tạng lưu vong công nhận là Ban-thiền Lạt-ma[2] tái thế và sẽ chuyển đến Dharamsala[3]. Có lẽ Harold đang tranh cử tổng thống với tư cách là một ứng cử viên của đảng Xã hội. Có lẽ họ sẽ mở một nhà hàng trên quảng trường và chỉ phục vụ độc một món gà tây nhồi các loại thịt khác. Lúc này hai người bật cười ngặt nghẽo, bởi vì lo lắng, sự tự xoa dịu đầy bất lực của việc không biết cũng như là bởi sự ngớ ngẩn trong những dự đoán của họ, và họ bò lăn trên ghế, dí cổ áo khoác vào miệng để ngăn tiếng ồn, nước mắt họ lạnh tê tái trên đôi gò má.  

       Dù vậy, khi nằm trên giường, y quay trở lại với cái ý nghĩ đã len lỏi, như là xúc tua, từ không gian tăm tối của tâm trí và đã lách mình vào trong tâm thức y như là một sợi cây leo mỏng manh: có lẽ một trong hai người bọn họ đã phát hiện ra điều gì đó về cái con người mà y từng là. Có lẽ bằng chứng sẽ được đưa ra trước mặt y — một bản báo cáo của bác sĩ, một bức ảnh, một (đây sẽ là ác mộng) thước phim. Y đã quyết định rằng y sẽ không phủ nhận, y sẽ không trãnh cãi, y sẽ không tự biện hộ cho mình. Y sẽ chấp nhận sự thật, y sẽ xin lỗi, y sẽ giải thích rằng y chưa bao giờ có ý lừa dối họ, y sẽ đề nghị rằng không liên lạc với họ nữa, và rồi y sẽ rời đi. Y sẽ chỉ yêu cầu họ có một điều rằng hãy giữ bí mật giùm y, đừng nói với một ai hết cả. Y luyện tập nói những lời này: Em xin lỗi, thầy Harold. Em xin lỗi, cô Julia. Em không bao giờ cố ý làm khó dễ hai người. Nhưng dĩ nhiên đó chỉ là một lời xin lỗi vô nghĩa. Có thể y không cố ý làm vậy, nhưng nào có khác biệt gì: y sẽ làm vậy; y đã làm vậy.

      

       Willem rời đi vào sáng ngày hôm sau; anh có một buổi diễn vào tối hôm đó. “Hãy gọi cho tôi ngay nhé, được chứ?” anh yêu cầu, và y gật đầu. “Sẽ ổn cả thôi, Jude ạ,” anh hứa với y. “Dù có là gì đi nữa, chúng ta sẽ nghĩ ra cách. Đừng lo lắng, nhé?”

       “Cậu biết là tôi sẽ vẫn lo mà,” y nói, và cố gắng mỉm cười với Willem.

       “Ừ, tôi biết,” Willem trả lời. “Nhưng hãy cố gắng nhé. Và hãy gọi cho tôi.”

       Phần thời gian còn lại trong ngày y cố giữ cho mình bận rộn — luôn có nhiều chỗ phải dọn dẹp trong nhà, cả Harold và Julia đều không phải là những người quá ngăn nắp — và vào thời điểm họ ngồi xuống bàn dùng bữa tối sớm y đã làm sẵn món gà tây hầm và salad củ cải đỏ, y cảm thấy vô cùng lo lắng và chỉ có thể vờ như đang ăn, di chuyển thức ăn vòng quanh cái đĩa như là chiếc kim la bàn, hi vọng rằng Harold và Julia sẽ không nhận ra. Sau đó, y bắt đầu xếp đĩa chồng lên nhau để mang chúng xuống dưới bếp, nhưng Harold ngăn y lại. “Cứ để đó, Jude ạ,” ông nói. “Có lẽ bây giờ chúng ta nên nói chuyện thôi nhỉ?”

       Y cảm thấy mình suýt ngã quỵ vì hoảng hốt. “Em nên tráng qua nước cái đã, nếu không mọi thứ sẽ bị đông lại mất,” y chống chế, không ra đâu vào đâu, những lời ngu ngốc.

       “Cứ kệ mẹ mấy cái đĩa ấy,” Harold nói, và mặc dù y biết rằng Harold thực sự chẳng thèm bận tâm gì đến thứ bị đông lại trên mấy cái đĩa của ông, trong một khoảnh khắc y tự hỏi rằng liệu sự không để ý của ông có phải là quá tự nhiên hay không, một sự vờ vịt để che giấu sự thật. Nhưng cuối cùng, y chẳng thể làm được gì ngoài việc để những chiếc đĩa xuống và lê bước theo Harold đi vào phòng khách, nơi mà Julia đang rót cà phê cho mình và Harold, và rót trà cho y.

       Y ngồi xuống chiếc ghế xô-pha, và Harold ngồi xuống chiếc ghế bên trái y, và Julia chọn chiếc ghế dài bọc đệm trước mặt y: những chỗ mà họ vẫn luôn ngồi, chiếc bàn thấp được đặt ở giữa họ, và y ước gì giây phút này sẽ kéo dài mãi, nếu như đây là giây phút cuối cùng ở đây mà y còn có được, lần cuối cùng mà y còn ngồi trong căn phòng mờ tối ấm áp này, với những quyển sách và bánh tạc, với mùi hương ngọt dịu của tinh dầu táo và chiếc thảm Thổ Nhĩ Kỳ có màu xanh đỏ oằn mình thành từng nếp gấp bên dưới chiếc bàn cà phê, và lớp vải bọc đệm ghế xô-pha đã bị bào mòn đến mỏng đi và y có thể thấy lớp vải mút-xơ-lin màu trắng ở bên dưới — tất cả những điều mà y cho phép trở nên thật thân thuộc với mình, bởi vì chúng thuộc về Harold và Julia, và bởi vì y cho phép mình nghĩ rằng ngôi nhà của họ cũng là nhà của y.

       Trong một lúc họ đều uống nước trong cốc của mình, và không một ai nhìn vào ai, và y cố gắng giả vờ như thể đây chỉ là một buổi tối bình thường, mặc dầu nếu như đây là một tối bình thường, không một ai sẽ im lặng đến thế.

       “À,” Harold cuối cùng cũng lên tiếng, và y đặt cái cốc của mình xuống, chuẩn bị sẵn sàng. Dù ông ấy có nói gì, y tự nhắc nhở bản thân, đừng tự viện lý do cho bản thân mày. Dù ông có nói gì, hãy chấp nhận, và cảm ơn ông vì tất cả mọi thứ.

       Có một sự yên lặng dài. “Thật là khó để mở lời,” Harold tiếp tục, và xoay chiếc cốc của mình trong lòng bàn tay, và y cố gắng vượt qua quãng im lặng tiếp theo của Harold. “Anh đã viết sẵn ra giấy rồi, đúng không nhỉ?” ông hỏi Julia, và bà gật đầu. “Nhưng mà anh hồi hộp hơn là anh nghĩ đấy.”

       “Em biết,” bà nói. “Nhưng anh đang làm rất tốt.”

       “Ha!” Harold trả lời. “Dù sao thì, em cũng thật dễ thương khi nói dối anh như vậy,” và mỉm cười với bà, và y có cảm giác rằng chỉ còn có hai người bọn họ ở trong căn phòng này, và rằng trong một khoảnh khắc, họ đã quên mất y còn hiện diện ở đây. Nhưng rồi Harold lại im lặng lần nữa, cố gắng nói ra những điều mà ông sắp nói.

       “Jude, thầy — chúng tôi — đã biết em cả chục năm rồi,” Harold cuối cùng cũng nói, và y nhìn lên khi đôi mắt của Harold chuyển sang nhìn y rồi nhìn đi hướng khác, ở một nơi nào đấy phía trên đầu Julia. “Và trong những năm qua, em đã trở nên vô cùng thân thiết với chúng tôi; cả hai chúng tôi. Em là người bạn của chúng tôi, dĩ nhiên rồi, nhưng chúng tôi nghĩ về em nhiều hơn là một người bạn; như một người còn quan trọng hơn thế.” Ông nhìn Julia, và bà gật đầu với ông lần nữa. “Vì thế tôi mong rằng em sẽ không nghĩ điều này là — quá phận, tôi cho là vậy — nhưng chúng tôi muốn hỏi rằng liệu em có thể cân nhắc đến việc cho phép chúng tôi, à, nhận nuôi em không?” Bây giờ ông lại quay sang nhìn y, và mỉm cười. “Em sẽ trở thành con trai hợp pháp của chúng tôi, người thừa kế hợp pháp của chúng tôi, và một ngày nào đó tất cả những thứ này” — ông vung cánh tay rảnh của mình lên không trung thành một cử chỉ tượng trưng cho sự bao quát — “sẽ là của em, nếu như em muốn.”

       Y im lặng. Y không thể nói, y không thể phản ứng; y thậm chí còn không thể cảm nhận được khuôn mặt mình, không thể nhìn thấy được những biểu cảm mà nó có thể thể hiện, và Julia xen vào. “Jude,” bà nói, “nếu như em không thích, vì bất cứ lý do gì đi nữa, thì chúng tôi cũng đều hiểu cả. Chúng tôi biết rằng đây là sự đòi hỏi quá đáng. Nếu như em nói không, thì điều đó không hề thay đổi những gì mà chúng tôi cảm thấy về em, đúng không, anh Harold? Em sẽ luôn, luôn được chào đón ở đây, và chúng tôi hi vọng rằng em sẽ luôn là một phần trong cuộc đời chúng tôi. Tôi nói thật đấy, Jude ạ — chúng tôi sẽ không giận đâu, và em đừng cảm thấy buồn vì điều đó, nhé.” Bà nhìn y. “Em có muốn dành thời gian để suy nghĩ về việc này hay không?”

       Và rồi y có thể cảm thấy sự chết lặng dần lùi xa, mặc dù như thể trong một sự cân bằng tâm lý, bàn tay y bắt đầu run rẩy, và y túm lấy một trong số những chiếc gối và ôm lấy nó để che giấu. Y phải cố gắng vài lần mới có thể nói được, nhưng khi y làm vậy, y chẳng thể nhìn vào hai người họ. “Em không cần phải nghĩ về điều này đâu ạ,” y nói, và với y giọng mình nghe thật xa lạ và thật mỏng manh. “Harold, Julia — hai người đang đùa đấy ư? Chẳng có gì — không một điều gì — mà em mong muốn nhiều hơn thế. Cả cuộc đời em. Em chỉ không bao giờ nghĩ—” Y dừng lại; y đang nói chuyện không ra đâu vào đâu. Trong một phút tất cả đều yên lặng, và y cuối cùng cũng có thể nhìn vào cả hai người. “Em nghĩ rằng hai người sẽ nói với em rằng hai người không muốn làm bạn với em nữa.”

       “Ôi, Jude,” Julia lên tiếng, và Harold trông thật bối rối. “Tại sao con lại nghĩ như vậy?” ông hỏi.

       Nhưng y chỉ lắc đầu, không thể nào giải thích được với họ.

       Họ lại im lặng, và rồi tất cả đều mỉm cười — Julia với Harold, Harold với y, y với chiếc gối ôm — không biết làm thế nào để kết thúc khoảnh khắc này, không biết sẽ tiếp tục tới đâu. Cuối cùng, Julia vỗ hai tay lại với nhau và đứng dậy. “Sâm-banh!” bà nói, và rời khỏi căn phòng.

       Y và Harold cũng đứng dậy và nhìn nhau. “Con chắc chứ?” Harold hỏi y, lặng lẽ.

      

       “Con chắc như cha vậy,” y trả lời, cũng khẽ khàng như thế. Có thể đưa ra một lời bông đùa chẳng mấy sáng tạo và hiển nhiên, về việc chuyện này cứ như là một lời cầu hôn, nhưng y nào dám làm vậy.

       “Rồi con sẽ nhận ra con sẽ phải gắn bó với chúng ta suốt đời,” Harold mỉm cười, đặt tay lên vai y, và y gật đầu. Y hi vọng rằng Harold sẽ không nói thêm một lời nào nữa cả, bởi vì nếu ông làm vậy, y sẽ khóc mất, hoặc nôn mửa, hoặc ngất xỉu, hoặc gào thét, hoặc bùng cháy. Y nhận ra, một cách đột ngột, rằng y thấy kiệt sức, hoàn toàn suy yếu đến nhường nào, vì suốt vài tuần sống trong tâm trạng lo lắng vừa qua cũng như vì suốt ba mươi năm khao khát, mong muốn, ước ao mạnh mẽ dù cho y có tự nhủ với lòng rằng y chẳng bận tâm, ngay lúc đó họ nâng ly chúc mừng nhau và đầu tiên là Julia rồi đến Harold ôm y — cái cảm giác được ôm bởi Harold thật xa lạ và gần gũi khiến y suýt chút nữa rụt người lại — y thở phào nhẹ nhõm khi Harold bảo với y rằng cứ để đống bát đĩa lại và hãy lên giường đi ngủ.

       Khi y về phòng mình, y nằm trên giường suốt nửa giờ trước khi y có thể nghĩ đến việc tìm chiếc điện thoại của mình. Y cần phải cảm thấy sự vững chắc của chiếc giường bên dưới y, sự mềm mại của chiếc chăn chạm vào má y, độ quen thuộc của tấm đệm khi y trở mình trên đó. Y cần cam đoan với bản thân mình rằng đây là thế giới của y, và y vẫn còn ở trong đó, và rằng những gì từng xảy ra đều đã xảy ra. Bỗng nhiên, y nghĩ, về lần nói chuyện với Tu huynh Peter, mà y hỏi tu huynh rằng ông ta có nghĩ rằng y sẽ được nhận nuôi hay không, và tu huynh bật cười. “Không,” ông ta nói, dứt khoát đến nỗi y không bao giờ hỏi lại câu ấy một lần nữa. Và mặc dù khi ấy y vẫn còn rất nhỏ, y vẫn nhớ, rất rõ ràng, rằng sự phủ định của vị tu huynh ấy chỉ làm củng cố thêm cho cái quyết tâm của y, dù dĩ nhiên là kết quả hoàn toàn nằm ngoài tầm kiểm soát của y.   

       Y lúng túng đến mức y quên mất rằng Willem đã lên sân khấu khi y gọi điện, nhưng khi Willem gọi lại trong giờ giải lao, y vẫn còn ở nguyên một vị trí trên giường, trong cùng tư thế như đang hôn mê, chiếc điện thoại vẫn nằm trong lòng bàn tay y.

       “Jude,” Willem thở ra nhẹ nhõm khi y kể lại cho anh nghe, và y có thể nghe thấy Willem thật sự mừng cho y ra sao. Chỉ có Willem — và Andy, và thêm cả Harold nữa — biết sơ sơ về hoàn cảnh của y: tu viện, trại trẻ mồ côi, thời gian ở cùng gia đình Douglass. Với tất cả những người khác, y cố gắng lảng tránh lâu nhất có thể, cho tới khi y cuối cùng sẽ nói rằng cha mẹ mình đã mất khi mà y còn nhỏ, và rằng y lớn lên trong trại mồ côi, mà thường ngăn lại những câu hỏi tiếp theo của họ. Nhưng Willem biết về sự thật nhiều hơn cả, và y biết Willem biết rằng đây là khát khao mãnh liệt, bất khả thi nhất của y. “Jude, thật tuyệt vời. Cậu cảm thấy thế nào?”

       Y cố cười. “Giống như là tôi sẽ làm mọi chuyện rối tung lên.”

       “Không đâu.” Cả hai đều im lặng. “Tôi thậm chí còn không biết rằng mình có thể nhận nuôi hợp pháp một người đã trưởng thành.”

       “Ý của tôi là, đây không phải là một việc làm phổ biến, nhưng mà cậu hoàn toàn có thể. Miễn là cả hai bên đồng ý. Việc này thường được thực hiện nhằm mục đích thừa kế.” Y cố gắng cười một lần nữa. (Đừng có cố cười nữa, y chửi rủa bản thân.) “Tôi không nhớ lắm về những gì mà tôi từng học về luật gia đình, nhưng tôi biết rằng tôi sẽ nhận một tờ khai sinh mới với tên của họ ở trên đó.”

       “Ồ,” Willem thốt lên.

       “Tôi biết,” y nói.

       Y nghe thấy có ai đó gọi Willem, một cách cứng rắn, ở đằng xa. “Cậu phải đi rồi,” y bảo với Willem.

       “Chiết tiệt,” Willem kêu lên. “Nhưng mà Jude này? Chúc mừng nhé. Không có ai xứng đáng hơn thế.” Anh đáp lại người nào đó đang réo tên anh. “Tôi phải đi đây,” anh nói. “Cậu có phiền không nếu tôi viết đôi lời cho Harold và Julia?”

       “Không đâu,” y trả lời. “Nhưng mà Willem này, cậu đừng nói với những người khác vội nhé, được không? Tôi chỉ muốn đợi thêm một thời gian nữa.”

       “Tôi sẽ không nói gì đâu. Tôi sẽ gặp lại cậu vào ngày mai. Và Jude này—” Nhưng anh không, hoặc không thể, nói thêm gì nữa.

       “Tôi biết rồi,” y nói. “Tôi biết mà, Willem. Tôi cũng cảm thấy như vậy.”

       “Yêu cậu,” Willem nói, và rồi anh tắt máy trước khi y kịp phản ứng. Y không bao giờ biết phải nói gì mỗi khi Willem nói vậy với y, và rồi y vẫn luôn mong chờ được nghe anh nói thế. Đó là một tối của những điều không tưởng, và y cố gắng chống lại cơn buồn ngủ, để có thể tỉnh táo và có ý thức lâu nhất có thể, để tận hưởng và nhắc đi nhắc lại với bản thân mình về mọi thứ đã xảy ra với y, một cuộc đời của những ước nguyện trở thành sự thật chỉ trong vòng có vài giờ qua.  

       Khi trở lại căn hộ vào ngày hôm sau, có một tin nhắn của Willem bảo rằng y hẵng đợi, và khi Willem về đến nhà, anh mua kem và bánh kem cà rốt, mà hai người bọn họ đều ăn dù chẳng có ai thích của ngọt, và sâm-banh, mà họ uống dù rằng y phải dậy sớm vào sáng ngày hôm sau. Vài tuần tiếp theo đó trôi qua chóng vánh: Harold lo liệu giấy tờ, và gửi y các mẫu đơn để ký  — đơn xin nhận con nuôi, một bản khai có tuyên thệ để sửa đổi giấy khai sinh của y, một bản yêu cầu cung cấp thông tin về hồ sơ tội phạm của y — mà y mang tới ngân hàng trong giờ nghỉ trưa để công chứng[4]; y không muốn ai ở văn phòng biết chuyện này ngoại trừ một vài người mà y đã thông báo: Marshall, và Citizen, và Rhodes. Y đã kể với JB và Malcolm, người có phản ứng đúng như những gì y dự đoán — JB nói như máy những câu đùa chẳng hề khôi hài, như thể hắn ta cuối cùng cũng có thể có được một câu ra trò; Malcolm liên tục hỏi những câu hóc búa về những giả thuyết khác nhau mà y chẳng thể trả lời — và mặt khác thật sự phát sợ vì cậu. Y kể với Henry Young Đen, người từng theo học hai lớp của Harold khi y còn ở trường luật và rất ngưỡng mộ ông, và người bạn Richard của JB, người trở nên thân thiết với y sau một bữa tiệc dài lê thê và tẻ ngắt tại nhà Ezra một năm trước khi hai người bọn họ có một cuộc trò chuyện được mở đầu bằng tình trạng phúc lợi của nước Pháp và rồi chuyển sang các chủ đề khác, hai người duy nhất còn đôi chút tỉnh táo trong căn phòng khi đó. Y cũng kể với cả Phaedra, người đã hét lên vui sướng, và Elijah, người cũng đã hét lên khi nghe thấy tin ấy.

       Và dĩ nhiên, y có kể với Andy, người lúc đầu chỉ nhìn y chằm chằm và rồi gật đầu, như thể y vừa hỏi xin Andy một miếng băng y tế trước lúc rời đi. Nhưng rồi anh bắt đầu thốt lên một loạt những tiếng kêu giống như của hải cẩu, nửa sủa, nửa hắt hơi, và rồi y nhận ra rằng Andy đang khóc. Việc ấy khiến y vừa khiếp sợ vừa có đôi chút kích động, không biết nên làm gì. “Ra khỏi đây,” Andy yêu cầu y giữa những tiếng nấc. “Tôi muốn nói là, Jude, cút ra ngoài ngay,” và y làm theo. Ngày hôm sau trong lúc làm việc, y nhận được một bó hồng có kích thước của một bụi cây vườn, và một tấm thiệp được viết bằng những nét chữ in hoa đầy cảm xúc của Andy:

JUDE — TÔI XẤU HỔ ĐẾN NỖI KHÓ CÓ THỂ VIẾT NỔI BỨC THƯ NÀY. HÃY THA THỨ CHO TÔI VỀ NGÀY HÔM QUA NHÉ. TÔI KHÔNG THỂ CẢM THẤY HẠNH PHÚC HƠN CHO CẬU VÀ CÂU HỎI DUY NHẤT MÀ TÔI ĐẶT RA LÀ CÁI QUÁI GÌ ĐÃ KHIẾN HAROLD PHẢI QUYẾT ĐỊNH LÂU THẾ. TÔI HI VỌNG LÀ CẬU SẼ XEM ĐÂY NHƯ LÀ MỘT TÍN HIỆU RẰNG CẬU CẦN PHẢI CHĂM SÓC BẢN THÂN TỐT HƠN ĐỂ MAI ĐÂY ĐÓ CẬU CÒN ĐỦ SỨC KHỎE MÀ THAY TÃ CHO HAROLD KHI ÔNG NGHÌN TUỔI VÀ SUY YẾU, BỞI VÌ CẬU BIẾT RẰNG ÔNG SẼ KHÔNG ĐỂ CHO CẬU ĐƯỢC YÊN NẾU RA ĐI Ở CÁI TUỔI CỦA NGƯỜI THƯỜNG. HÃY TIN TÔI, CÁC BẬC CHA MẸ RẮC RỐI NHƯ VẬY ĐẤY. (NHƯNG DĨ NHIÊN LÀ CŨNG RẤT TUYỆT VỜI.) YÊU CẬU, ANDY.

Đó là, y và Willem cho rằng, một trong những bức thứ hay nhất mà họ từng đọc.

       Nhưng rồi những tháng ngày ngây ngất trôi qua, và rồi đến tháng Một, và Willem đi Bulgaria để quay phim, và những nỗi sợ cũ quay trở lại, kèm theo cả những nỗi sợ mới. Họ có một phiên tòa vào ngày Mười lăm tháng Hai, Harold báo với y, và với một chút thay đổi, Laurence sẽ là chủ tọa. Giờ đây cái ngày ấy đã tới rất gần, y bỗng chốc, không thể tránh khỏi cái nhận thức rằng y có lẽ sẽ tự mình làm hỏng nó, và y bắt đầu, đầu tiên là vô thức và rồi cần mẫn, lảng tránh Harold và Julia, tự thuyết phục rằng nếu như họ bị nhắc nhở quá nhiều, quá tích cực về những gì mà họ thực nhận thì họ sẽ thay đổi quyết định của mình. Và vì thế khi họ tới thành phố để xem một vở kịch vào tuần thứ hai của tháng Một, y nói dối rằng mình đang đi công tác ở Washington, và trong những cuộc điện thoại hàng tuần với họ, y cố gắng chỉ nói rất ít, và giữ cho cuộc nói chuyện thật ngắn gọn. Mỗi ngày tính không chắc sẽ xảy ra của sự việc càng trở nên một lớn hơn và mạnh mẽ hơn trong tâm trí y; mỗi khi y thoáng nhìn thấy hình ảnh thây ma khập khễnh xấu xí của mình phản chiếu trên mặt kính của tòa nhà, y sẽ thấy muốn bệnh: Có ai, thật sự, lại muốn thứ này? Cái ý tưởng rằng y có thể trở thành một ai đó ngày càng trở nên lố bịch hơn, và nếu như Harold nhìn thấy y chỉ thêm một lần nữa, làm sao mà cả ông nữa lại không đi đến cùng một kết luận như thế? Y biết rằng điều ấy chẳng mấy quan trọng đối với ông — ông ấy, dù sao, cũng là một người lớn; y biết rằng việc nhận con nuôi có tính chất nghi thức hơn là sự quan trọng thật sự về mặt xã hội  — nhưng y muốn điều đó với một nỗi tha thiết kiên định bất chấp mọi logic; và y không thể chịu đựng được nếu điều đó sẽ bị tước đi khỏi y vào lúc này, không phải là khi mà mọi người mà y quan tâm tới đều thấy mừng cho y, không phải là khi y đã tiến được rất gần tới nó.  

       Y cũng đã từng tới rất gần trước đây. Vào cái năm sau khi y đến Montana, khi mà y mười ba tuổi, trại trẻ mồ côi tham gia một hội chợ nhận con nuôi do chính quyền ba tiểu bang phối hợp tổ chức. Tháng Mười một là Tháng nhận con nuôi quốc gia, và vào một sáng lạnh lẽo nọ, bọn y được yêu cầu ăn mặc gọn gàng và nhanh chóng bước lên hai chiếc xe buýt và chạy hai giờ tới Missoula, nơi mà bọn y lũ lượt xuống xe và đi vào căn phòng hội thảo của một khách sạn. Chiếc xe của bọn họ là chiếc cuối cùng có mặt, và cả căn phòng đã chật kín toàn trẻ con, đám con trai ở một bên, con gái ở một bên. Ở giữa căn phòng là một chiếc bàn dài, và khi y đi qua chiếc bàn, y thấy rằng các tập hồ sơ được sắp xếp thành chồng: Bé trai, mới sinh; Bé trai, ẵm ngửa; Bé trai, 4-6; Bé trai, 7-9; Bé trai, 10-12; Bé trai, 13-15; Bé trai, 15+. Ở trong đó, như bọn y được thông báo, là những giấy tờ với ảnh chụp của bọn y, và tên tuổi, và thông tin về bọn y: bọn y đến từ đâu, bọn y thuộc chủng tộc nào, thông tin về những việc bọn y làm ở trường và những môn thể thao mà bọn y yêu thích và các năng khiếu và sở thích mà bọn y có. Y băn khoăn tự hỏi tập hồ sơ về y có những gì. Năng khiếu nào được gán cho y, chủng tộc nào, xuất xứ nào?

       Những cậu bé lớn hơn, những đứa mà tên tuổi và gương mặt nằm trong chồng hồ sơ 15+, biết rằng chúng sẽ không bao giờ được nhận nuôi, và khi mà những người phụ trách quay đi, chúng lẻn ra ngoài từ cửa sau, tới nơi mà, bọn họ đều biết, để phê pha. Những đứa bé sơ sinh và còn ẵm ngửa chỉ cần làm trẻ sơ sinh và ẵm ngửa; chúng sẽ là những đối tượng đầu tiên được chọn, và chúng thậm chí còn chẳng biết đến điều đó. Nhưng khi y quan sát từ trong góc phòng mà y lặng lẽ lui về, y thấy rằng vài thằng con trai — những đứa đủ lớn để từng trải qua một vài hội chợ trước đó, nhưng vẫn còn đủ bé để mà hi vọng — có những chiến thuật riêng. Y quan sát khi sự rầu rĩ trở thành một nụ cười, khi sự thô bạo và ức hiếp trở thành sự vui vẻ và tươi sáng, khi mà những đứa vốn dĩ căm ghét nhau ở trại trẻ mồ côi giờ đây lại vui chơi và đùa giỡn hết sức thân thiện với nhau. Y nhìn thấy những thằng bé từng láo lếu với các nhân viên trại trẻ, từng chửi bới nhau trên hành lang, giờ đây đang mỉm cười và nói chuyện với những người lớn, các bậc cha mẹ tương lai, đang lấp kín căn phòng. Y lặng nhìn khi kẻ rắn rỏi nhất, xấu xa nhất trong đám con trai, một thằng nhóc mười bốn tuổi có tên là Shawn từng có lần dốc ngược người y lên trong phòng tắm, đầu gối của nó thu vào bên dưới hai bờ vai cứng rắn như sắt, chỉ vào bảng tên của mình khi người đàn ông và người phụ nữ đang nói chuyện với nó đi về phía bàn hồ sơ. “Shawn!” nó kêu lên với họ, “Shawn Grady!” và có gì đó trong cái giọng khàn khàn đầy hi vọng của nó, mà từ đó y có thể nghe thấy sự cố gắng, sự căng thẳng, để không có vẻ hi vọng, khiến y lần đầu tiên thấy buồn cho Shawn, và rồi tức giận với người đàn ông và người phụ nữ kia, khi cuối cùng họ lại tìm kiếm trong tập hồ sơ “Bé trai, 7–9”. Nhưng những cảm xúc ấy đều nhanh chóng qua đi, bởi vì y cố gắng không cảm thấy bất cứ điều gì vào những ngày ấy: không đói khát, không đau đớn, không giận dữ, khồng buồn bã.

       Y không có chiến lược nào cả, y cũng chẳng có kỹ năng gì, y không thể gây hứng thú với người khác. Khi cuối cùng y cũng trở về trại trẻ mồ côi, y thờ ơ đến mức họ đã bỏ mặc y kể từ tháng Mười một năm ngoái, và một năm sau đó, y không chắc rằng y có tiến bộ nào không. Y ngày càng ít nghĩ về Tu huynh Luke hơn, đó là sự thật, nhưng những ngày tháng của y bên ngoài lớp học hòa vào làm một; hầu hết thời gian y cảm thấy mình như đang trôi nổi, cố gắng giả vờ rằng y không chiếm lĩnh cuộc đời của chính mình, ước gì y trở nên vô hình, chỉ muốn không bị để ý tới. Những sự việc xảy ra với y và y không hề chống lại theo cái cách mà y từng làm; đôi khi bị tổn thương, một phần vẫn còn duy trì ý thức trong y tự hỏi rằng các tu huynh nghĩ gì về y đây: đã qua rồi sự giận dữ trong y, cơn thịnh nộ, hay cuộc vật lộn trong y. Giờ đây y là một thằng bé mà họ luôn mong y trở thành. Giờ đây y hi vọng trở thành một kẻ lênh đênh trôi giạt, một sự hiện hữu thật mong manh và nhẹ bẫng và không thực đến mức y trở nên trong suốt.  

       Vì thế mà y ngạc nhiên – cũng ngạc nhiên như chính các nhân viên của trại trẻ – khi y được biết tin vào tối đó, rằng y là một trong số những đứa trẻ được lựa chọn bởi một cặp vợ chồng: nhà Leary. Y đã để ý thấy người phụ nữ và người đàn ông nhìn y, thậm chí có lẽ là còn cười nữa? Có lẽ vậy. Nhưng khi buổi chiều đó qua đi, như những buổi chiều khác, trong sự mơ hồ, và khi lên xe buýt quay trở về trại trẻ, y bắt đầu cố quên nó đi.  

       Y sẽ có một cuối tuần sống thử — cuối tuần trước kỳ lễ Tạ ơn — với nhà Leary, để hai bên xem xem có thể thích ứng được với nhau không. Ngày thứ Năm y được đưa tới nhà họ bởi một nhân viên của trại trẻ có tên Boyd, người dạy bọn trẻ sửa chữa máy móc và hàn chì và là người mà y không biết rõ lắm. Y biết rằng Boyd biết những gì mà những nhân viên khác của trại đã làm với y, và mặc dầu hắn ta không bao giờ ngăn họ lại, hắn cũng chẳng hề tham gia.

       Nhưng khi y ra khỏi chiếc xe đang đậu trước lối vào nhà Leary — một ngôi nhà gạch một tầng, được vây quanh bởi những cánh đồng hoang sơ, tăm tối — Boyd tóm lấy cẳng tay y và kéo y lại gần, khiến y giật mình rơi vào trạng thái đề phòng.

       “Đừng có mà làm hỏng chuyện đấy, St. Francis[5],” hắn nói. “Đây là cơ hội của mày, mày nghe tao nói rồi chứ?”

       “Vâng,” y trả lời.

       “Đi đi,” Boyd nói, và thả y ra, và y đi về phía bà Leary, người lúc này đang đứng trước cửa nhà.

       Leary là một người mập mạp, nhưng chồng bà thì to con, với đôi tay đỏ au to khỏe như được trang bị vũ khí. Họ có hai cô con gái, cả hai đều đang ở độ tuổi hai mươi và đã kết hôn, và họ cho rằng sẽ thật tốt nếu có một thằng con trai ở trong nhà, một ai đó có thể giúp đỡ ông Leary — người nhận việc sửa chữa những chiếc máy nông nghiệp lớn và cũng tự mình làm nghề nông — công việc đồng áng. Họ chọn y, họ nói, bởi vì y có vẻ yên tĩnh, và lịch sự, và họ không muốn một kẻ om sòm; họ muốn một người chăm chỉ, một ai đó sẽ biết trân trọng ý nghĩa của việc có được một mái nhà và một gia đình. Họ đã đọc được trong hồ sơ rằng y biết lao động, và dọn dẹp, và rằng y rất giỏi chuyện đồng áng.  

       “Hiện giờ, tên của cháu, là một cái tên rất lạ,” bà Leary nhận xét.

       Y chưa bao giờ nghĩ rằng nó kỳ cục cả, nhưng, “Vâng ạ, thưa cô,” là những gì y nói.

       “Cháu nghĩ thế nào về việc có một cái tên khác?” bà Leary hỏi. “Như là, Cody, có được không? Cô vẫn luôn thích cái tên Cody. Nó ít — ờ, nó có vẻ gần gũi với bọn cô hơn, thật sự.”

       “Cháu thích cái tên Cody,” y trả lời, mặc dù y chẳng có cảm giác gì về nó: Jude, Cody, với y việc y được gọi là gì chẳng mấy quan trọng.

       “Ồ, tốt,” bà Leary nói.

       Đêm đó, một mình, y tự gọi to cái tên ấy lên: Cody Leary. Cody Leary. Có thể nào y bước vào ngôi nhà này như là một người và rồi, như thể nơi chốn này có phép thuật vậy, biến y thành một con người khác? Biến mất sẽ là Jude St. Francis, và cùng với đó, là Tu huynh Luke, và Tu huynh Peter, và Cha Gabriel, và tu viện và những nhân viên của trại trẻ mồ côi và nỗi nhục nhã và sợ hãi và sự bẩn thỉu của y, và thay thế vào đó sẽ là Cody Leary, người sẽ có cha mẹ, và một căn phòng của riêng mình, và sẽ có thể trở thành bất cứ ai mà mình mong muốn.

       Thời gian còn lại của cuối tuần đó trôi qua yên ả, yên ả đến mức mà mỗi ngày, và mỗi giờ, y có thể cảm thấy từng phần trong y được đánh thức, có thể cảm thấy những đám mây mà y gom lại quanh mình dần tan ra và biến mất, có thể cảm thấy y đang nhìn vào tương lai, và tưởng tượng về một vị trí mà y có thể có được. Y cố gắng nhất có thể để trở nên lịch sự, và chăm chỉ, và điều đó chẳng khó khăn gì: y dậy sớm vào buổi sáng và chuẩn bị bữa sáng cho nhà Leary (bà Leary khen ngợi y hết lời khiến y mỉm cười, xấu hổ, với sàn nhà), và rửa bát đĩa, và giúp ông Leary cọ rửa các dụng cụ của ông và mắc lại dây dèn, và mặc dù có cả những hoạt động mà y không quan tâm — buổi lễ buồn tẻ ở nhà thờ mà họ tham dự vào ngày Chủ nhật; buổi cầu nguyện mà họ giám sát trước khi cho phép y lên giường đi ngủ — chúng hầu như không thể tệ hơn những điều mà y không hề ưa thích ở trại mồ côi, đó là những việc mà y biết rằng y có thể thực hiện mà không tỏ ra bực bội hay chán ngán. Nhà Leary, y có thể cảm thấy, không phải là những người có thể cư xử giống như những ông bố bà mẹ ở trong sách, theo cái cách mà y vẫn hằng ao ước, nhưng y biết làm thế nào để trở nên siêng năng, y biết cách làm thế nào để khiến họ hài lòng. Y vẫn thấy sợ bàn tay to lớn đỏ au của ông Leary, và khi mà y ở một mình với ông trong kho thóc, y run rẩy và cảnh giác, nhưng ít nhất thì cũng chỉ có mỗi mình ông Leary để mà sợ hãi, chứ không phải là một nhóm những ông Leary, như là những gì từng diễn ra trước kia, hay như là ở trại mồ côi.

       Khi Boyd tới đón y vào tối Chủ nhật, y cảm thấy hài lòng về những gì mà y đã thực hiện, thậm chí, còn thấy tự tin nữa. “Thế nào rồi?” Boyd hỏi y, và y có thể trả lời, một cách thành thật, “Tốt ạ.”  

       Y có thể chắc chắn, từ những lời cuối mà bà Leary nói với y — “Cô có cảm giác là chúng ta sẽ sớm gặp lại nhau thôi, Cody ạ” — rằng họ sẽ gọi điện vào thứ Hai, và rồi sẽ sớm thôi, có lẽ là vào thứ Sáu, y sẽ là Cody Leary, và trại trẻ mồ côi sẽ là một nơi chốn khác mà y bỏ lại đằng sau. Nhưng rồi ngày thứ Hai qua đi, và rồi thứ Ba, và thứ Tư, và rồi đến tuần tiếp theo, và y vẫn không được gọi tới văn phòng của viện trưởng, và lá thư của y gửi tới nhà Leary vẫn không được trả lời, và mọi ngày con đường đi tới ký túc xá vẫn là một đường thẳng dài, trống rỗng, và chẳng một ai tới đón y.  

      

       Cuối cùng, hai tuần sau khi tới nhà Leary, y đến gặp Boyd ở xưởng của hắn, nơi mà y biết hắn sẽ ở lại muộn vào các tối thứ Năm. Y đợi qua bữa tối bên ngoài trời lạnh, tuyết kêu lạo xạo dưới chân y, cho tới khi y nhìn thấy Boyd xuất hiện nơi cánh cửa.

       “Chúa ơi,” Boyd thốt lên khi nhìn thấy y, gần như giẫm lên người y khi hắn xoay người lại. “Có phải là lúc này mày nên ở trong ký túc xá không, St. Francis?”

       “Làm ơn,” y van nài. “Làm ơn cho cháu biết — nhà Leary có tới đón cháu không?” Nhưng y biết ngay câu trả lời khi nhìn vào mặt Boyd.

       “Họ đã thay đổi ý kiến,” Boyd nói, và dù y không biết, bởi các nhân viên trại trẻ và những thằng bé khác, về sự dịu dàng của Boyd, khi ấy hắn thật dịu dàng với y. “Hết rồi, St. Francis ạ. Chuyện đó sẽ không xảy ra đâu.” Hắn đưa tay ra chạm vào y, nhưng y lùi lại, và Boyd lắc đầu và bỏ đi.

       “Đợi đã,” y gọi lại, hoàn hồn và chạy nhanh hết mức có thể trên mặt tuyết để bắt kịp Boyd. “Hãy cho cháu thử lần nữa,” y nói. “Xin hãy cho cháu biết cháu đã làm gì sai, và cháu sẽ cố gắng lần nữa.” Y có thể cảm thấy sự kích động dâng lên trong lòng y, có thể cảm thấy bên trong y những vết tích của một cậu bé sẽ tung nắm đấm và gào thét, là người sẽ lấp đầy một căn phòng với tiếng la hét của mình.

       Nhưng Boyd chỉ lắc đầu. “Sự việc không diễn ra theo cách đó, St. Francis ạ,” hắn nói, và rồi hắn dừng lại và nhìn thẳng vào y. “Nghe này,” hắn nói, “chỉ trong vài năm nữa mày sẽ ra khỏi đây. Tao biết rằng đó dường như là một quãng thời gian rất dài, nhưng không phải vậy đâu. Và rồi mày sẽ trở thành người lớn và mày có thể làm bất cứ điều gì mình muốn. Mày chỉ cần phải vượt qua những năm tháng này thôi.” Và rồi hắn quay người lại, quả quyết, và rời đi.

       “Như thế nào kia chứ?” y hét lên sau lưng Boyd. “Boyd, nói cho cháu nghe với! Làm thế nào, hả Boyd, làm thế nào?” quên mất rằng y phải gọi hắn là “chú,” mà không phải là “Boyd.”

       Đêm đó y có cơn giận đầu tiên sau nhiều năm, và mặc dù sự trừng phạt ở đây cũng chẳng có gì khác biệt, nhiều hơn hoặc ít hơn, như những gì từng diễn ra ở tu viện, sự giải thoát, cảm giác như được bay lên mà nó từng mang tới cho y, không hề xuất hiện: giờ đây y đã hiểu biết hơn, với tiếng gào thét không làm thay đổi được điều gì, và tất cả những tiếng la hét chỉ mang y về lại với chính mình, vì thế mà mọi thứ, mọi đớn đau, mọi sỉ nhục, đều có cảm giác rõ ràng và sáng tỏ và gắt gao và dữ dội hơn hẳn so với trước kia.

       Y sẽ không bao giờ, không bao giờ biết được mình đã làm gì sai vào cái cuối tuần ở nhà Leary đó. Y sẽ không bao giờ biết được rằng liệu đó có phải là điều mà y có thể kiểm soát được hay không. Và với tất cả mọi việc xảy ra ở tu viện, ở trại trẻ mồ côi, mà y cố gắng để gột rửa đi, y cố gắng hết mức có thể để quên đi cái cuối tuần đó, để quên đi nỗi tủi nhục đặc biệt của việc cho phép mình tin rằng y có thể trở thành một con người mà y không phải là.  

       Nhưng giờ đây, dĩ nhiên, với phiên tòa sẽ diễn ra trong sáu tuần, năm tuần, bốn tuần nữa, y nghĩ đến nó thường xuyên. Với việc Willem đã đi xa, và không có ai quản lý thời gian và hành động của y, y thức cho tới tận khi mặt trời bắt đầu ló rạng trên nền trời, dọn dẹp, cọ rửa nền nhà dưới gầm tủ lạnh với một cái bàn chải, tẩy sạch từng cái rãnh giữa những viên gạch lát tường trong phòng tắm. Y dọn dẹp để không phải rạch tay mình, bởi vì y đã rạch tay nhiều đến mức y biết rằng mình đang trở nên điên rồi, rằng y đang tự hủy hoại bản thân đến nhường nào; y thậm chí cũng sợ cả chính mình, bởi vì những gì y đã làm cũng như là sự bất lực của y trong việc kiểm soát điều đó. Y bắt đầu nghĩ ra một phương pháp mới để giữ cho lưỡi dao thăng bằng trên da y và ấn nó xuống, sâu hết mức có thể, để mà khi y rút lưỡi dao ra —  bị mắc lại như một lưỡi rìu cắm vào gốc cây — sẽ có khoảng nửa giây mà tại đó y có thể kéo lớp thịt ra hai bên và nhìn thấy một khe hở màu trắng, như là bề mặt của miếng thịt mỡ muối, trước khi máu bát đầu tràn ra từ vết cắt. Y cảm thấy choáng váng, như thể cả người y được bơm đầy khí hê-li; đối với y thức ăn có vị như là rễ cây, và y ngừng ăn trừ khi y buộc phải ăn.   Y ở lại văn phòng cho tới khi những người lao công làm ca đêm bắt đầu đi lại trên hành lang, ồn ào như lũ chuột, và rồi thức trắng đêm khi về đến nhà; y thức với trái tim mình đập thình thịch và y phải hít thở thật sâu để làm mình bình tĩnh lại. Chỉ có công việc, và những cuộc điện thoại của Willem, mới buộc y trở lại bình thường, hoặc là nếu y không rời khỏi nhà, sẽ tự rạch da thịt mình cho tới khi y mất cả một tảng thịt lớn trên cánh tay mình và rồi y sẽ xả chúng xuống cống. Y có thể hình dung ra cái cảnh y cắt da thịt mình — đầu tiên là tay, và rồi là chân, rồi ngực và cổ và khuôn mặt — cho tới khi y chỉ còn là một bộ xương biết đi và thở và khốn khổ suốt đời trong cái thân xác mục ruỗng, rã nát.

       Y có hẹn gặp Andy cách mỗi sáu tuần, và đã trì hoãn cuộc hẹn hai lần, bởi vì y sợ phải nghe những điều Andy sẽ nói. Nhưng cuối cùng, khoảng bốn tuần trước phiên tòa, y lên phố và ngồi chờ trong phòng kiểm tra cho tới khi Andy bước vào và nói rằng anh sẽ giữ y ở lại trễ.

       “Cứ từ từ,” y nói.

       Andy nhìn y, hơi nheo mắt lại. “Tôi sẽ quay lại ngay,” cuối cùng anh nói, và rồi rời đi.

      

       Vài phút sau đó, y tá của anh Callie bước vào. “Chào, Jude,” cô nói. “Bác sĩ muốn to đo cân nặng cho cậu; cậu bước lên cân giúp tôi nhé?”

       Y không muốn vậy, nhưng y biết đó không phải là lỗi hay quyết định của Callie, và vì thế mà y lê bước khỏi chiếc bàn, và bước lên cân, và không nhìn vào con số khi Callie viết nó ra trên phiếu khá bệnh của y, và nói cảm ơn y, và rời khỏi căn phòng.

      

       “Vậy,” Andy nói sau khi bước vào, nghiên cứu các chỉ số của y. “Chúng ta nên nói về việc gì trước đây, việc cậu sụt nhiều ký hay là việc cậu cắt tay mình quá nhiều?”  

       Y không biết phải nói gì về điều đó. “Tại sao anh lại nghĩ rằng tôi cắt tay mình nhiều quá?”

      

       “Tôi vẫn luôn biết,” Andy trả lời. “Cậu có — có quầng xanh dưới mí mắt. Có thể cậu không nhận ra điều này. Và cậu mặc áo len bên ngoài áo dài tay. Khi nào tình trạng của cậu trở nên tồi tệ, cậu sẽ làm vậy.” 

       “Ôi,” y thốt lên. Y đã không nhận ra.

       Họ im lặng, và Andy mang dụng cụ lại gần bàn và hỏi, “Ngày bao nhiêu?”

       “Mười lăm tháng Hai.”

       “À,” Andy nói. “Sớm thôi.”

       “Vâng.”

       “Cậu lo lắng về cái gì thế?”

       “Tôi lo —” y bắt đầu, và rồi dừng lại, và thử lại lần nữa. “Tôi lo là nếu Harold phát hiện ra con người thật của tôi, ông ấy sẽ không muốn—” Y dừng lại. “Và tôi không biết điều gì thì tệ hơn: việc ông ấy phát hiện ra trước, có nghĩa là chuyện này rồi chắc chắn sẽ chẳng thể diễn ra, hay là sau này ông ấy mới tìm ra, và nhận ra rằng tôi đã lừa dối ông.” Y thở dài; y vẫn không thể nói rõ về việc này cho tới tận bây giờ, nhưng y buộc phải làm như vậy, y biết rằng đó chính là nỗi sợ hãi của y.

       “Jude,” Andy nói, cẩn trọng, “tại sao cậu lại nghĩ rằng bản thân mình tệ hại đến mức mà ông ấy không muốn nhận nuôi cậu?”

       “Andy,” y cầu xin, “đừng bắt tôi phải nói về điều đó.”

       “Nhưng mà tôi thực sự không biết!”

       “Những việc mà tôi từng làm,” y nói, “căn bệnh mà tôi mắc phải vì chúng.” Y lắp bắp, căm ghét bản thân. “Nó thật tởm lợm; tôi thật tởm lợm.”

       “Jude,” Andy bắt đầu, và khi anh nói, anh dừng lại giữa một vài từ, và y cảm thấy Andy như đang tìm đường đi giữa một bãi cỏ đầy mìn, một cách thận trọng và chậm chạp. “Cậu từng là một đứa trẻ, một em bé. Cậu đã bị ép buộc phải làm những việc ấy. Cậu không việc gì, không có gì để tự đổ lỗi cho mình cả, không bao giờ, không phải là trên thế gian này.”

       Andy nhìn y. “Và cho dù cậu không phải là một đứa trẻ, cho dù cậu có là một anh chàng hứng tình muốn quan hệ với bất kỳ thứ gì xuất hiện trước mắt cậu và rồi bị nhiễm vài căn bệnh lây qua đường tình dục đi chăng nữa, thì đó vẫn không phải là điều đáng phải xấu hổ.” Anh thở dài. “Cậu có thể cố gắng tin tưởng tôi được không?”   

       Y lắc đầu. “Tôi không biết.”

       “Tôi biết,” Andy nói. Họ lặng im. “Tôi ước gì cậu đến gặp bác sĩ tâm lý, Jude ạ,” anh nói thêm, giọng anh buồn bã. Y không thể trả lời, và sau vài phút, Andy đứng lên. “Nào,” anh nói, quả quyết, “hãy nhìn chúng xem nào,” và y cởi áo len và đưa tay mình ra.  

       Y có thể thấy từ vẻ mặt của Andy rằng nó tệ hơn so với y tưởng, và khi y nhìn xuống và cố gắng nhìn nhận bản thân từ cái nhìn của người ngoài, y có thể thấy những gì mà Andy thấy: những miếng băng nằm trên những vết cắt mới, và những vết cắt vừa mới liền lại, với những vết sẹo chồng chéo lên nhau vẫn đang thành hình, một vết cắt bị nhiễm trùng, trở thành một lớp vẩy cứng mưng mủ.   

       “Vậy,” Andy nói sau một lúc lâu im lặng, sau khi anh đã kiểm tra xong cánh tay phải của y, rửa sạch vết cắt bị nhiễm trùng và bôi kem kháng sinh lên những vết cắt khác, “thế còn về việc sụt nhiều cân của cậu thì sao đây?”  

       “Tôi không nghĩ là nhiều đâu.”

       “Jude,” Andy nói, “sáu cân trong vòng chưa đầy tám tuần là nhiều, và từ đầu cậu không hề thừa tận sáu cân thịt.”

       “Chỉ là tôi không đói thôi,” cuối cùng, y nói.

       Andy không nói gì nữa cho tới khi anh xong việc ở cả hai cánh tay, và rồi thở dài và ngồi xuống lại và bắt đầu viết trên giấy. “Tôi muốn cậu ăn đủ ba bữa một ngày, Jude ạ,” anh nói, “cộng với một trong những thứ ở trong danh sách này. Mỗi ngày. Đây là thứ thêm vào bữa ăn thông thường, cậu hiểu tôi chứ? Hoặc là tôi sẽ gọi cho các bạn của cậu và bắt họ phải ngồi cùng cậu vào mỗi bữa ăn và giám sát cậu, và cậu thì không muốn vậy đâu, tin tôi đi.” Anh xé tờ giấy ra và đưa nó cho y. “Và rồi tôi muốn cậu trở lại đây vào tuần tới. Không có lí do lí cớ gì hết nữa.”

       Y nhìn vào cái danh sách — BÁNH MỲ NHÂN BƠ LẠC. BÁNH MỲ NHÂN PHÔ MAI. BÁNH MỲ KẸP TRÁI BƠ. 3 QUẢ TRỨNG (CÙNG VỚI LÒNG ĐỎ!!!!). SINH TỐ CHUỐI — và nhét nó vào trong túi quần.

       “Và còn một việc nữa mà tôi muốn cậu thực hiện,” Andy nói. “Khi mà cậu tỉnh giấc vào giữa đêm và muốn rạch tay mình, hãy gọi ngay cho tôi. Tôi không quan tâm lúc ấy là mấy giờ, cậu hãy cứ gọi cho tôi, được chứ?” Y gật đầu. “Tôi nói thật đấy, Jude.”

       “Tôi xin lỗi, Andy,” y nói.

       “Tôi biết,” Andy nói. “Nhưng cậu không cần phải xin lỗi — không phải là với tôi.”

       “Với Harold,” y đáp.

       “Không,” Andy sửa lại. “Cũng không phải là với Harold. Mà là với bản thân cậu.”

       Y trở về nhà và ăn một trái chuối cho tới khi nó nát bấy trong miệng y và rồi thay đồ và tiếp tục lau chùi các ô của sổ trong phòng khách, mà y đã bắt đầu thực hiện từ đêm trước. Y cọ chúng, đẩy cái ghế sô-pha lại gần hơn để y có thể đứng trên một tay vịn của nó, bỏ qua cơn đau nhói ở lưng y khi y trèo lên và trèo xuống, chầm chậm kéo lê cái xô nước bẩn rồi đổ vào bồn rửa. Sau khi y xong việc ở phòng khách và phòng của Willem, y đau đến mức y phải bò vào phòng tắm, và sau khi y rạch tay, y nghỉ ngơi đôi chút, giơ tay lên quá đầu và quấn chiếc thảm quanh người mình. Khi điện thoại của y vang lên, y ngồi dậy, mất phương hướng, trước khi rên rỉ chạy về phòng ngủ của mình — lúc này đồng hồ chỉ ba giờ sáng — và nghe thấy giọng nói cáu kỉnh (nhưng đầy cảnh giác) của Andy.

       “Tôi gọi muộn quá,” Andy đoán. Y không nói gì. “Nghe này, Jude,” Andy tiếp tục, “nếu cậu không dừng việc này lại và tôi thực sự sẽ bắt cậu phải cam kết. Tôi sẽ gọi cho Harold và kể cho ông ấy nghe. Cậu có thể tin vào điều đó.” Anh dừng lại. “Và bên cạnh đó,” anh thêm vào, “cậu không thấy mệt à, Jude? Cậu không cần phải làm như thế với bản thân mình, cậu biết mà. Cậu không cần phải làm như vậy.”

       Y không biết đó là gì — có lẽ đó chỉ là sự điềm tĩnh trong giọng nói của Andy, sự kiên định mà anh đưa ra với lời hứa của mình khiến y nhận ra rằng lần này anh nói rất nghiêm túc theo cái cách anh chưa từng thể hiện trước đây; hoặc có lẽ đó chỉ là sự phát giác rằng đúng, y đã mệt mỏi rồi, mệt đến mức y sẵn lòng, rốt cuộc, chấp nhận mệnh lệnh của người khác — trong tuần tiếp theo đó, y tuân theo những gì được yêu cầu. Y ăn các bữa ăn của mình, thậm chí là kể cả khi thức ăn đã biến đổi thành thứ gì đó lạ lùng như là bùn, như là đồ bỏ đi: y bắt bản thân phải nhai và nuốt, nhai và nuốt. Không phải là những bữa ăn lớn, nhưng vẫn là những bữa ăn. Andy gọi điện vào mỗi đêm khuya, và Willem gọi vào lúc sáu giờ mỗi sáng (y không thể nào hỏi, và Willem không bao giờ tiết lộ, rằng có phải Andy đã liên lạc với anh hay không). Những giờ phút nằm ở giữa là thời điểm khó khăn nhất, và mặc dù y không dừng lại hoàn toàn việc rạch tay, y cũng hạn chế lại: hai vết cắt, và rồi y dừng lại. Trong sự thiếu vắng của việc rạch tay, y cảm thấy mình bị kéo ngược về với những đọa đầy ngày trước — trước khi y được dạy cách tự rạch tay, có một thời gian y tự lao mình vào bức tường phía bên ngoài căn phòng trọ mà y ở chung với Tu huynh Luke hết lần này tới lần khác cho tới khi y mệt lử, kiệt sức, ngã xuống đất, và phía bên trái người y lúc nào cũng đầy những vết bầm tím. Giờ thì y không làm như thế nữa, nhưng y vẫn còn nhớ được cái cảm giác ấy, cái sự thỏa mãn khi lao người vào bức tường, cái cảm giác thỏa mãn khủng khiếp của việc quăng thân mình vào một vật gì đó không di chuyển được.

       Vào ngày thứ Sáu y đến gặp Andy, người vẫn không bằng lòng (y chẳng lên được cân nào), nhưng cũng không còn thuyết giáo y nữa (vì y cũng chẳng sụt thêm cân), và ngày hôm sau y bay tới Boston. Y không nói với ai là y đi đến đó cả, thậm chí là cả Harold. Julia, y biết, đang tham dự hội thảo ở Costa Rica; nhưng còn Harold, y biết, sẽ ở nhà.

       Julia đã đưa cho y bộ chìa khóa nhà vào sáu năm trước, khi y tới chơi với họ vào dịp lễ Tạ ơn khi cả hai người đều phải đi họp, vì thế y có thể tự mở cửa vào nhà và rót cho mình một ly nước, nhìn ra khu vườn sau nhà trong lúc uống nước. Lúc ấy vừa gần tới trưa, và Harold vẫn còn đang đi đánh tennis, vì thế mà y đi vào phòng khách để đợi ông. Nhưng y ngủ thiếp đi, và khi y tỉnh dậy, chính Harold đã lay vai y và liên tục gọi tên y.

       “Harold,” y gọi, ngồi dậy. “Con xin lỗi, con xin lỗi; đáng lý ra con nên gọi trước.”  

       “Chúa ơi,” Harold kêu lên, thở hổn hển; ông có vẻ cáu kỉnh và gay gắt. “Con không sao chứ, Jude? Có chuyện gì thế?”

       “Không sao đâu, không có gì cả,” y trả lời, nghe thấy được trước cả khi y nói ra lời giải thích của mình nghe mới thật ngớ ngẩn làm sao, “con chỉ nghĩ là con sẽ ghé qua.”  

       “Ôi,” Harold nói, ngay lập tức yên lặng. “Thật tốt khi được gặp con.” Ông ngồi xuống cái ghế của mình và nhìn vào y. “Mấy tuần gần đây con lạ lắm.”

       “Con biết,” y nói. “Con xin lỗi.”

       Harold nhún vai. “Không cần phải xin lỗi. Ta chỉ thấy mừng là con vẫn ổn.”

       “Vâng,” y nói. “Con ổn.”  

       Harold nghiêng đầu. “Con nom có vẻ không được khỏe lắm.”

       Y mỉm cười. “Con vừa bị cúm.” Y ngước nhìn trần nhà, như thể những lời thoại của y đã được viết ra trên đó. “Cây liên kiều đổ rồi, cha biết chưa.”

       “Ta biết. Mùa đông năm nay gió quá.”

       “Con sẽ giúp cha dựng nó lại, nếu như cha muốn.”

       Harold nhìn y thật lâu, miệng ông mấp máy, như thể ông vừa cố nói lại vừa không muốn nói. Cuối cùng, ông nói, “Ừ, đi làm thôi nào.”  

       Bên ngoài trời thật lạnh, và cả hai người bọn họ đều bắt đầu sụt sịt. Y cố định vị trí của cây cọc và quăng xuống những nhát búa, mặc dù mặt đất đã đóng băng và bị nứt ra như lớp gốm vụn khi y làm vậy. Sau khi họ đóng cọc xuống đủ sâu, Harold đưa cho y một sợi dây dài, và y buộc chặt nó lại vào cái thân cây ở giữa bụi cây với cái cọc, đủ chắc chắn để chúng không bị nghiêng ngả, nhưng không quá chắc để chúng vẫn tiếp tục sinh trưởng được. Y làm việc từ tốn, đảm bảo rằng nút thắt của mình chặt chẽ, bẻ đi một vài cành cây quá cong đã không còn có thể phục hồi.

       “Harold,” y gọi, khi y làm được một nửa. “Con muốn nói với cha chuyện này, nhưng — con không biết phải bắt đầu từ đâu.” Ngu ngốc, y tự nhủ. Đây đúng là một ý tưởng ngu ngốc. Y mở mồm để tiếp tục nhưng rồi đóng lại, và rồi lại mở ra: y là một con cá, thổi ra những cái bong bóng đầy ngớ ngẩn, và y ước gì y không tới đây, không bao giờ mở mồm như vậy.

       “Jude,” Harold nói, “hãy nói với ta. Dù đó có là gì đi nữa.” Ông dừng lại. “Con đã nghĩ lại rồi ư?”

       “Không, dĩ nhiên là không.”

       Y hoàn thành nút thắt cuối cùng và đứng dậy, Harold cố ý không giúp y. “Con không muốn nói với cha điều này,” y nói, và nhìn xuống cái cây kiều liên, cái vẻ xấu xí trần trụi của nó. “Nhưng con phải làm vậy bởi vì — bởi vì con không muốn gian dối với người. Nhưng mà Harold — con nghĩ có lẽ cha cho rằng con Ià một người tốt, nhưng không phải vậy.”  

      

       Harold lặng im. “Thế con cho rằng ta nghĩ con là loại người nào?”

       “Một người tốt,” y trả lời. “Một người tử tế.”

       “À,” Harold nói, “con đúng đấy. Ta cũng cho là vậy.”

       “Nhưng — con không phải thế,” y nói, và cảm thấy mắt mình nóng lên, mặc dù trời đang lạnh. “Con đã làm những việc — mà những người tốt không làm,” y tiếp tục, một cách vụng về. “Và con chỉ nghĩ rằng cha nên biết về con. Rằng con đã làm những việc kinh khủng, những việc mà con cảm thấy nhục nhã, và nếu như người biết được, người sẽ thấy xấu hổ vì đã quen biết con, sẽ không muốn dính líu gì tới con nữa.”

       “Jude,” cuối cùng Harold nói. “Ta không tưởng tượng ra được có điều gì con từng làm lại thay đổi được những cảm nhận của ta về con. Ta không quan tâm về những gì con từng làm trước đây. Hay đúng hơn là — ta có quan tâm; ta muốn được nghe kể về phần cuộc đời của con trước khi chúng ta gặp nhau. Nhưng ta luôn có cảm giác rằng, một cảm giác vô cùng mạnh mẽ, rằng con không bao giờ muốn nói về điều đó.” Ông dừng lại và chờ đợi. “Con có muốn kể về nó lúc này không? Con có muốn kể cho ta nghe không?”

       Y lắc đầu. Y vừa muốn lại vừa không muốn. “Con không thể,” y nói. Bên dưới một điểm nhỏ trên lưng y, y cảm thấy sự khó chịu lan ra, một hạt mầm màu đen vươn ra những cái nhánh đầy gai góc của nó. Không phải là lúc này, y cầu khẩn, không phải bây giờ, một lời cầu xin cũng bất khả thi như lời cầu xin mà y thật sự mong muốn: Không phải bây giờ, không bao giờ.

       “À,” Harold thở dài, “với việc thiếu vắng chi tiết cụ thể, ta không thể cam đoan với con một cách rõ ràng được, vì thế ta chỉ có thể đưa cho con một sự cam đoan chung chung, tổng quát, mà ta mong rằng con sẽ tin tưởng. Jude ạ: dù đó có là gì đi nữa, dù cho con đã từng làm gì, ta hứa với con, dù vào một ngày nào đó con có nói với ta hay không, rằng ta sẽ không bao giờ hối hận về việc muốn con trở thành một thành viên của gia đình mình.” Ông hít vào thật sau, chìa bàn tay phải của mình ra với y. “Jude St. Francis, với tư cách là bậc cha mẹ tương lai của con, ta theo đây xóa tội cho con về — về tất cả những gì mà con tìm kiếm sự tha thứ.”

      

       Và đó có phải là điều y thực sự mong muốn? Sự xóa tội? Y nhìn vào khuôn mặt của Harold, thân thuộc đến nỗi y có thể ghi nhớ mọi nếp nhăn trên đó mỗi khi y nhắm mắt lại, bất chấp sự mạnh mẽ và trang trọng trong lời tuyên bố của ông, thật nghiêm túc và nghiêm nghị. Liệu y có thể tin Harold không? Điều khó khăn nhất không phải là tìm kiếm tri thức, Tu huynh Luke từng nói với y như vậy sau khi y thú nhận rằng y khó có thể tin vào Chúa. Điều khó khăn nhất là tin vào nó. Y cảm thấy mình lại thất bại lần nữa: thất bại trong việc thú nhận một cách đúng đắn, thất bại trong việc không thể xác định trước những gì y muốn nghe. Liệu có dễ dàng hơn không nếu như Harold bảo với y rằng y đã đúng, rằng họ có lẽ nên suy nghĩ lại về việc nhận con nuôi? Dĩ nhiên y sẽ suy sụp, nhưng đó vẫn luôn là một thứ cảm giác quen thuộc, một điều mà y biết rõ. Trước việc Harold từ chối để y đặt ra một tương lai mà y không thể tưởng tượng đến, điều mà một ai đó có lẽ thực sự mong muốn những điều tốt đẹp sẽ đến với y, và rằng đó là một thực tại mà y chưa từng trải qua trước đó, vì thế mà y không hề có sự chuẩn bị, không có lấy tấm biển chỉ dẫn. Harold sẽ dẫn đường và y sẽ đi theo, cho tới một ngày y sẽ tỉnh lại và Harold sẽ ra đi, và y sẽ bị bỏ lại một cách đầy tổn thương và lạ lẫm nơi vùng đất xa lạ, mà không một ai ở đó để dẫn y về nhà.   

Harold đợi câu trả lời của y, nhưng cơn đau lúc này đã chẳng thể bỏ qua, và y biết rằng y cần phải nằm xuống. “Harold,” y nói. “Con xin lỗi. Nhưng con nghĩ là — con nghĩ là con cần phải nằm nghỉ một lúc.”

       “Đi nào,” Harold trả lời, không thấy bị xúc phạm, “đi thôi.”

       Ở trong phòng mình, y nằm lên chiếc chăn bông và nhắm mắt lại, nhưng thậm chí là sau khi cơn đau qua đi, y vẫn cảm thấy kiệt sức, và tự nhủ rằng y sẽ chỉ ngủ trong vài phút và rồi sẽ đứng lên và xuống dưới nhà gặp Harold: nếu ông còn đường nâu, y sẽ nướng một thứ gì đó — có một tô trái hồng vàng ở trong bếp, và có lẽ y sẽ làm bánh ngọt trái hồng vàng.

       Nhưng y không thức dậy. Y không thức dậy khi Harold tới và xem y trong một giờ tiếp theo và đặt mu bàn tay lên má y và rồi đắp chăn cho y; y cũng không thức dậy khi Harold lại vào xem y lần nữa, ngay trước bữa tối. Y ngủ quên trong tiếng chuông điện thoại vào lúc nửa đêm và reo lên lần nữa vào sáu giờ sáng, và cả khi chuông điện thoại trong nhà reo lên vào lúc mười hai rưỡi và sáu giờ rưỡi, và cuộc nói chuyện của Harold với đầu tiên là Andy và sau đó là Willem. Y ngủ qua buổi sáng, và qua buổi trưa, và chỉ thức dậy khi y cảm thấy bàn tay của Harold đang đặt trên vai y và nghe thấy Harold gọi tên y, bảo với y rằng chuyến bay của y sẽ cất cánh trong vài giờ nữa.

       Trước khi tỉnh dậy, y mơ thấy một người đàn ông đang đứng trên cánh đồng. Y không nhìn rõ được mặt người, nhưng ông ta cao và gầy, và ông ta đang giúp đỡ một người khác, một người già hơn cố móc đầu một chiếc xe vào đuôi xe tải. Y biết rằng y đang ở Montana bởi vòm trời bao la có màu trắng đục, và bởi vì cái lạnh đặc biệt ở nơi đó, mà có cảm giác trong lành và hoàn toàn không có lấy độ ẩm như cái lạnh ở bất kỳ một nơi nào khác.

       Y vẫn không thể nhìn thấy rõ những đường nét trên gương mặt của người đàn ông, nhưng y nghĩ rằng y biết đó là ai, nhận ra những bước đi dài và cái cách mà anh ta khoanh tay trước ngực mình khi lắng nghe người đàn ông còn lại. “Cody,” lên tiếng gọi trong giấc mơ của mình, và người đàn ông quay lại, nhưng anh ta ở xa quá, và vì thế y hầu như không biết chắc, rằng bên dưới vành mũ lưỡi trai của người đàn ông ấy, họ có khuôn mặt họ giống hệt nhau.

 

***

[1] Kashmir (Tiếng Kashmir: کشیر / कॅशीर; Tiếng Hindi: कश्मीर; Tiếng Urdu: کشمیر; Tiếng Duy Ngô Nhĩ: كەشمىر; Tiếng Shina: کشمیر) là khu vực phía tây bắc của tiểu lục địa Ấn Độ. Cho đến giữa thế kỷ 19, thuật ngữ Kashmir dùng để chỉ thung lũng giữa dãy Himalaya lớn và dãy Pir Panjal. Ngày nay, địa danh này biểu thị một khu vực lớn hơn bao gồm các vùng được Ấn Độ quản lý như Jammu và Kashmir (trong đó bao gồm Jammu, Thung lũng Kashmir, và Khu vực Ladakh), các vùng lãnh thổ Pakistan quản lý: Azad Kashmir và Gilgit-Baltistan, và khu vực được Trung Quốc quản lý: Aksai Chin và Trans-Karakoram Tract.

Kashmir trở thành bang hoàng lớn thứ hai tại Ấn Độ thuộc Anh, được tạo ra sau sự thất bại của người Sikh ở cuộc chiến tranh Anglo-Sikh lần thứ nhất. Hiệp ước Amritsar được ký kết năm 1846, người Anh chính thức hóa việc bán lại vùng Kashmir cho Gulab Singh với giá 7.500.000 rupee. Gulab Singh, đã trở thành nhà lãnh đạo mới của Kashmir. Sự cai trị của con cháu ông sau này, dưới sự giám hộ của Hoàng gia Anh, kéo dài cho đến năm 1947, sau đó Kashmir đã trở thành một lãnh thổ tranh chấp, nay do ba nước: Ấn Độ, Pakistan, và nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa kiểm soát và tuyên bố chủ quyền.

[2] Ban-thiền Lạt-ma (zh. 班禪喇嘛, bo. panchen blama པན་ཆེན་བླ་མ་, sa. paṇḍitaguru), là danh hiệu Đạt-lại Lạt-ma thứ 5 tặng cho thầy mình là vị trụ trì chùa Trát-thập Luân-bố (zh. 札什倫布寺, bo. bkra shis lhun po བཀྲ་ཤིས་ལྷུན་པོ་) trong thế kỉ 17. Vì Đạt-lại Lạt-ma được xem là hóa thân của Quán Thế Âm nên lúc đó Ban-thiền Lạt-ma được gọi là hóa thân của Phật A-di-đà. Như dòng Đạt-lại, dòng Ban-thiền cũng được xem là một dòng tái sinh (Châu-cô, bo. tulku སྤྲུལ་སྐུ་) nhưng Ban-thiền Lạt-ma không có trách nhiệm lãnh đạo chính trị. Đến thế kỉ 20, Ban-thiền Lạt-ma mới nhận một số nhiệm vụ này.

Ban-thiền Lạt-ma giữ chức cao thứ hai trong trường phái Cách-lỗ sau Đạt-lại Lạt-ma. Dòng tái sinh Ban-thiền Lạt-ma giữ nhiệm vụ đi tìm hóa thân mới của Đạt-lại Lạt-ma và ngược lại. Việc đi tìm hóa thân của Ban-thiền Lạt-ma, hay nói chung là việc tìm bất cứ hóa thân nào, luôn luôn là một nghi lễ tôn giáo và Đạt-lại Lạt-ma là người lựa chọn quyết định. Nghi thức này đã có truyền thống từ Đạt-lại Lạt-ma thứ 5 là La-bốc-tạng Gia-mục-thố (1617-1682) gọi thầy mình là La-tang Khúc-kết (zh. 羅桑曲結, bo. lobsang choekyi gyaltsen བློ་བཟང་ཆོས་ཀྱི་རྒྱལ་མཚན་) là Ban-thiền, nghĩa là một “Đại học giả”. Đọc thêm tại: https://vi.wikipedia.org/wiki/Ban-thi%E1%BB%81n_L%E1%BA%A1t-ma

[3] Dharamsala, hay Dharmsāla, có nghĩa là “nhà nghỉ”, còn có tên là Trống Nguyện cầu, là một thị trấn tọa lạc tại miền bắc của bang Himachal Pradesh (Ấn Độ). Tọa trong Thung lũng Kangra, thị trấn này trở thành quận lỵ của quận Kangra từ năm 1852.

Từng là một trong những trung tâm Phật học cổ xưa, với nhiều tu viện Phật giáo đã ra đời rất lâu. Dầu vậy, sự hồi sinh của Hindu giáo vào thế kỉ thứ 8 đã khiến cho phần lớn các chùa này lụi tàn. Ngày nay, phần lớn dân Gaddi, một sắc dân bản địa tại thị trấn, theo đuổi tín ngưỡng Hindu giáo, đặc biệt là các nghi thức tôn giáo xoay quanh nữ thần Durga.

Dharamsala được thế giới biết đến nhiều nhất và phần lớn là bởi sự hiện diện và những hoạt động của Đăng-châu Gia-mục-thố, Đạt-lại Lạt-ma thứ 14 của Tây Tạng, và những người ủng hộ ông, tăng từ con số 8 vạn vào năm 1959, khi Đăng-châu Gia-mục-thố vượt dãy Hy Mã Lạp Sơn vào Ấn Độ, lên đến con số 12 vạn người vào thời điểm hiện nay. Thị trấn “Trống Nguyện cầu” này được nhắc tới như một Lhasa thu nhỏ, với đầy đủ những đường nét tín ngưỡng và văn hóa Tây Tạng đặc thù.

 

[4]  Quy định về công chứng ở Mỹ do luật tiểu bang quy định. Quy định về công chứng ở tất cả các tiểu bang gần như tương tự nhau, chỉ có những điểm khác nhau nhỏ, không đáng kể. Ở mỗi tiểu bag đều có một vài điều luật trong một bộ luật chung, thường là bộ luật dân sự (civil code) để quy định về hành nghề công chứng, và thường cũng rất chung chung. Hướng dẫn chi tiết và cụ thể về điều kiện hành nghề, thủ tục công chứng… thường cho thống đốc tiểu bang ban hành trong một cuốn cẩm nang hướng dẫn, gọi là sổ tay hành nghề công chứng (Notary Public Handbook) để dễ dàng điều chỉnh, sửa đổi bổ sung.

Về phạm vi công chứng, công chứng ở Mỹ chỉ chứng nhận chữ ký mà thôi, không chứng nhận về tính xác thực hay hợp pháp của nội dung văn bản. Điều này có nghĩa là công chứng viên ở Mỹ chỉ xác thực chữ ký trong văn bản là của đúng người ký thông qua các chứng cứ như ID, bằng lái xe, hộ chiếu… và không quan tâm đến nội dung của văn bản. Các bên giao dịch tự chịu trách nhiệm về tính xác thực hay hợp pháp của nội dung văn bản. Việc công chứng chỉ được thực hiện trong phạm vi địa lý tiểu bang.

 

[5] St. Francis: tên thánh của Jude, được đặt theo Thánh Francis.

 

 

 

Advertisements