e76fa6c0f25003acfa2b77da21f3f8f0

 

 

CHƯƠNG 3

 

 

BA TUẦN TRƯỚC KHI y đến Boston để dự lễ Tạ ơn, một gói hàng – một cái hộp gỗ lớn, dẹt, cồng kềnh với tên và địa chỉa của y được viết lên các mặt hộp bằng bút dạ đen – được đưa tới công ty của y, nơi mà nó nằm trên bàn y cả ngày cho tới khi y có thể mở nó ra vào tối muộn ngày hôm đó.  

       Từ địa chỉ chuyển hoàn, y biết nó là gì, nhưng y vẫn cảm thấy một sự hồi hộp theo phản xạ mỗi khi mở ra bất kỳ bưu phẩm nào, dù là thứ không mong muốn đi chăng nữa. Bên trong chiếc hộp là những lớp giấy nâu, rồi tiếp theo đó là màng xốp hơi bong bóng, và rồi, được bọc trong những lớp giấy trắng, chính là bức tranh.

       Y lật ngược nó lại. “Gửi tới Jude với tình yêu và sự hối lỗi, JB,” JB đã khắc chữ trên bức tranh sơn dầu, ngay bên trên chữ ký của mình: “Jean-Baptiste Marion.” Có một chiếc phong bì của phòng tranh của JB được gắn vào phía sau khung tranh, bên trong đó là một bức thư chứng nhận bản quyền tác giả và đề ngày tháng, được gửi đến y và được ký tên bởi nhân viên của phòng tranh.

       Y gọi cho Willem, mà y biết lúc này đã rời khỏi nhà hát và có thể đang trên đường về nhà. “Cậu đoán thử xem tôi nhận được gì vào ngày hôm nay?”

       Chỉ có một chút yên lặng trước khi Willem trả lời. “Bức tranh.”

       “Đúng vậy,” y nói, và rồi thở dài. “Nên tôi cho là cậu đứng sau chuyện này?”

       Willem húng hắng ho. “Tôi chỉ bảo với cậu ấy rằng cậu ấy không còn lựa chọn nào khác trong chuyện này – nếu cậu ấy còn muốn cậu nói chuyện lại với cậu ấy.”  Willem ngừng lại, và y có thể nghe thấy tiếng gió đang rít lên trong điện thoại. “Cậu có cần giúp mang nó về nhà không?”

       “Cám ơn,” y nói. “Nhưng lúc này tôi sẽ để nó lại đây và mang nó đi vào lúc khác.” Y bọc lại bức tranh với những lớp giấy bọc và cất nó vào trong hộp, và để dưới gầm bàn của mình. Trước khi tắt máy tính, y viết một tin nhắn cho JB, nhưng rồi dừng lại, và xóa đi những gì mình đã viết, và thay vì thế y rời khỏi văn phòng.

       Y vừa thấy ngạc nhiên lẫn không ngạc nhiên về việc rốt cuộc JB đã gửi cho y bức tranh (và không hề ngạc nhiên khi biết rằng Willem là người đã thuyết phục hắn làm như vậy). Vào mười tám tháng trước, ngay khi Willem vừa mới bắt đầu diễn vở The Malamud Theorem[1], JB đã nhận được lời mời đại diện của một gallery ở Lower East Side, và vào mùa xuân trước, hắn đã có cuộc triển lãm cá nhân đầu tiên, “Những Chàng Trai,” một loạt hai mươi tư bức tranh dựa trên những tấm ảnh mà JB đã chụp về ba người bọn họ. Như đã hứa vào nhiều năm về trước, JB để y xem những bức hình chụp y mà hắn muốn vẽ ra, và mặc dù y chấp nhận nhiều bức trong số đó (một cách miễn cưỡng: y cảm thấy khó chịu khi làm vậy, nhưng y biết những bức tranh này có tầm quan trọng như thế nào đối với JB), rốt cuộc JB lại ít có hứng thú với những tấm ảnh mà y đồng ý hơn là những tấm ảnh mà y loại ra, một số trong đó – bao gồm một bức ảnh đáng sợ chụp cảnh y đang co mình lại trên giường, mắt y mở ra nhưng không nhìn thấy gì, bàn tay trái của y xòe ra một cách không tự nhiên, giống như là móng vuốt của một con ma cà rồng — y không có một chút ký ức gì về việc JB đã chụp chúng. Đó là trận cãi vã đầu tiên: JB nịnh nọt, rồi hờn dỗi, rồi đe dọa, rồi la hét, và rồi, khi mà y không thể thay đổi ý kiến của mình, đã cố gắng thuyết phục Willem biện hộ giúp mình.

       “Cậu nhận thấy tôi thật ra chẳng nợ cậu cái gì cả,” JB từng bảo với y như vậy khi JB nhận ra sự dàn xếp của mình với Willem không mang lại tiến triển nào. “Ý của tôi là, thực ra thì tôi không cần phải hỏi xin sự cho phép của cậu ở đây. Tôi hoàn toàn có thể vẽ bất cứ cái quái gì mà tôi muốn. Chỉ vì phép lịch sự mà tôi mới đưa ra lời đề nghị với cậu, cậu biết đấy.”

       Y có thể nhấn chìm JB với những lý lẽ, nhưng y quá tức giận để làm vậy. “Cậu đã hứa với tôi rồi mà, JB,” y nói. “Như thế là đủ.” Y còn có thể thêm vào, “Và cậu mắc nợ tôi với tư cách là một người bạn,” nhưng y đã có vài năm kinh nghiệm để nhận thấy rằng định nghĩa của JB về tình bạn và trách nhiệm hoàn toàn khác xa so với của y, và chẳng thể nào tranh cãi với hắn về chuyện đó: hoặc là y chấp nhận hoặc không, và y đã quyết định chấp nhận điều đó, mặc dù gần đây, nỗ lực cần thiết để chấp nhận JB và những hạn chế của hắn bắt đầu khiến y cảm thấy giận dữ và mệt mỏi và khó khăn hơn so với mức cần thiết.

       Cuối cùng, JB buộc phải chấp nhận thất bại, mặc dù trong vài tháng trước khi diễn ra cuộc triển lãm, hắn thi thoảng có nói bóng gió về cái thứ mà hắn gọi là “những bức tranh bị đánh mất,” những tác phẩm mà hắn có thể khiến y, Jude, trở nên ít cứng nhắc, ít rụt rè, ít ngượng ngập hơn, và (đấy là lời tranh cãi của JB mà y yêu thích) ít thực dụng hơn. Dù vậy, sau đó, y sẽ phải bối rối vì sự cả tin của mình, bởi vì y đã tin tưởng rằng ý nguyện của mình sẽ được tôn trọng ra sao.

       Lễ khai mạc triển lãm diễn ra vào ngày thứ Năm cuối tháng Tư ngay sau sinh nhật thứ ba mươi của y, một đêm đặc biệt lạnh khiến những chiếc lá non của cây tiêu huyền bị đông cứng lại và rụng xuống, và bên góc đường rẽ vào phố Norfolk, y dừng lại để chiêm ngưỡng khung cảnh của phòng trưng bày tranh, một chiếc hộp ánh sáng màu vàng ấm áp lung linh trong cái giá lạnh buốt tối tăm của đêm tối. Bên trong, y ngay lập tức chạm mặt Henry Young Đen và một người bạn của họ ở trường luật, và rồi nhiều người khác mà y biết – từ trường đại học, và từ những buổi tiệc từng diễn ra trên phố Lispenard, và các dì của JB, và cha mẹ của Malcolm, và những người bạn hồi xưa của JB mà nhiều năm rồi y không gặp lại — và phải mất một chút thời gian y mới có thể vượt qua được đám đông để ngắm nhìn những bức tranh.

       Y vẫn luôn biết rằng JB thực có tài. Bọn họ đều biết, mọi người đều biết: bất kể đôi lúc anh chẳng thể rộng lượng khi nghĩ về con người của JB, nhưng có điều gì đó ở trong các tác phẩm của JB sẽ thuyết phục anh rằng anh đã sai lầm, rằng bất kể sự khiếm khuyết nào trong tính cách mà anh quy cho hắn thì trên thực tế đó đều là bằng chứng cho thấy sự nhỏ nhen và khó chịu nơi anh, rằng ẩn sâu bên trong con người của JB là cả một sự thấu cảm và sâu sắc và hiểu biết. Và vào đêm đó, y không gặp chút khó khăn nào trong việc nhận biết những cảm xúc mãnh liệt và vẻ đẹp trong những bức tranh, và chỉ cảm thấy một niềm tự hào đơn giản và biết ơn đối với JB: vì sự hoàn thiện của các tác phẩm, dĩ nhiên, nhưng cũng vì khả năng của hắn trong việc tạo nên những sắc màu và hình ảnh mà khiến cho tất cả những sắc màu và hình ảnh khác đều có vẻ thiếu rực rỡ và mờ nhạt đi trong sự tương quan, bởi cái khả năng khiến anh nhìn thế giới theo một cách rất khác của hắn. Những bức tranh được sắp xếp theo một hàng dọc và trải dài trên những bức tường như một bậc thang, và sắc màu mà JB tạo ra – màu xanh tím đậm đặc cùng với màu vàng của rượu wishkey – thật khác biệt, giống như thể JB đã sáng tạo ra một thứ ngôn ngữ khác về màu sắc.    

       Y dừng lại để chiêm ngưỡng tác phẩm Willem và Cô gái, một trong những bức tranh mà y đã được xem trước và thực ra là đã mua lại, mà JB vẽ cảnh Willem xoay người khỏi camera ngoại trừ đôi mắt anh, như đang nhìn thẳng vào ống ngắm, nhưng thực ra là nhìn vào, theo giả định, một cô gái đứng ngay trong tầm mắt của Willem. Y thích cái biểu cảm trên khuôn mặt Willem, mà y biết rất rõ, khi Willem sắp cười và khóe miệng anh vẫn còn mềm mại và do dự, theo cách nào đó, nhưng các cơ xung quanh mắt anh đã kéo lên trên. Những bức tranh không được sắp xếp theo trình tự thời gian, vì thế sau bức tranh này là bức vẽ chính y vào vài tháng trước (y vội vã lướt qua những bức tranh vẽ mình), và tiếp theo đó là một bức tranh về Malcolm và chị gái, mà y có thể nhận ra từ nội thất thuộc về căn hộ đầu tiên của Flora ở West Village mà chị đã chuyển đi từ lâu (Malcolm và Flora, Phố Bethune).

       Y nhìn quanh tìm kiếm JB và thấy hắn đang nói chuyện với giám đốc phòng tranh, và vào thời điểm đó, JB ngẩng đầu lên và bắt gặp ánh mắt y, và vẫy tay chào y. “Xuất sắc,” y nói thầm với JB qua đầu của những người khác, và JB cười toe toét và thì thầm đáp lại, “Cảm ơn cậu.”

       Nhưng rồi y di chuyển đến bức tường thứ ba và bức tường cuối cùng và nhìn thấy chúng: hai bức vẽ, về y, mà không một bức nào trong số đó y được JB cho xem trước. Trong bức tranh đầu tiên, y còn rất trẻ và cầm một điếu thuốc lá trong tay, và trong bức thứ hai, mà y nghĩ là vào khoảng hai năm về trước, y ngồi gập người lại bên mép giường mình, tựa trán vào bức tường, chân và tay khoanh lại và đôi mắt nhắm nghiền – đó là tư thế mà y luôn tạo ra mỗi khi y vừa phải trải qua một cơn đau và cố gom góp lại sức mạnh cơ thể trước khi gắng đứng lên lần nữa. Y không nhớ nổi JB đã chụp lại bức hình này khi nào, và thực ra, nếu nhìn vào sự phối cảnh của nó – chiếc máy ảnh chụp lén từ bên khe cửa – y biết rằng y không nhớ ra, bởi vì y không muốn nhận biết về sự tồn tại của bức hình một chút nào. Trong khoảnh khắc đó, những tiếng động trong không gian mờ nhạt đi quanh y, và y chỉ có thể nhìn và nhìn vào những bức tranh: ngay cả trong nỗi đau đớn, một phần trong tâm trí y cũng hiểu được rằng sự phản ứng của y trước bản thân bức tranh ít hơn hẳn so với những kí ức và cảm giác mà chúng khơi gợi, và rằng cảm giác của y về sự xâm phạm của những người khác khi nhìn thấy hai bức tranh về những thời điểm khổ sở trong cuộc đời y là một phản ứng mang tính cá nhân, chỉ là của riêng y. Với bất kỳ một ai khác, chúng chỉ là hai bức tranh không có bối cảnh, vô nghĩa trừ khi y lựa chọn việc tuyên bố về ý nghĩa của chúng. Nhưng mà ôi chao, thật khó khăn cho y khi phải nhìn vào chúng, và y ước gì, đột nhiên và mạnh mẽ, rằng y được ở một mình.   

       Y gắng chịu đựng qua bữa tiệc tối, mà dài lê thê và thấy nhớ Willem kinh khủng — nhưng Willem có một suất diễn vào tối đó và không thể tham dự. Ít nhất thì y cũng không phải nói chuyện với JB, lúc này đang bận làm nhân vật chính của bữa tiệc, và với những người tiếp cận y – bao gồm cả người ở phòng trưng bày tranh – để nói với y rằng hai bức tranh cuối cùng, những bức vẽ y, là xuất sắc nhất trong cuộc triển lãm (như thể theo một cách nào đó y chịu trách nhiệm trước điều này), y có thể cười và đồng ý với họ rằng JB là một tài năng phi thường.

       Nhưng sau đó, khi đã về đến nhà, sau khi đã bình tĩnh trở lại, y cuối cùng cũng có thể tự do bày tỏ với Willem về cảm giác bị phản bội của mình. Và Willem đứng về phía y không một chút do dự, giận dữ thay cho y, và vì thế mà y tạm thời được xoa dịu – và nhận ra rằng sự lá mặt lá trái của JB cũng làm Willem phải ngạc nhiên.

       Điều này đã dẫn đến trận tranh cãi thứ hai, mà bắt đầu bằng một sự đối đầu với JB ở quán café gần căn hộ của JB, trong đó JB đã chứng tỏ về khả năng không biết xin lỗi của mình: thay vì thế, hắn cứ nói và nói, về việc những bức tranh tuyệt vời ra sao, và về việc làm sao mà vào một ngày nào đó, khi mà y đã vượt qua bất kỳ vấn đề gì y đang gặp phải với bản thân mình, y sẽ thấy biết ơn về chúng, và làm thế nào mà đó không phải là một chuyện lớn lao gì, và làm thế nào mà y cần phải đối mặt với sự thiếu tự tin của mình, mà dù sao cũng hoàn toàn vô duyên vô cớ, và có lẽ điều này sẽ tỏ ra hữu ích trong quá trình đó, và làm thế nào mà tất cả mọi người ngoại trừ y đều biết rằng y vô cùng đẹp trai, và điều đó chẳng lẽ không nói lên với y được điều gì hay sao, rằng có lẽ – không, chắc chắn – y là người duy nhất sai lầm về bản thân mình, và cuối cùng, rằng dù sao thì những bức tranh cũng đã được vẽ rồi, chúng đã được hoàn thành rồi, và y muốn làm gì bây giờ? Liệu y có thấy hạnh phúc hơn không nếu chúng bị hủy đi? Hắn có nên dỡ chúng khỏi tường và đốt chúng đi không? Chúng đã bị nhìn thấy và không thể xóa đi được nữa khỏi ký ức người đời, vậy thì tại sao y lại không thể chấp nhận và quên chuyện này đi?    

       “Tôi không đòi cậu hủy chúng đi, JB,” y nói, giận dữ và chóng mặt bởi thứ logic kỳ quái của JB và sự cứng đầu cứng cổ khiến y chỉ muốn quát lên. “Tôi yêu cầu cậu xin lỗi.”

       Nhưng JB không thể, và sẽ không làm vậy, và cuối cùng y đứng dậy và bỏ đi, và JB chẳng cố ngăn y lại.

       Sau đấy, y đơn giản là thôi không nói chuyện với JB nữa. Willem có quan điểm của riêng mình, và hai người bọn họ (như Willem kể lại với y) bắt đầu quát tháo lẫn nhau ở trên phố, và rồi cả Willem nữa, cũng thôi nói chuyện với JB, và rồi kể từ đó, họ hoàn toàn dựa vào Malcolm để biết được tin tức về JB. Malcolm, vẫn luôn thể hiện thái độ lấp lửng, đã thừa nhận với họ rằng cậu nghĩ JB hoàn toàn sai, trong khi đồng thời cũng cho rằng cả hai người bọn họ đều thiếu thực tế: “Cậu biết đấy cậu ta sẽ không xin lỗi đâu, Judy ạ,” cậu nói. “Chúng ta đang nói về JB đấy. Cậu chỉ lãng phí thời gian của mình mà thôi.”

       “Chẳng lẽ tôi lại quá vô lý hay sao?” y hỏi Willem sau cuộc nói chuyện này.

       “Không hề,” Willem trả lời, ngay lập tức. “Đó là chuyện chết tiệt, Jude ạ. Cậu ta đã làm chuyện không đúng với cậu, và cậu ta cần phải xin lỗi.”

       Cuộc triển lãm thành công tốt đẹp. Bức Willem và Cô gái được gửi tới văn phòng của y, cũng như là bức Willem và Jude, Phố Lispenard, II, mà Willem đã mua. Jude, Sau trận ốm (cái tựa đề, khi y nghe thấy, lại làm y thấy giận và bẽ mặt và khiến y biết rằng “giận điên lên” có nghĩa là gì) được bán cho một nhà sưu tầm tranh mà việc mua bán được xem như là một lời chúc phúc và hứa hẹn về một tương lai thành công của JB: ông ta chỉ mua tranh trong buổi triển lãm ra mắt của các họa sĩ, và gần như mọi nghệ sĩ có tác phẩm được ông ta mua lại sẽ có một sự nghiệp vẻ vang. Chỉ có tác phẩm trung tâm của cuộc triển lãm, Jude và điếu thuốc, là chưa bán được, và đó là bởi vì một lỗi vô cùng nghiệp dư, khi giám đốc của phòng tranh đã bán nó cho một nhà sưu tầm tranh lớn người Anh còn chủ của phòng tranh thì bán nó cho Bảo tàng Nghệ thuật đương đại.

       “Thật là, tuyệt,” Willem bảo với Malcolm, biết rằng Malcolm sẽ chuyển lại lời của mình đến JB. “JB nên nói với phòng tranh rằng cậu ta sẽ giữ lại bức tranh, và cậu ta nên đưa nó cho Jude.”

       “Cậu ấy không thể làm thế,” Malcolm nói, thất kinh như thể Willem vừa đề nghị ném bức tranh vào thùng rác vậy. “Là Bảo tàng Nghệ thuật đương đại đấy.”

       “Ai mà thèm quan tâm?” Willem hỏi. “Nếu mà cậu ta giỏi đến thế, cậu ta sẽ có tác phẩm khác được trưng bày ở Bảo tàng Nghệ thuật đương đại. Nhưng để tôi nói cho cậu biết, Malcolm ạ, đây là giải pháp duy nhất mà cậu ta có thể thực hiện nếu như cậu ta muốn giữ lại tình bạn với Jude.” Anh dừng lại. “Và cả tôi nữa.”

       Vì thế mà Malcolm chuyển lời cho JB, và viễn cảnh về việc mất đi Willem như là một người bạn cũng đủ để khiến JB gọi cho Willem và yêu cầu một cuộc hẹn, mà tại đó JB đã khóc lóc và buộc tội Willem vì phản bội mình, và luôn theo phe Jude, và hiển nhiên chẳng thèm đoái hoài gì tới hắn, sự nghiệp, của JB, khi mà hắn, JB, vẫn luôn ủng hộ Willem.

       Và tất cả những điều này diễn ra trong nhiều tháng, khi xuân chuyển sang hè, và y và Willem đã đi tới Truro mà không có JB (và không có cả Malcolm, người nói với họ rằng cậu sợ phải bỏ lại JB một mình), và JB tới thăm nhà Irvines ở Aquinnah vào ngày lễ Chiến sĩ trận vong[2] và họ đi nghỉ qua ngày Bốn tháng Bảy, và y với Willem thực hiện chuyến đi dài đã được lên kế hoạch tới Croatia và Thổ Nhĩ Kỳ mà chỉ có hai người.

       Và rồi mùa thu tới, và đó là khi Willem và JB có cuộc gặp gỡ lần thứ hai, Willem bất ngờ nhận được vai diễn điện ảnh đầu tiên, vào vai vị vua trong một tác phẩm chuyển thể Cô gái và Đôi tay bạc và sẽ tới Sofia để quay phim vào tháng Một, và y được thăng chức ở công ty và được mời làm đối tác tại Cromwell Thurman Grayson & Ross, một trong những hãng luật tiếng tăm nhất thành phố, và buộc phải dùng đến chiếc xe lăn mà Andy kiếm cho y từ hồi tháng Năm thường xuyên hơn, và Willem đã chia tay người bạn gái hẹn hò được một năm và hiện đang hẹn hò với một chuyên gia thiết kế trang phục có tên Philippa, và đồng nghiệp cũ của y, luật sư Kerrigan, đã gửi email hàng loạt tới mọi người mà anh từng làm việc cùng để công khai mình là người đồng tính và lên án chủ nghĩa bảo thủ, và Harold hỏi y rằng những ai sẽ tham gia Lễ Tạ ơn năm nay, và rằng liệu y có thể ở lại sau khi bất kỳ ai mà y mời đến đều đã ra về hay không, bởi vì ông và Julia có việc cần nói với y, và y đã xem các vở kịch cùng với Malcolm và các buổi trình diễn nghệ thuật cùng Willem và đọc những cuốn tiểu thuyết mà có lẽ y sẽ tranh cãi về chúng với JB, vì hai người bọn họ là những người đọc sách trong nhóm: cả một danh sách những việc mà bốn người từng lập ra cùng nhau nhưng giờ đây họ lại bàn đến theo nhóm hay hoặc ba người. Ban đầu, cảm giác cứ như là bị mất phương hướng vậy, khi họ đã hoạt động theo một bộ tứ trong nhiều năm, nhưng y đã dần quen với điều này, và mặc dù y thấy nhớ JB – sự coi trọng bản thân đầy dí dỏm của hắn, cái cách mà hắn có thể nhìn mọi thứ mà thế giới này mang lại như chỉ để xoay quanh hắn – y cũng nhận ra mình không thể tha thứ cho hắn được và, đồng thời, có thể nhìn thấy cuộc đời mình ra sao khi không có hắn.    

       Và giờ đây, y nghĩ, trận chiến của họ đã chấm dứt, và bức tranh đã thuộc về y. Willem cùng đến văn phòng với y vào ngày thứ Bảy tuần đó và y mở nó ra và treo nó lên trên tường và hai người bọn họ chào đón nó trong yên lặng, như thể đó là một con vật quý hiếm và chậm chạp trong sở thú. Đó là bức tranh đã được nhắc đến trong bài phê bình trên tờ Times và, sau đấy, là bài viết trên tạp chí Artforum, nhưng chỉ tới tận bây giờ, trong sự an toàn trong văn phòng làm việc của mình, mà y mới có thể thật sự ngắm nhìn nó – nếu như y có thể quên đi rằng đó là bức tranh vẽ y, có lẽ y sẽ thấy nó đẹp đến nhường nào, và tại sao JB lại bị hấp dẫn trước nó: bởi cái con người xa lạ trong bức tranh kia nom thật sợ hãi và đề phòng, người mà không thể phân biệt rõ là nam hay nữ, khoác bộ trang phục trông như đi mượn, bắt chước các cử chỉ và tư thế của người trưởng thành trong khi rõ ràng chẳng hiểu gì về họ. Y không còn cảm thấy bất cứ điều gì về con người đó nữa, nhưng việc không còn cảm thấy gì về con người đó là một hành động có ý thức của ý chí, giống như là việc quay người đi khỏi một ai đó trên phố dù cho ta vẫn nhìn thấy họ luôn, và giả bộ như thể ta không thể thấy họ hết ngày này qua ngày khác cho tới một ngày kia, ta thật sự không thể tiếp tục như vậy nữa – hoặc vì vậy mà ta có thể khiến bản thân mình tin vào điều đó.   

       “Tôi không biết mình sẽ làm gì với nó,” y thú nhận với Willem, đầy hối tiếc, bởi vì y không hề muốn bức tranh này, và vẫn cảm thấy có lỗi về việc Willem đã loại JB ra khỏi cuộc đời mình vì y, và vì y biết rằng y sẽ không bao giờ nhìn vào nó một lần nào nữa.

       “À,” Willem nói, và sau đó là yên lặng. “Cậu vẫn luôn có thể tặng lại nó cho Harold; tôi chắc chắn là ông ấy sẽ rất thích nó.” Và khi đó y biết rằng Willem có thể vẫn luôn biết là y không muốn bức tranh ấy, và rằng điều đó chẳng quan trọng gì với anh, rằng anh không hề hối tiếc vì đã chọn y thay vì JB, rằng anh không hề oán trách y vì đã thực hiện cái quyết định ấy.

       “Tôi có thể,” y chầm chậm nói, mặc dù y biết rằng y sẽ không làm thế: Harold thật ra sẽ thích nó (ông đã tỏ ra như vậy khi tham dự triển lãm) và sẽ treo nó ở nơi nào dễ thấy, và mỗi khi y tới thăm ông, y sẽ phải nhìn vào nó. “Xin lỗi nhé, Willem,” cuối cùng y nói, “Tôi xin lỗi vì đã lôi cậu đến tận đây. Tôi nghĩ là tôi sẽ để nó lại ở đây cho tới khi tôi nghĩ ra được sẽ làm gì với nó.”

       “Được rồi mà,” Willem trả lời, và hai người bọc bức tranh lại và đặt nó dưới bàn làm việc của y.

       Sau khi Willem rời đi, y mở điện thoại và lần này, y gửi một tin nhắn cho JB. “JB,” y bắt đầu, “Cảm ơn cậu nhiều vì bức tranh, và cả lời xin lỗi của cậu nữa, cả hai điều này đều có ý nghĩa rất lớn.” Y dừng lại, suy nghĩ về việc sẽ nói điều gì tiếp theo. “Tôi nhớ cậu, và muốn nghe về những điều đang diễn ra trong cuộc sống của cậu,” y tiếp tục. “Hãy gọi cho tôi khi cậu có thời gian gặp mặt nhé.” Tất cả những điều này đều là thật lòng.

       Và bỗng nhiên, y biết mình nên làm gì với bức tranh. Y tìm địa chỉ của người đăng ký tác quyền của JB và viết cho cô ấy một bức thư, cảm ơn cô vì đã gửi cho y bức tranh Jude và Điếu thuốc lá và bảo với cô rằng y muốn tặng lại nó cho Bảo tàng Nghệ thuật Đương đại, và liệu cô có thể giúp thực hiện việc này không?

       Sau này, y sẽ nhìn nhận câu chuyện này như là một điểm tựa, điểm mấu chốt giữa một mối quan hệ đã từng là một điều và rồi trở thành một điều gì đó khác: tình bạn của y với JB, dĩ nhiên là vậy, nhưng cũng còn là cả tình bạn của y với Willem. Có những thời điểm trong những năm tháng ở độ tuổi hai mươi mà y từng nhìn vào các bạn của mình và cảm thấy một sự mãn nguyện thuần khiết, sâu sắc rằng y ước sao thế giới quanh họ sẽ đơn giản là ngừng lại, rằng không một ai trong số họ sẽ dịch chuyển khỏi cái khoảnh khắc ấy, khi mà mọi thứ đều thật cân bằng và lòng yêu mến mà y dành cho họ thật trọn vẹn. Nhưng, dĩ nhiên, điều đó là không thể: chỉ một giây lát sau, mọi thứ đều dịch chuyển, và khoảnh khắc ấy cứ lặng lẽ biến mất.

       Sẽ là quá cường điệu, quá chung cuộc, để nói rằng sau sự kiện này JB sẽ mãi mãi trở nên nhỏ bé trong mắt y. Nhưng thật đúng là đó là lần đầu tiên, y có thể nhận thức thấu đáo rằng những người mà y tin tưởng có thể sẽ phản bội y vào một ngày nào đó, và dù cho điều đó có đáng thất vọng đến nhường nào, thì đó cũng là một việc không thể tránh khỏi, và rằng cuộc đời sẽ tiếp tục thúc y đều đặn tiến về phía trước, bởi vì khi bất kỳ ai cũng có thể làm y thất vọng theo một cách nào đó, thì ít nhất cũng có một người không bao giờ làm vậy.

 

***

[1] The Malamud Theorem: tạm dịch Định lý Malamud

 

[2] Lễ Chiến sĩ trận vong hay Ngày Tưởng niệm Liệt sĩ (tiếng Anh: Memorial Day) là một ngày lễ liên bang tại Hoa Kỳ, diễn ra vào ngày thứ Hai cuối cùng trong tháng 5 hằng năm. Trước kia với tên gọi là Ngày Gắn Huy Chương (Decoration Day), ngày lễ này tưởng niệm những quân nhân Hoa Kỳ đã tử nạn trong quân ngũ. Ngày lễ đầu tiên tưởng niệm quân nhân Liên bang miền Bắc đã tử nạn trong cuộc nội chiến (được tưởng niệm gần ngày thống nhất sau cuộc chiến). Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất ngày lễ này bắt đầu được mở rộng để tưởng niệm các binh sĩ bị tử nạn trong các cuộc chiến khác. Từ năm 1971 Ngày Lễ chiến sĩ trận vong chính thức trở thành ngày lễ liên bang ở Hoa Kỳ. Vào ngày này người Mỹ đi viếng thăm các nghĩa trang và các đài kỉ niệm; lá cờ Mỹ để rũ cho đến trưa theo giờ địa phương. Nhiều người Mỹ coi Ngày Chiến sĩ trận vong là ngày bắt đầu mùa hè. Theo truyền thống ngày này kèm theo các hoạt động gia đình, đi cắm trại hay các sự kiện thể thao.

 

 

 

Advertisements