4f519db724c7cec79cb5c01b61775300

 

 

CHƯƠNG 3 (tiếp)

 

 

        Ngày 15 là ngày thứ Sáu, y xin nghỉ làm. Họ từng bàn đến việc tổ chức tiệc tối vào ngày thứ Năm, nhưng cuối cùng, họ quyết định ăn trưa sớm vào ngày diễn ra buổi lễ (theo cách gọi của JB). Phiên tòa của họ diễn ra lúc mười giờ, và sau khi nó kết thúc, mọi người sẽ quay về nhà để ăn mừng.

       Harold muốn đặt cỗ, nhưng y khăng khăng tự mình vào bếp, và y dành cả buối tối ngày thứ Năm ở trong bếp. Y nướng bánh vào đêm đó — chiếc bánh ngọt sô-cô-la hồ đào mà Harold thích; chiếc bánh tạc kiểu Pháp mà Julia thích; chiếc bánh mỳ mà cả hai người đều thích — và chọn năm cân cua và trộn thứ thịt đó với trứng và hành tây và cây mùi tây và bột chiên xù và nặn chúng thành những miếng chả. Y rửa khoai tây và cọ sạch cà-rốt và cắt phần đầu của cây bắp cải Brussels để ngày hôm sau y chỉ việc rưới lên dầu ăn và bỏ chúng vào lò nướng. Y đổ quả vả ra một cái tô, mà y sẽ nướng lên và phục vụ với kem cùng một ít mật ong và giấm thơm. Đó đều là những món yêu thích của Harold và Julia, và y thấy vui khi nấu chúng, vui vì có được một thứ gì đó dành tặng họ, dù có nhỏ bé ra sao. Suốt cả buổi tối, Harold và Julia cứ đi ra đi vào, và mặc dù y bảo họ đừng làm thế nữa, họ vẫn rửa bát đĩa và xoong chảo hộ y, rót nước và rót rượu cho y, và hỏi y rằng liệu họ có thể trợ giúp được gì hay không, mặc dù y bảo với họ rằng họ nên nghỉ ngơi đi thôi. Cuối cùng họ đi ngủ, và mặc dù y hứa rằng y cũng sẽ ngủ, thay vì vậy y lại thức, quanh y căn bếp thật sáng sủa và yên tĩnh, lặng lẽ hát, tay y hoạt động liên tục để ngăn chặn cơn điên loạn trong mình.

       Mấy ngày vừa qua thật quá đỗi khó khăn, một trong những ngày khó khăn nhất mà y còn nhớ được, khó khăn tới mức y thậm chí đã gọi cho Andy sau cuộc gọi kiểm tra lúc nửa đêm của anh vào một đêm nọ, và khi Andy đề nghị gặp y ở một quán ăn rẻ tiền vào lúc hai giờ sáng, y chấp nhận lời đề nghị và đi tới đó, bức thiết trong việc cần phải kéo bản thân y rời khỏi căn hộ, mà bỗng nhiên có vẻ như đầy những cám dỗ không thể cưỡng lại: dao cạo, dĩ nhiên, nhưng còn có cả những con dao thường và kéo và diêm, và cái cầu thang để y gieo mình xuống. Y biết rằng nếu lúc này y trở về phòng mình, y sẽ không thể ngăn bản thân khỏi việc lao thẳng vào phòng tắm, nơi mà y từ lâu đã cất một cái túi, những gì trong đó giống y như cái túi ở phố Lispenard, được giấu dưới gầm của cái bồn rửa mặt: cánh tay y nhức nhối vì sự khao khát, và y quyết tâm không dành cho nó điều đó. Y vẫn có bột nhào và bột lên men còn sót lại, và quyết định rằng y sẽ làm bánh tạc với hạt thông và trái man việt quất, và có lẽ là một chiếc bánh dẹt tròn được trang trí bằng những lát cam và mật ong: khi cả hai chiếc bánh này đã được hoàn thành, trời sẽ sáng và y sẽ qua được nguy hiểm và sẽ thành công trong việc tự cứu lấy mình.  

       Malcolm và JB đều sẽ có mặt ở tòa án vào ngày hôm sau; họ sẽ đáp chuyến bay buổi sáng. Nhưng Willem, người đáng lý ra sẽ có mặt ở đó, lại không thể; anh đã gọi điện vào một tuần trước đó và báo rằng việc quay phim đang bị trì hoãn, và anh sẽ trở về nhà vào ngày mười tám, chứ không phải là ngày mười bốn. Y biết rằng chẳng thể can thiệp vào việc này, nhưng dầu vậy, y vẫn rất buồn vì sự vắng mặt của Willem: một ngày như thế này mà thiếu Willem sẽ không thể là một ngày trọn vẹn. “Gọi ngay cho tôi sau khi phiên tòa kết thúc nhé,” Willem nói với y. “Tôi chết mất vì không thể có mặt ở đó.”

       Tuy vậy, y đã mời Andy trong một lần nói chuyện vào ban đêm của họ, mà y bắt đầu thấy thích thú tận hưởng chúng: trong những cuộc nói chuyện đó, họ nói về những việc thường ngày, những điều bình yên, những chuyện bình thường — thẩm phán Tòa án tối cao mới được bổ nhiệm; hóa đơn viện phí mới nhất (y đồng ý với quy định mới đó; Andy thì không); một cuốn tiểu sử của Rosalind Franklin[1] mà họ vừa mới đọc (y thấy thích; Andy thì không); căn hộ mà Andy và Jane vừa mới tân trang lại. Y thích cái sự lạ thường khi nghe Andy nói, với một sự oán giận thực sự, “Jude, cậu đúng là đang đùa tôi đấy phỏng!,” mà y vẫn thường nghe khi phải nghe anh trách cứ về việc rạch tay của mình, hay các kỹ năng băng bó tệ hại của mình, (thay vì đưa ra) quan điểm của y về phim ảnh, về ông thị trưởng, về những cuốn sách, và thậm chí là về cả màu sơn. Một khi y biết được rằng Andy sẽ sử dụng những cuộc chuyện trò của họ như là một cơ hội để quở trách y, hay dạy giỗ y, y thấy thoải mái với chúng, và thậm chí còn tìm cách để hiểu thêm điều gì đó từ Andy:  Andy kể về người anh em sinh đôi của mình, Beckett, cũng là một bác sĩ, một bác sĩ tim mạch, đang sống ở San Francisco và có một người bạn trai mà Andy rất ghét và đang có mưu đồ khiến cho Beckett chia tay với anh ta; và làm sao mà cha mẹ của Jane lại cho họ ngôi nhà ở Shelter Island; và làm sao mà Andy lại tham gia vào đội bóng khi còn ở trường trung học, một việc rất Mỹ khiến bố mẹ anh không mấy hài lòng; và làm sao mà anh đã dành năm đầu tiên đại học của mình ở Siena[2], nơi mà anh từng hẹn hò với một cô gái đến từ Lucca[3] và tăng được hai mươi pound. Chẳng phải là y và Andy không bao giờ nói về cuộc sống riêng tư của Andy cả — họ luôn nói thêm dăm ba câu sau mỗi lần hẹn khám — nhưng trên điện thoại y nói nhiều hơn, và y có thể giả vờ rằng Andy chỉ là một người bạn của y chứ không phải là bác sĩ, bất kể sự thật rằng cái ảo tưởng này không đúng với mục đích ban đầu của cuộc gọi.  

       “Dĩ nhiên là, anh không cần cảm thấy phải có mặt ở đấy,” y thêm vào, vội vã, sau khi mời Andy tới dự phiên tòa.

       “Tôi rất thích tới đó,” Andy nói. “Tôi đang không biết là khi nào mình mới được mời đây.”

       Rồi thì y cảm thấy thật tệ. “Tôi chỉ không muốn anh cảm thấy rằng anh phải dành thêm thời gian cho một bệnh nhân kỳ quặc của anh, người vốn đã khiến cho cuộc sống của anh đủ vất vả rồi,” y nói.

       “Cậu không chỉ là một bệnh nhân kỳ lạ của tôi thôi đâu, Jude ạ,” Andy nói. “Cậu còn là người bạn kỳ lạ của tôi nữa.” Anh dừng lại. “Hay ít nhất, tôi cũng mong là như vậy.”

       Y mỉm cười với cái điện thoại. “Dĩ nhiên là vậy rồi,” y nói. “Tôi rất hân hạnh được là một người bạn kỳ lạ của anh.”

       Và vì thế nên Andy cũng có mặt: anh sẽ bay trở về vào buổi chiều hôm đó, nhưng Malcolm và JB sẽ nghỉ lại qua đêm, và họ sẽ cùng rời đi vào ngày thứ Bảy.

       Khi đến nơi, y đã ngạc nhiên, và rồi cảm động, khi thấy Harold và Julia đã dọn dẹp ngôi nhà kĩ lưỡng đến nhường nào, và họ tự hào ra sao về việc đó. “Nhìn xem!” một trong hai người cứ liên tục nói, tự hào chỉ vào một vị trí — cái bàn, cái ghế, một góc phòng — vẫn thường bị che khuất bởi những chồng sách báo, mà giờ đây lại sạch bong. Hoa có mặt ở khắp mọi nơi — những loài hoa của mùa đông: các bó hoa cải bắp cảnh và những cành thù du trắng và những bông thủy tiên, với hương thơm dịu ngọt của chúng — và những cuốn sách nằm trên giá được xếp thẳng lại và thậm chí là đệm của chiếc sofa cũng đã được bọc lại.

       “Và nhìn này, Jude,” Julia nói, khoác tay y, và chỉ cho y thấy chiếc đĩa tráng men ngọc bích được đặt trên chiếc bàn ở hành lang, đã bị vỡ từ hồi y mới vừa biết họ, những mảnh vỡ bị đặt vào trong lòng bát và phủ đầy bụi. Nhưng giờ đây nó đã được sửa lại, và được rửa sạch và đánh bóng.  

       “Ô,” y thốt lên mỗi khi được giới thiệu trước một điều mới mẻ, cười như một thằng ngốc, hạnh phúc bởi vì họ trông thật hạnh phúc. Y không quan tâm, chưa bao giờ, liệu ngôi nhà của họ có sạch sẽ khay không — họ có thể sống trong sự vây bủa của những chồng báo New York Times cũ kỹ, với hàng đàn chuột béo núc kêu chít chít chạy dưới chân là tất cả những gì y quan tâm — nhưng y biết rằng họ nghĩ là y quan tâm, vã đã hiểu lầm thói không ngừng dọn dẹp đến chán ngắt của y thành sự quở trách, dù y đã cố gắng, và không ngừng cố gắng, để thuyết phục họ rằng không phải là vậy. Hiện giờ y dọn dẹp để ngăn bản thân mình, để làm xao nhãng bản thân, để khỏi làm những điều khác, nhưng khi y còn ở trường đại học, y dọn dẹp cho những người khác để bày tỏ lòng biết ơn của mình: đó là việc mà y có thể làm và vẫn luôn làm, và họ đã cho y rất nhiều trong khi y chỉ có thể cho họ rất ít. JB, kẻ thích ở bẩn, chẳng bao giờ chú ý. Malcolm, kẻ lớn lên cùng với một người giúp việc, thì luôn để ý và luôn cảm ơn y. Chỉ có Willem là không thích điều đó. “Đừng làm nữa, Jude,” anh nói vào một ngày nọ, nắm lấy cổ tay y khi y nhặt cái áo bẩn của JB lên từ dưới sàn nhà, “cậu không phải là người hầu của bọn tôi.” Nhưng y không thể dừng lại, kể cả sau này, kể cả bây giờ.

       Vào lúc y lau chùi xong mặt bàn bếp lần cuối, đã gần bốn giờ rưỡi sáng, và y loạng choạng đi về phòng mình, nhắn tin cho Willem rằng đừng gọi cho y, và rơi vào một giấc ngủ ngắn, mê mệt. Khi y thức dậy, y dọn giường và tắm rửa và mặc quần áo vào và quay trở lại căn bếp, nơi mà Harold đang đứng bên quầy bếp, đọc báo và uống cà phê.

       “Ô,” Harold nói, ngước lên nhìn y. “Con trông đẹp trai quá này.”

       Y lắc đầu, theo phản xạ, nhưng thực ra y vừa mua một cái cà-vạt mới, và cắt tóc vào ngày hôm trước, và y cảm thấy, nếu không đẹp trai, thì chí ít cũng thật gọn gàng và chỉnh tề, mà y vẫn luôn cố thể hiện. Y hiếm khi thấy Harold mặc vét, nhưng y cũng đang mặc vét, và sự trang trọng của sự kiện này khiến y bỗng nhiên ngại ngùng.  

       Harold mỉm cười với y. “Rõ là đêm qua con rất bận rộn, nhỉ. Con ngủ có ngon không?”  

       Y mỉm cười đáp lại. “Đủ ạ.”

       “Julia chuẩn bị sắp xong rồi,” Harold nói, “nhưng ta có cái này cho con.”

       “Cho con á?”

       “Ừ,” Harold trả lời, và cầm lên một chiếc hộp nhỏ bằng da, có kích cỡ của một nửa quả bóng chày, từ bên cạnh chiếc cốc cà phê của ông và đưa nó cho y. Y mở nó ra và bên trong là chiếc đồng hồ của Harold, với mặt tròn màu trắng và những con số trang nhã, gọn gàng. Dây đeo đã được thay mới bằng một dây da cá sấu màu đen.

       “Cha ta đã đưa nó cho ta khi ta tròn ba mươi tuổi,” Harold nói, khi y không nói gì. “Nó từng là của cha ta. Và vì con vẫn đang ở độ tuổi ba mươi, nên ít nhất ta cũng không phá vỡ truyền thống này.” Ông lấy chiếc hộp khỏi khỏi tay y và lấy ra chiếc đồng hồ và lật ngược nó lại để y có thể thấy những chữ cái được khắc lên mặt sau của chiếc đồng hồ: SS/HS/JSF. “Saul Stein,” Harold đọc. “Đó là tên cha ta. Và rồi HS là tên ta, và JSF là tên của con.” Ông trả lại chiếc đồng hồ cho y.

       Y nhẹ nhàng lướt đầu ngón tay của mình lên mặt chữ. “Con không thể nhận nó được, Harold ạ,” cuối cùng, y nói.

      

       “Dĩ nhiên là con có thể,” Harold bảo y. “Nó là của con, Jude. Ta đã mua một cái mới mất rồi; con không thể trả lại được đâu.”

       Y có thể cảm thấy Harold đang nhìn mình. “Cảm ơn cha,” cuối cùng y nói. “Cảm ơn.” Y dường như chẳng thể nói ra một điều gì khác nữa.

       “Đấy là niềm vinh hạnh của ta,” Harold nói, và cả hai người không nói gì nữa trong một lúc, cho tới khi y tự tháo chiếc đồng hồ trên tay mình ra và đeo vào chiếc đồng hồ của Harold — mà giờ đây, đã là của y — lên cổ tay y, giơ lên cho Harold xem, người lúc này vừa gật đầu. “Đẹp đấy,” ông nhận xét. “Nó rất hợp với con.”

       Y chuẩn bị trả lời với một điều gì đó (gì thế?), thì y nghe, và rồi nhìn thấy, JB và Malcolm, cũng đều trong bộ đồ vét.

       “Cửa không khóa,” JB nói, trong khi Malcolm thở dài. “Harold!” hắn ôm chầm lấy ông, “Chúc mừng chú! Đó là một cậu con trai!”

       “Tôi chắc là Harold chưa từng nghe thấy lời nào như thế,” Malcolm nói, vẫy tay chào Julia, người đang đi vào bếp.

       Andy tới sau đó, và rồi Gillian; họ sẽ gặp Laurence ở tòa án.

       Chuông cửa lại reo lên lần nữa. “Chúng ta còn chờ ai nữa ạ?” y hỏi Harold, người đang nhún vai: “Con có đoán được không, Jude?”

       Vì thế mà y ra mở cửa, và đó là Willem. Y nhìn chằm chằm Willem trong một giây, và rồi, trước khi y có thể tự bảo mình bình tĩnh lại, Willem lao vào người y như một con cầy hương và ôm chặt lấy y khiến cho trong một khoảnh khắc y sợ rằng anh sẽ xuyên qua người y mất. “Ngạc nhiên chưa?” Willem nói bên tai y, và từ giọng nói của anh y biết được rằng anh đang cười. Đó là lần thứ hai trong buổi sáng này y chẳng thể nói nên lời. Không nói nổi thành lời.  

       Phiên tòa sẽ là phiên thứ ba. Họ ngồi vào hai chiếc xe, và trong chiếc xe của y (Harold lái xe, với Malcolm ngồi ở ghế phụ lái), Willem giải thích rằng lịch làm việc của anh thật sự đã bị thay đổi; nhưng khi nó được đổi lại như cũ, anh đã không thông báo với y, mà chỉ với những người khác, vì thế mà sự xuất hiện của anh sẽ là một sự ngạc nhiên. “Vâng, cảm ơn vì điều đó, Willem,” Malcolm nói, “tôi đã phải giám sát JB như một điệp viên CIA để đảm bảo rằng cậu ta không lỡ miệng tiết lộ ra điều gì đó.”

       Họ không tới tòa án gia đình mà tới tòa phúc thẩm nằm trên Quảng trường Pemberton. Bên trong phòng xử án của Laurence — Laurence nom thật lạ trong chiếc áo choàng thẩm phán: đó là một ngày mà mọi người đều mặc lễ phục — y và Harold và Julia lập lời tuyên thệ, Laurence cười suốt cả phiên tòa, và rồi chụp ảnh lia lịa, với mọi người chụp ảnh mọi người khác theo những sự sắp xếp và những tư thế khác nhau. Y là người duy nhất không làm phó nháy một lần nào ả, bởi vì y có mặt trong mọi bức hình.

       Y đang đứng cùng với Harold và Julia, đợi Malcolm mày mò cách sử dụng chiếc máy ảnh to đùng, phức tạp của mình, khi mà JB gọi tên y, và cả ba người đều quay lại, và JB chụp ảnh. “Được rồi,” JB nói. “Cảm ơn.”

       “JB, tốt nhất là nó không dành cho—” y bắt đầu, nhưng rồi Malcolm báo rằng cậu đã sẵn sàng, và rồi ba người bọn họ ngoan ngoãn quay người về phía cậu.

       Họ trở về nhà vào buổi trưa, và ngay sau đó các vị khách bắt đầu xuất hiện — Gillian và Laurence và James và Carey, và những người đồng nghiệp của Julia và Harold, một số người y chưa từng gặp lại kể từ thời y theo học ở trường luật. Thầy giáo thanh nhạc của y cũng tới dự, cũng như là Tiến sĩ Li, giáo sư toán của y, và tiến sĩ Kashen, giáo sư hướng dẫn luận văn cao học cho y, và Allison, sếp cũ của y tại Batter, và một người bạn của tất cả bọn họ hồi còn ở Hood Hall, Lionel, đang dạy vật lý ở Wellesley. Mọi người đến và đi trong suốt cả buổi chiều, đi và đến từ các lớp học, các buổi họp, các phiên tòa. Ban đầu y không muốn có một cuộc tụ tập như vậy, với quá nhiều người — khi mà việc y được nhận Harold và Julia làm cha mẹ có thể sẽ gây ra, thậm chí là khuyến khích, cho câu hỏi về việc tại sao y lại không có cha mẹ ngay từ đầu? — nhưng khi nhiều giờ qua đi, và không một ai hỏi câu nào, không một ai muốn biết rằng tại sao y lại cần một gia đình mới, y nhận thấy mình đã quên đi nỗi sợ ban đầu. Y biết rằng việc y kể với những người khác về việc nhận nuôi này là một sự khoe khoang, và sự khoe khoang đó cũng có hậu quả riêng của nó, nhưng y không thể ngăn mình lại. Chỉ một lần này thôi, y khẩn nài bất kỳ ai trên thế gian này có thể trừng phạt y vì hành vi xấu xa của mình. Xin hãy để cho tôi được tận hưởng trước điều này, điều mà chỉ xảy ra với tôi đúng một lần trong đời.

       Không có qui ước nào cho một bữa tiệc như vậy, và vì thế mà những vị khách đã tự tạo ra nó theo cách của mình: cha mẹ Malcolm gửi một chai sâm-banh lớn và một thùng rượu vang Super Tuscan từ một vườn nho mà họ đồng sở hữu ở Montalcino[4]. Mẹ của JB gửi tặng Harold và Julia bao củ cây thủy tiên, và một tấm thiệp dành cho y; các dì của hắn thì tặng một cây lan. Văn phòng Luật sư Hoa Kỳ gửi tới một thùng hoa quả lớn, với một tấm thiệp được ký tên bởi Marshall và Citizen và Rhodes. Các vị khách mang tới rượu và hoa. Allison, đã nhiều năm tiết lộ với Harold rằng y là người làm ra món bánh quy có hình các loại vi khuẩn, mang đến năm chục chiếc bánh với thiết kế nguyên bản của y, khiến cho y đỏ mặt và Julia thì thốt lên vui sướng. Phần còn lại trong ngày là loạt những điều ngọt ngào: mọi thứ y làm trong ngày đều hoàn hảo, mọi điều y nói đều đúng đắn. Mọi người tìm đến y và y không tránh đi hay ngượng ngùng với họ; họ chạm vào y và y để cho họ làm vậy. Mặt y đau nhức vì cười nhiều. Hàng thập niên của sự chấp thuận, của sự yêu mến được nhồi vào trong buổi chiều này, và y ngấu nghiến chúng, quay cuồng trong sự lạ lẫm của toàn bộ những điều này. Y nghe thấy từ đằng xa tiếng Andy đang tranh luận với tiến sĩ Kashen về một dự án chôn rác khổng lồ mới đang được đệ trình ở Gurgaon, nhìn Willem kiên nhẫn lắng nghe giáo sự pháp lý của y nói chuyện, nghe lén JB giải thích với tiến sĩ Li về việc tại sao khung cảnh nghệ thuật ở New York lại nát bét đến không thể cứu vãn, nhìn trộm Malcolm và Carey đang cố gắng moi ra con cua lớn nhất trong chồng cua mà không làm đổ nó.

      

       Vào đầu giờ tối, mọi người đều đã rời đi, và chỉ còn lại sáu người bọn họ nằm ườn ra trong phòng khách: y và Harold và Julia và Malcolm và JB và Willem. Ngôi nhà lại một lần nữa trở nên bừa bộn. Julia nhắc tới bữa tối, nhưng mọi người — thậm chí là cả y — đều đã ăn quá nhiều, và không một ai, kể cả JB, muốn nghĩ về nó. JB tặng Harold và Julia một bức tranh vẽ y, nói rằng, trước khi hắn trao nó cho họ, “Nó không được vẽ từ ảnh chụp, chỉ là một ký họa thôi.” Bức tranh, được JB thực hiện bằng màu nước và mực trên một mặt giấy cứng, vẽ khuôn mặt và cái cổ của y, và theo một phong cách khác hẳn với những gì mà y từng thấy trong các tác phẩm của JB: giản dị và mang tính biểu cảm hơn, trong một bảng màu ảm đạm. Ở đó, bàn tay phải của y hờ hững đặt trên cổ, như thể y sắp tự mình tóm lấy nó và xiết chặt lại, và miệng y hơi hé ra, và đồng tử của y mở lớn, như một con mèo ở trong bóng tối. Không thể phủ nhận rằng đó là y — y thậm chí còn nhận ra cử chỉ của chính mình, mặc dù y không thể, lúc này, nhớ lại nó có nghĩa là gì, hay cảm xúc mà nó đi kèm. Khuôn mặt có hơi lớn hơn so với trong đời thật, và tất cả mọi người đều lặng lẽ nhìn vào đó.

       “Bức này quả thực rất ổn,” cuối cùng JB nói, nghe ra vẻ hài lòng. “Cứ cho cháu biết nếu chú có ý định bán nó, Harold,” và rốt cuộc, mọi người đều bật cười.

       “JB, nó thật, thật đẹp – cảm ơn con,” Julia nói, và rồi Harold lập lại lời của bà. Y cảm thấy thật khó khăn, như y vẫn thường cảm thấy mỗi khi đối mặt với những bức tranh mà JB vẽ về y, để tách biệt vẻ đẹp của bản thân nghệ thuật với sự chán ghét mà y cảm thấy về hình ảnh của chính mình, nhưng y không muốn trở nên khiếm nhã, và vì thế mà y nói theo lời khen của họ.

       “Đợi đã, tôi cũng có thứ này,” Willem nói, đi về phòng ngủ, và quay trở lại với một bức tượng gỗ, cao khoảng mười tám in-sơ, của một người đàn ông có râu trong bộ áo choàng màu xanh cẩm tú cầu, một vòng lửa nhỏ, như cái bờm của con rắn hổ mang, bao quanh mái tóc màu đỏ của ông ta, bàn tay phải của ông ta đặt trên ngực, tay trái xuôi xuống bên hông.

       “Gã này là ai thế?” JB hỏi.

       “Gã này,” Willem trả lời, “là Thánh Jude, cũng còn được biết đến là Judas Thaddeus[5].” Anh đặt ông ta trên chiếc bàn cà phê, quay mặt ông ta về phía Julia và Harold. “Cháu có được gã từ một cửa hàng đồ cổ ở Bucharest[6],” anh kể với họ. “Họ nói rằng nó được làm vào cuối thế kỷ mười chín, nhưng cháu không biết — cháu nghĩ nó chỉ là sản phẩm điêu khắc của ngôi làng. Dù sao, cháu vẫn thấy thích nó. Nó thật đẹp và oai vệ, như Jude của chúng ta vậy.”

      

       “Tôi cũng thấy vậy,” Harold nói, cầm bức tượng lên và giữ nó bằng hai tay. Ông vuốt ve các nếp gấp trên chiếc áo choàng của bức tượng, vòng hoa lửa trên đầu người đàn ông. “Tại sao đầu ông ta lại có lửa?”

       “Để tượng trưng cho việc ông ta có mặt ở Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống[7] và nhận chức danh Thánh,” y nghe thấy tiếng mình vang lên, những kiến thức xưa cũ không bao giờ phai nhạt, vẫn luôn quẩn quanh trong ngóc ngách tận cùng của tâm trí y. “Ông ấy là một trong những tông đồ của Jesus.”

       “Làm sao cậu biết?” Malcolm hỏi, và Willem, người ngồi cạnh y, chạm vào cánh tay y. “Dĩ nhiên là cậu biết,” Willem nói, lặng lẽ. “Tôi luôn quên mất,” và y bỗng cảm thấy biết ơn Willem, không phải vì nhớ, mà vì quên.

       “Vị thánh bảo trợ của những hoàn cảnh nguy nan,” Julia thêm vào, lấy bức tượng từ tay Harold, và những từ ngữ lập tức hiện ra trong đầu y: Xin hãy phù hộ chúng con, thưa Thánh Jude, người bảo trợ cho nỗi tuyệt vọng, xin hãy cầu nguyện cho chúng con — khi mà y còn là một đứa trẻ, đó vẫn luôn là lời cầu nguyện cuối cùng của y vào mỗi tối, và chỉ đến tận sau khi y lớn hơn một chút y mới thấy hổ thẹn trước cái tên của mình, về việc nó dường như tuyên bố về con người y như thế nào với thế gian, và tự hỏi rằng liệu các tu huynh có dự định về điều đó như y chắc chắn rằng những người khác cũng nhìn thấy hay không: như là một sự nhạo báng; như là một lời đoán định; như là một sự dự đoán. Và nó cũng có cảm giác, đôi khi, như thể đó là tất cả những gì thuộc về y, và mặc dù có những lúc y có thể, và thậm chí nên thay đổi nó, y vẫn không bao giờ làm vậy. “Willem, cảm ơn con,” Julia nói. “Cô rất thích.”

       “Tôi cũng vậy,” Harold nói. “Các cậu, các cậu thật dễ thương quá.”

       Cả y nữa, cũng có một món quà dành cho Harold và Julia, nhưng khi ngày hôm đó qua đi, nó dường như ngày càng trở nên nhỏ bé và ngớ ngẩn hơn. Nhiều năm trước, Harold từng nhắc đến rằng ông và Julia đã nghe các nhạc phẩm đơn ca hòa tấu piano của Schubert khi họ đi hưởng tuần trăng mật ở Vienna. Nhưng Harold không nhớ được tên bài hát mà họ yêu thích, và vì thế y đã tự lập nên một danh sách, và thêm vào một vài bản nhạc mà y thích, hầu hết là của Bach và Mozart, và rồi thuê một phòng thu âm nhỏ và thu một đĩa nhạc mà y tự trình bày các ca khúc ấy: cứ khoảng mỗi tháng, Harold lại bảo y hát cho họ nghe, nhưng y vẫn luôn thấy ngại khi làm vậy. Dù vậy, giờ đây, món quà lại có vẻ lệch lạc và quá mức nhỏ bé, và cũng thật quá mức huênh hoang, và y thấy xấu hổ vì sự ngạo mạn của chính mình. Dù thế y vẫn chẳng thể đem vứt nó đi. Và vì vậy, khi mà mọi người đứng dậy và vươn vai và chúc nhau ngủ ngon, y lẻn đi và chèn chiếc đĩa nhạc, và những bức thư mà y viết riêng cho mỗi người, vào giữa hai quyển sách — cuốn Lẽ thường[8] và cuốn Tạp âm trắng[9] đã bị sờn gáy — trên một kệ sách thấp, nơi mà họ có thể ngồi xuống trước chúng, mà không phát hiện ra chúng, trong hàng thập kỷ.

       Thường thường, Willem ngủ cùng JB ở phòng làm việc trên lầu, vì anh là người duy nhất có thể chịu được tiếng ngáy của JB, và Malcolm sẽ ngủ với y ở lầu dưới. Nhưng đêm đó, khi mọi người đều đã lên giường, Malcolm tình nguyện ở chung phòng với JB, để y và Willem có thể nói chuyện với nhau.

       “Ngủ ngon nhé, những người tình,” JB gọi với xuống với bọn họ từ cầu thang.

       Khi họ chuẩn bị đi ngủ, Willem kể cho y nghe những câu chuyện trong lúc quay phim: về nữ diễn viên chính, người đổ mồ hôi nhiều đến mức cả khuôn mặt của cô ấy cứ phải đánh lại phấn sau mỗi hai lần quay; về diễn viên nam chính, người đóng vai ác quỷ, và là người luôn cố gắng chiếm được cảm tình của cả đoàn bằng cách mua bia cho họ và hỏi bọn họ xem có ai muốn chơi bóng đá không, nhưng rồi cũng lại là người nổi cơn tam bành khi anh không nhớ được lời thoại của mình; về cậu bé chín tuổi người Anh đóng vai con trai của nữ diễn viên chính, người đã tiếp cận Willem tại bàn trà dành cho diễn viên để nói với anh rằng anh không nên ăn bánh quy nữa vì chúng thiếu calorie, và chẳng lẽ anh lại không sợ béo ư? Willem cứ nói và nói, và y thì bật cười khi y đánh răng và rửa mặt.

      

       Nhưng rồi khi đèn đã tắt và họ đều nằm trong bóng tối, y nằm trên giường, Willem nằm trên chiếc sofa (sau một cuộc tranh luận mà y cố nài Willem ngủ trên giường với mình), Willem nói, nhẹ nhàng, “Cả căn hộ sạch đến mức không tin được.”

       “Tôi biết,” y nhăn mặt, “Tôi xin lỗi.”

       “Đừng,” Willem nói. “Nhưng Jude này — nó khủng khiếp lắm à?”

       Y hiểu ngay rằng ít nhất là Andy đã nói với Willem về một số sự việc, và vì thế y quyết định trả lời thành thật. “Nó chẳng tuyệt vời gì cho cam,” y thừa nhận, và rồi, bởi vì y không muốn Willem cảm thấy tội lỗi, “nhưng cũng chẳng đến mức khủng khiếp đâu.”

       Cả hai người đều im lặng. “Tôi ước gì mình có mặt ở đó,” Willem nói.

       “Cậu có mà,” y an ủi anh. “Nhưng mà Willem này — tôi đã rất nhớ cậu.”

       Thật khẽ, Willem nói, “Tôi cũng nhớ cậu.”

       “Cảm ơn vì đã đến,” y nói.

       “Dĩ nhiên là tôi sẽ đến, Judy ạ,” Willem nói từ đầu kia căn phòng. “Dù thế nào tôi cũng sẽ tới.”

       Y yên lặng, tận hưởng lời hứa này và đưa nó vào trong ký ức của y để rồi y có thể nghĩ tới nó trong những thời điểm mà y cần tới nó nhất. “Cậu có nghĩ rằng mọi chuyện đều ổn không?” y hỏi.

       “Cậu không đùa đấy chứ?” Willem hỏi, và y có thể nghe thấy tiếng anh ngồi dậy. “Cậu có nhìn thấy mặt của Harold không? Ông ấy trông như thể Đảng Xanh[10] vừa mới bầu ra chủ tịch đầu tiên và việc sửa đổi hiến pháp lần thứ hai vừa bị xóa bỏ và đội Red Sox[11] vừa được phong thánh trong cùng một ngày vậy.”  

       Y bật cười. “Cậu nghĩ vậy thật à?”

       “Tôi biết là như vậy. Ông ấy thật sự, thật sự hạnh phúc, Jude ạ. Ông ấy yêu cậu.”

      

       Y mỉm cười trong bóng tối. Y muốn nghe Willem nói những điều như vậy, lặp đi lặp lại, những vòng lặp bất tận về những lời hứa hẹn và sự thừa nhận, nhưng y biết những ước ao kiểu ấy chỉ là một sự bê tha, và vì vậy mà y thay đổi chủ đề câu chuyện, và họ nói về những việc nhỏ, vô nghĩa, cho tới khi đầu tiên là Willem, và rồi đến y, ngủ thiếp đi.  

       Một tuần sau, sự háo hức của y đã trở thành một thứ gì đó khác: một sự mãn nguyện, một sự tĩnh lặng. Trong tuần vừa qua, các đêm của y trở thành những giấc ngủ kéo dài không bị gián đoạn mà tại đó y không mơ về quá khứ mà là về hiện tại: những giấc mơ ngớ ngẩn về công việc, những giấc mơ ngớ ngẩn đầy vui tươi về những người bạn của y. Đó là một tuần trọn vẹn đầu tiên mà những giấc mơ nằm ở thì hiện tại trong vòng hai mươi năm qua kể từ khi y bắt đầu cắt tay mình và y không phải thức dậy vào nửa đêm, bởi vì y cảm thấy không cần đến những lưỡi dao nữa. Có lẽ y đã được chữa lành, y dám cho là vậy. Có lẽ đó là điều mà y cần bấy lâu nay, và giờ đây khi điều đó xảy ra, y thấy khá hơn hẳn. Y cảm thấy thật tuyệt vời, như là một con người khác: trọn vẹn và khỏe mạnh và thanh thản. Y là con trai của một người nào đó, và đôi khi việc nhận biết điều ấy là quá đỗi mạnh mẽ khiến y hình dung rằng nó được bộc lộ dưới một dạng vật chất, như thể nó đã được viết ra bằng một loại mực sáng và đang tỏa sáng lấp lánh trên lồng ngực y.   

       Y trở về căn hộ của mình. Willem đi cùng với y. Anh mang theo mình bức tượng thứ hai của Thánh Jude, mà họ đặt nó trong căn bếp, nhưng vị thánh Jude này lớn hơn và rỗng ruột và được làm bằng sứ, với một cái rãnh bỏ tiền xu ở phía sau đầu ông ta, và họ bỏ vào đó những đồng tiền lẻ vào lúc cuối ngày; khi nó đầy, họ quyết định, họ sẽ mua một chai rượu ngon và uống nó, và rồi họ sẽ bắt đầu với một cái ống tiết kiệm khác.

       Lúc này y không biết, nhưng vào những năm về sau này y sẽ, hết lần này tới lần khác, thách thức lời tuyên bố của Harold về lòng tận tụy, sẽ quăng mình vào những lời hứa của ông để nhận thấy sự kiên định của chúng. Y thậm chí còn không nhận thức được rằng y làm điều đó. Nhưng dù sao y vẫn sẽ làm vậy, bởi vì một phần trong y sẽ không bao giờ tin tưởng Harold và Julia; dù cho y có muốn đến nhường nào đi chăng nữa, dù y có nghĩ rằng y thực sự làm vậy ra sao, y sẽ không, và y sẽ luôn bị thuyết phục rằng họ cuối cùng sẽ mệt mỏi với y, rằng họ vào một ngày nào đó sẽ hối hận vì mối liên hệ với y. Và vì vậy y sẽ thử thách họ, bởi vì khi mối quan hệ của họ chắc chắn sẽ chấm dứt, y sẽ có thể nhìn lại và biết chắc rằng chính y đã gây ra điều đó, và không chỉ có thế, mà là sự việc cụ thể đã gây ra điều đó, và y sẽ không bao giờ phải băn khoăn, hay phải lo lắng, về việc y đã làm gì sai, hay về những điều mà đáng lý ra y có thể làm tốt hơn. Nhưng đó là về tương lai. Còn lúc này, hạnh phúc của y là trọn vẹn.

       Thứ Bảy đầu tiên sau khi y quay về từ Boston, y tới nhà Felix như mọi khi, nơi mà ông Baker mời y tới gặp ông trong vài phút. Họ nói chuyện với nhau, ngắn gọn, và rồi y xuống dưới lầu để tìm Felix, lúc này đang đợi y trong phòng nhạc, gõ vào những phím đàn.

       “Vậy, Felix này,” y nói, trong giờ nghỉ giao lao sau khi đã học đàn và tiếng La tinh, nhưng trước lúc học tiếng Đức và toán, “cha con nói với thầy rằng con sẽ đi học xa vào năm tới.”

       “Vâng,” Felix trả lời, nhìn xuống chân mình. “Vào tháng Chín. Cha con cũng sẽ đi cùng con.”

       “Thầy có nghe nói,” y nói. “Con thấy thế nào?”

       Felix nhún vai. “Con không biết,” cuối cùng, cậu bé trả lời. “Cha con nói rằng thầy sẽ giúp con theo kịp vào mùa xuân và hè này.”

       “Đúng vậy,” y hứa. “Con sẽ sẵn sàng cho việc nhập học để mà những người ở ngôi trường ấy không biết được mình may mắn thế nào khi được nhận con vào.” Đầu Felix vẫn cúi thấp, nhưng y có thể thấy gò má của cậu bé nhô lên và biết rằng cậu đang cười, dù chỉ một chút thôi.

       Y không biết điều gì đã khiến y nói những lời tiếp theo: Liệu đó có phải là sự đồng cảm, như y hi vọng, hay liệu đó chỉ là một lời ám chỉ, khoe khoang về cuộc sống kỳ diệu và khó có thể xảy ra đã diễn ra với y trong vài tháng vừa qua? “Con biết đấy, Felix,” y bắt đầu, “thầy cũng không có lấy một người bạn, trong suốt một thời gian dài, cho tới tận khi thầy lớn hơn con rất nhiều.” Y có thể cảm nhận, hơn là nhìn thấy, Felix trở nên chú ý, có thể cảm thấy cậu bé đang lắng nghe y. “Thầy cũng muốn có được những người bạn,” y tiếp tục nói, giờ đây trở nên chậm rãi, bởi vì y muốn đảm bảo rằng những lời y nói sẽ thật chính xác. “Và thầy luôn tự hỏi rằng liệu thầy có thể tìm được một người bạn nào đó hay không, và làm như thế nào, và vào khi nào.” Y lướt ngón tay trỏ của mình trên mặt gỗ hồ đào sẫm màu, lên gáy cuốn sách toán của Felix, xuống cái ly nước lạnh bằng thủy tinh của y. “Và rồi khi thầy lên đại học, và thầy gặp những con người, vì lý do nào đó, đã quyết định trở thành bạn của thầy, và họ đã dạy cho thầy — mọi điều, thực sự là như vậy. Họ khiến thầy, biến thầy, trở thành một con người tốt đẹp hơn hẳn con người thực của mình.”

       “Lúc này con sẽ không hiểu những gì thầy nói, nhưng vào một ngày nào đó rồi con sẽ ngộ ra: bí mật duy nhất của tình bạn, thầy nghĩ, là việc tìm được cho mình những người tốt đẹp hơn con – không phải là thông mình hơn, hay ho hơn con, mà là tử tế hơn, và rộng lượng hơn, và vị tha hơn – và rồi trân trọng họ vì những gì mà họ có thể chỉ dạy cho con, và hãy lắng nghe họ khi mà họ nói với con một điều gì đó vể bản thân con, dù cho điều ấy có là tốt – hay xấu, và hãy tin tưởng họ, mà sẽ là điều khó khăn nhất. Nhưng, cũng sẽ là điều tuyệt vời nhất.” 

       Họ đều im lặng suốt một lúc lâu, nghe tiếng kêu của chiếc máy nhịp, đã bị hỏng và thỉnh thoảng bỗng nhiên kêu lên, dù cho trước đó y đã tắt nó đi. “Con sẽ có được những người bạn, Felix ạ,” ý nói, quả quyết. “Con sẽ. Con sẽ không cần phải cực khổ để tìm kiếm họ như là cái cách mà con cố giữ họ, nhưng mà thầy hứa với con, điều ấy là hoàn toàn xứng đáng. Xứng đáng hơn nhiều so với, ví dụ như là, tiếng La tinh.” Và lúc này Felix ngước lên nhìn y và mỉm cười, và y mỉm cười lại với cậu bé. “Được không?” y hỏi cậu.

       “Được ạ,” Felix trả lời, vẫn mỉm cười.

       “Con muốn học gì tiếp theo nào, tiếng Đức hay là toán?”

       “Toán ạ,” Felix trả lời.

      

       “Một lựa chọn tốt,” y nói, và kéo quyển sách toán của Felix lại gần phía mình. “Hãy bắt đầu từ chỗ chúng ta dừng lại lần trước nhé.” Và Felix giở sách ra và họ bắt đầu học.  

 

***

[1] Rosalind Elsie Franklin (25/7/1920 – 16/4/1958) là một nhà lý sinh học và tinh thể học tia X có những đóng góp quan trọng cho sự hiểu biết về cấu trúc phân tử của ADN, ARN, virus, than đá, và than chì. Nghiên cứu về DNA của bà đã đạt được những thành tựu to lớn vì ADN đóng vai trò quan trọng trong chu trình chuyển hóa của tế bào và trong di truyền học, việc khám phá ra cấu trúc của nó đã giúp bà và đồng nghiệp hiểu rõ được cách thông tin di truyền được truyền lại từ cha mẹ cho con cái.

Franklin được biết đến nhiều nhất qua công trình Photo 51 dẫn đến sự khám phá ra cấu trúc ADN. Theo Francis Crick, các dữ liệu từ bà chính là “dữ liệu mà chúng tôi thực sự sử dụng” để hệ thống nên lý thuyết về cấu trúc ADN năm 1953. Sau khi hoàn thành công việc nghiên cứu về DNA, Franklin đi tiên phong nghiên cứu về virus gây bệnh khảm trên cây thuốc lá và virus gây bệnh bại liệt. Bà qua đời năm 1958 ở tuổi 37 do căn bệnh ung thư buồng trứng.

[2] Siena là một đô thị thủ phủ của tỉnh Siena ở vùng Toscano, Ý. Đô thị này có diện tích 118 km², dân số là 54.526 người (thời điểm 30/9/2010). Trung tâm lịch sử của Siena đã được UNESCO đưa vào danh sách di sản thế giới. Thành phố này là một trong các điểm đến du lịch được thăm nhiều nhất của Ý, với hơn 163.000 lượt khách quốc tế đến vào năm 2008. Siena nổi tiếng với ẩm thực và nghệ thuật, các viện bảo tàng, cảnh quan trung cổ và Palio, một cuộc đua ngựa hai lần một năm.

[3] Lucca là một đô thị và thị xã của Ý. Đô thị này là tỉnh lỵ tỉnh Lucca trong vùng Toscana. Lucca có diện tích 185,5 km2, dân số theo ước tính năm 2005 của Viện thống kê quốc gia Ý là 84.323 người. Thành phố nằm bên sông Serchio trong một đồng bằng màu mỡ gần biển Tyrrhenia. Thành phố nổi tiếng với tường thành thời Phục hưng nay còn nguyên vẹn.

 

[4] Montalcino là một xã thuộc tỉnh Siena, Tuscany, nằm ở miền trung của nước Italy. Được biết đến với loại rượu Brunello di Montalcino.

 

[5] Judas là một trong số mười hai tông đồ của Jesus. Ông thường được xác định là Thaddeus và còn được gọi là Judas con ông Jacob, hoặc Judas Thaddeus. Đôi khi ông cũng được xác định là Judas, “anh em của Jesus”, nhưng ông được phân biệt rõ ràng với Judas Iscariot – môn đồ phản bội.

Giáo hội Tông truyền Armenia tôn vinh Judas Thaddeus cùng với Bartholomew là các thánh bảo trợ. Trong Công giáo Roma, ông là thánh quan thầy của những người trong trường hợp tuyệt vọng và hoàn cảnh nguy nan.

 

[6] Bucharest (tiếng România: București /bu.kuˈreʃtʲ/) là thủ đô và là trung tâm thương mại và công nghiệp của Romania. Thành phố này nằm ở đông nam quốc gia này, với vị trí 44°25′B 26°06′Đ, nằm hai bên bờ của sông Dâmboviţa. Ban đầu nó được gọi là thành Dâmboviţa.

[7] Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống (hoặc lễ Hiện xuống, lễ Giáng xuống, lễ Hạ trần) là một ngày lễ của Kitô giáo được cử hành vào ngày thứ năm mươi bắt đầu từ ngày lễ Phục sinh. Tên gọi ngày lễ này trong tiếng Hy Lạp nghĩa là ngày thứ năm mươi cho nên đây cũng được gọi là Lễ Ngũ Tuần (tuần ở đây được hiểu là khoảng thời gian mười ngày).

Ngày thứ 40 kể từ sau ngày Lễ Phục Sinh có ngày lễ Chúa Giêsu lên trời (tức Lễ Thăng Thiên, rơi vào ngày Thứ năm) nhưng thường được dời vào ngày Chúa nhật kế tiếp. Ngày thứ 50 kể từ sau ngày Lễ Phục Sinh là ngày Lễ Ngũ Tuần kỉ niệm Chúa Thánh Thần hiện xuống với các tông đồ theo Tân Ước, ngày này cũng được coi là ngày khai sinh ra Giáo hội. Ngày lễ này còn được gọi là ngày Hội mùa, vì ngày này đánh dấu một mùa thu hoạch sắp tới. Tại nhà thờ, ngày lễ này họ dâng lên bàn thờ Chúa những ổ bánh mì từ những hạt lúa mì đầu tiên.

Nhưng quan trọng hơn, người ta kỷ niệm ngày lễ này với ý nghĩa rằng đây là dịp Chúa Thánh Linh hiện xuống, ngày này được tin là mang đến những tín hiệu tốt lành và niềm tin vào sự sống. Tên gọi ngày lễ này trong một số nước châu Âu còn có nghĩa là phép thần trị bệnh – vào dịp lễ người ta mong ước và chúc cho nhau mọi bệnh tật sẽ qua khỏi.

Theo luật thì những người Công giáo không được làm việc ăn công, lương vào ngày này.

 

[8] Lẽ Thường (Common Sense) là một tiểu luận ngắn do Thomas Paine viết. Tài liệu này được xuất bản mà không đề tên tác giả vào ngày 14/2/1776 trong khoảng thời gian cuộc Cách mạng Hoa Kỳ vừa bộc phát. Lẽ Thường, được ký tên “Tác giả là một người Anh”, và trở thành tác phẩm bán chạy nhất thời gian ấy. So với dân số khiêm tốn của các thuộc địa Mỹ Châu thời đó, cuốn sách ngắn này đạt kỷ lục xuất bản lịch sử ở Hoa Kỳ. Lẽ Thường giới thiệu đến cư dân các xứ thuộc địa Mỹ Châu một luận điểm cho cuộc cách mạng giành độc lập tách khỏi nền trị vì của Đế quốc Anh khi dân các xứ thuộc địa vẫn còn tranh cãi xem có nên tuyên bố độc lập ra khỏi Anh Quốc hay không. Ông Paine trình bày lập luận theo lối (văn phong cổ) dựa vào nhiều điển tích trong Kinh Thánh mà phần lớn cư dân Mỹ Châu là giáo dân đều hiểu được. Ông bỏ qua lối hành văn dùng nhiều lý lẽ triết học và dùng thuật ngữ La-tinh của đa số nhà văn thời đó. Tác giả đã trình bày lý luận giống như một bài giảng kinh và dựa vào nhiều điển tích trong Kinh Thánh để trình bày luận điểm của mình với độc giả ở các xứ thuộc địa Mỹ Châu. Tác giả đã liên kết việc tiến hành cách mạng giành độc lập với những niềm tin phổ biến của người theo đạo Tin Lành ty nạn tôn giáo ở Mỹ Châu thời ấy và nêu bật cá tính đặc trưng của chính trường Hoa Kỳ. Nhà sử học Gordon S. Wood đã mô tả Lẽ Thường là tác phẩm ngắn “phổ biến nhất và mạnh mẽ nhất trong suốt thời kỳ cách mạng Mỹ”.

[9] White Noise (Tạp âm trắng) là cuốn tiểu thuyết thứ tám của nhà văn Don DeLillo, được phát hành bởi NXB Viking Press vào năm 1985. Tác phẩm giành giải U.S. National Book Award for Fiction.

White Noise là một ví dủ điển hình cho nền văn học hậu hiện đại. Nó được xem là “bước đột phá” của DeLillo và đưa ông tới với rất nhiều độc giả. Cuốn sách nằm trong danh sách “Những tiểu thuyết tiếng Anh hay nhất trong thời kỳ 1923 đến 2005″. Ban đầu DeLillo muốn đặt tên cho cuốn sách là Panasonic, nhưng đã bị Tập đoàn Panasonic phản đối. Ở VN, sách được Nhã Nam phát hành với cái tên “Tạp Âm Trắng” vào năm 2017.

 

[10] Đảng xanh (Green Party): chính đảng lấy việc bảo vệ môi trường làm mục tiêu hàng đầu

 

[11] Boston Red Sox là đội bóng chày chuyên nghiệp Mỹ được thành lập tại Boston, Massachusetts. Boston Red Sox tham gia giải Major League Baseball (MLB) là thành viên của American League (AL) khu vực miền Đông. Boston Red Sox đã giành được 8 World Series trong 12 lần tham dự. Được thành lập năm 1901, sân nhà của Boston Red Sox là sân Fenway Park từ năm 1912. Biệt danh “Red Sox” được chọn bởi chủ sở hữu đội bóng, John I. Taylor, năm 1908, dựa trên tên của đội bóng chày cùng thành phố “Boston Red Stockings”.

 

 

 

 

Advertisements