4660729231_9035c60b42

 

 

CHƯƠNG 2

 

            Có lần cháu từng hỏi tôi khi nào thì tôi biết rằng thằng bé là được dành cho tôi, và tôi trả lời rằng tôi vẫn luôn biết. Nhưng nói thế là không đúng, và tôi biết điều này ngay khi vừa nói ra – tôi nói thế là bởi vì nó nghe thật hay ho, giống như là một điều mà một ai đó có thể nói trong một cuốn sách hay trong một bộ phim vậy, và bởi vì cả hai ta đều cảm thấy thật khốn khổ, và bất lực, và bởi vì ta nghĩ rằng nếu như ta nói ra điều đó, ta đều có thể cảm thấy tốt hơn về tình hình trước mắt, cái tình hình mà chúng ta có lẽ đã có thể ngăn chặn – mà cũng có thể là không – nhưng đã không làm vậy. Đó là khi ở trong bệnh viện: lần đầu tiên, tôi có thể nói vậy. Tôi biết là cháu vẫn còn nhớ: cháu vừa mới bay về từ Colombo vào buổi sáng hôm đó, nhảy cóc qua các thành phố và các quốc gia và các múi giờ, vì thế mà cháu hạ cánh cả một ngày trước thời điểm cháu lên máy bay.

        Nhưng lúc này tôi muốn nói ra thật chính xác. Tôi muốn chính xác bởi vì không có lý do nào để không làm như vậy, và cả bởi vì tôi nên làm như vậy – tôi vẫn luôn cố gắng để làm điều đó, tôi vẫn luôn cố gắng để trở nên như thế.

        Tôi không biết phải bắt đầu từ đâu.

        Có lẽ là với một vài từ ngữ tốt đẹp, mặc dù chúng cũng là những điều rất thật: Tôi thấy thích cháu ngay lập tức. Khi chúng ta gặp nhau cháu mới hai mươi tư tuổi, và như thế có nghĩa là tôi đã bốn mươi bảy tuổi rồi. (Chúa ơi.) Tôi nghĩ rằng cháu thật đặc biệt: sau này, thằng bé có kể với tôi những điều tốt đẹp về cháu, nhưng không bao giờ cần phải giải thích với tôi, vì tôi vẫn luôn biết cháu là như vậy. Đó là mùa hè đầu tiên nhóm các cháu đến chơi nhà, đối với tôi đấy là một cuối tuần kỳ lạ, và với cả thằng bé nữa – với tôi là bởi vì từ bốn người các cháu tôi có thể thấy được người mà Jacob có thể trở thành, và với thằng bé là bởi vì thằng bé chỉ biết đến tôi như là một người thầy, và bỗng nhiên thằng bé nhìn thấy tôi mặc quần đùi và đeo tạp dề khi tôi lấy sò ra khỏi vỉ nướng, và tranh luận với ba đứa các cháu về mọi thứ. Khi tôi không còn nhìn thấy hình ảnh của Jacob ở trong tất cả các cháu, dù vậy, tôi vẫn có thể tận hưởng kỳ nghỉ cuối tuần ấy, phần nhiều là bởi vì ba người các cháu dường như rất thích thú với nó. Các cháu không thấy lạ trong hoàn cảnh ấy: các cháu là những chàng trai cho rằng mọi người sẽ yêu quý các cháu, không phải vì kiêu ngạo mà bởi vì mọi người vẫn luôn như vậy, và các cháu không có lý do gì để nghĩ rằng, nếu như các cháu tỏ ra lịch sự và thân thiện, thì sự lịch sự và thân thiện ấy có thể sẽ không được đáp lại.     

        Còn thằng bé, dĩ nhiên, có mọi lý do để không nghĩ như vậy, mặc dù tôi không nhận ra được điều đó cho đến mãi về sau này. Rồi, tôi quan sát thằng bé trong bữa ăn, nhận ra, trong những cuộc tranh luận sôi nổi, thằng bé sẽ ngả người vào lưng ghế, như thể nghiêng ra khỏi vòng tròn, và quan sát tất cả các cháu, cái cách cháu dễ dàng thách thức tôi mà không sợ làm tôi nổi cáu, cái cách cháu tự nhiên vươn người qua mặt bàn để tự lấy thêm cho mình khoai tây, bí dài, sườn nướng, cái cách mà cháu yêu cầu thứ cháu muốn và nhận lấy nó.

        Điều mà tôi nhớ rõ nhất trong dịp cuối tuần ấy là một việc nhỏ nhặt. Khi ấy chúng ta đang nói chuyện, cháu và thằng bé và Julia và tôi, trên con đường nhỏ với những cây phong hai bên đường dẫn tới chòi quan sát. (Hồi ấy đó là một con đường hẹp, cháu còn nhớ không? Chỉ sau này nó mới bị che phủ bởi cây cối.) Tôi đi cùng thằng bé, và cháu và Julia ở phía sau chúng ta. Các cháu đang nói về, ôi, tôi không biết nữa – côn trùng? Hoa dại? Hai người các cháu luôn tìm thấy một điều gì đó để nói về, các cháu đều thích ở bên ngoài thiên nhiên, cả hai đều yêu quý những con vật: tôi thấy thích điều này ở cả hai đứa, cho dù tôi cũng chẳng hiểu được là tại sao. Và rồi cháu chạm vào vai thằng bé và di chuyển lên phía trước nó và quỳ xuống và buộc lại dây giầy cho thằng bé, và rồi quay trở lại để đi cùng Julia. Điều ấy thật tự nhiên, một cử chỉ nhỏ bé: một bước tiến lên, một cái khuỵu gối chuyển thành quỳ xuống, một sự quay trở về bên cạnh cô ấy. Nó chẳng có ý nghĩa gì với cháu cả, cháu còn chẳng nghĩ về điều đó nữa; cháu thậm chí còn không dừng lại câu chuyện của mình. Cháu vẫn luôn nhìn theo thằng bé (nhưng tất cả các cháu đều như vậy), cháu chăm sóc thằng bé từ những điều nhỏ nhặt, tôi nhìn thấy tất cả những điều ấy chỉ trong có vài ngày – nhưng tôi cho rằng cháu chẳng thể nhớ nổi cái sự kiện này đâu.

        Nhưng trong khi cháu làm như vậy, thằng bé lại nhìn tôi, và cái nhìn trên gương mặt thằng bé – tôi vẫn không thể miêu tả được nó ra, trong cái giây phút ấy, tôi cảm thấy có thứ gì đó vỡ vụn trong lòng tôi, như một tòa tháp bằng cát ẩm được xây quá cao: đối với thằng bé, và đối với cháu, và đối với cả tôi nữa. Và trên gương mặt thằng bé, tôi biết gương mặt mình cũng được ghi lại. Sự bất khả thi trong việc tìm kiếm một ai đó để làm một điều như thế cho một người khác, một cách không hề suy nghĩ, một cách thật tự nhiên! Khi tôi nhìn vào thằng bé, tôi bỗng hiểu ra, lần đầu tiên kể từ khi Jacob qua đời, mọi người có ý gì khi mà họ nói rằng có một ai đó đang đau khổ, rằng có một điều gì đó có thể làm tan vỡ trái tim ta. Tôi vẫn luôn nghĩ rằng điều ấy thật ủy mị, nhưng vào khoảnh khắc ấy tôi nhận ra rằng dù nó có thể ủy mị thật, nhưng cũng thật đúng.

       

        Và đó, tôi cho rằng, là khi tôi biết. 

***

Tôi chưa bao giờ nghĩ rằng tôi sẽ trở thành cha mẹ, và đó không phải là bởi vì tôi có những bậc cha mẹ tồi tệ. Thực ra, cha mẹ tôi rất tuyệt vời: mẹ tôi mất khi tôi còn rất nhỏ, bị ung thư vú, và trong năm năm sau đó chỉ có mình tôi với cha. Ông là một bác sĩ, một bác sĩ đa khoa vẫn thích hi vọng rằng ông có thể già đi cùng với các bệnh nhân của mình.

       

        Chúng tôi sống ở khu West End, trên phố Tám mươi hai, và phòng khám của ông nằm ở trong tòa nhà của chúng tôi, ngay tầng trệt, và tôi vẫn luôn ghé qua chỗ ông mỗi khi tan học về. Tất cả bệnh nhân của ông đều biết tôi, và tôi tự hào khi là con của một bác sĩ, để nói lời chào với tất cả mọi người, để chứng kiến những đứa bé mà cha đỡ đẻ trở thành những cô cậu nhóc luôn ngước lên nhìn tôi bởi vì bố mẹ chúng nói với chúng rằng tôi là con trai của bác sĩ Stein, rằng tôi đang học trung học ở một trường điểm của thành phố, và rằng nếu như chúng học thật giỏi, chúng cũng có thể vào học ở đó. “Con yêu,” cha tôi sẽ gọi tôi như vậy, và khi ông nhìn thấy tôi trong những cuộc viếng thăm sau giờ học ấy, ông sẽ đặt lòng bàn tay mình lên gáy tôi, cho dù lúc này tôi đã cao hơn ông, và hôn lên tóc tôi. “Con yêu,” ông hỏi, “hôm nay đi học thế nào?”

        Khi tôi lên tám tuổi, ông tái hôn với người quản lý phòng khám, Adele. Không có thời điểm nào trong tuổi thơ mình mà tôi không nhận thấy có sự hiện diện của Adele: bà luôn là người dẫn tôi đi mua quần áo mới mỗi khi tôi cần, bà là người cùng tham dự lễ Tạ ơn với chúng tôi, bà là người luôn gói quà sinh nhật cho tôi. Với tôi, Adele không hẳn là một người mẹ; nhưng đối với tôi mà nói, một người mẹ sẽ giống như Adele.

        Bà hơn tuổi cha tôi, và là mẫu phụ nữ mà đàn ông vẫn thường thích và cảm thấy thoải mái khi ở bên nhưng không bao giờ nghĩ tới việc kết hôn cùng, và đó là một cách nói lịch sự về việc bà không xinh đẹp. Nhưng ai mà cần đến sắc đẹp ở một người mẹ kia chứ? Tôi từng hỏi bà một lần rằng liệu bà có muốn có con riêng hay không, và bà trả lời tôi rằng tôi là con của bà, và bà không hình dung nổi việc có thêm một đứa nào khác hơn tôi được nữa, và nó nói lên mọi điều mà cháu cần biết về cha tôi và Adele và việc tôi cảm thấy như thế nào về họ và họ đối xử với tôi ra sao nên tôi không bao giờ thắc mắc về lời nói của bà cho tới khi tôi ở độ tuổi ba mươi và vợ tôi khi đó và tôi tranh cãi về việc liệu chúng tôi có nên có một đứa con khác hay không, một đứa con thay thế Jacob.

        Bà ấy là con một, cũng như tôi là con một, và cha tôi cũng là con một: một gia đình của những đứa con một. Nhưng cha mẹ của Adele vẫn còn sống – còn ông bà tôi thì không – và chúng tôi từng tới Brooklyn, nơi mà hiện nay đã bị thôn tính bởi Park Slope, để thăm họ vào mỗi cuối tuần. Họ đã sống ở nước Mỹ gần năm thập kỷ và vẫn chỉ nói rất ít tiếng Anh: người cha, ngại ngùng, người mẹ, đầy cảm xúc. Họ rắn rỏi, như bà vậy, và tử tế, giống bà – Adele sẽ nói chuyện với họ bằng tiếng Nga, và cha bà, người mà tôi gọi là ông ngoại một cách tự nhiên, sẽ xòe một bàn tay mập mạp của ông ra và cho tôi xem điều bí mật được cất giấu trong đó: một món đồ chơi nhại tiếng chim bằng gỗ, hay một đống kẹo cao su màu hồng tươi. Thậm chí ngay cả khi tôi đã thành niên, lên trường luật, ông vẫn luôn cho tôi một thứ gì đó, dù ông không còn giữ cửa hàng của mình nữa, mà điều đó có nghĩa là ông phải mua một thứ gì đó ở một nơi nào đó. Nhưng mà ở nơi nào? Tôi luôn tưởng tượng rằng hẳn phải có một cửa hàng bí mật chứa đầy những món đồ chơi cổ lỗ sĩ, và vẫn được ủng hộ, một cách chung thủy, bởi các cụ ông và các cụ bà, những người giúp duy trì hoạt động kinh doanh của nó bằng cách mua các món hàng như con quay bằng gỗ và các chú lính chì bằng kim loại và các bộ bài, những quả bóng cao su dính đầy bụi ngay cả trước khi lớp vỏ bọc bằng giấy nhựa được xé ra.

        Tôi vẫn luôn có một giả thuyết – không xuất phát từ đâu cả – rằng những người con trai đã đủ lớn để chứng kiến cuộc hôn nhân thứ hai của cha mình (và, do đó, đủ trưởng thành để đưa ra nhận định) sẽ kết hôn với người giống với mẹ kế của mình, chứ không phải là người giống như mẹ của họ. Nhưng tôi không kết hôn với một người giống như Adele. Vợ tôi, người vợ đầu tiên, là người điềm tĩnh và độc lập. Không giống với những người con gái khác mà tôi quen biết, những người vẫn luôn đánh giá thấp bản thân mình – sự thông minh của họ, dĩ nhiên là vậy, nhưng đồng thời là cả những khát vọng và giận dữ và sợ hãi và điềm tĩnh của bản thân – thì Liesl không bao giờ làm vậy. Trong buổi hẹn hò thứ ba của chúng tôi, chúng tôi đang đi dạo bên ngoài một quán café nằm trên đường MacDougal, và một người đàn ông vấp phải một bậc cửa tối om và nôn mửa vào người cô ấy. Chiếc áo len của cô ấy dính đầy vết nôn, thứ chất bẩn màu vàng sáng, và tôi nhớ rất rõ rằng những giọt chất lỏng ấy dính vào chiếc nhẫn kim cương mà cô đeo trên tay phải, như thể chính viên đá ấy có một khối u. Những người xung quanh há hốc miệng ra vì kinh ngạc, hay hét lên, nhưng Liesl chỉ nhắm mắt lại. Người con gái khác sẽ kêu thất thanh, hoặc rít lên (cả tôi nữa cũng sẽ kêu thất thanh hoặc rít lên), nhưng tôi nhớ rằng cô ấy chỉ rùng mình một cái, như thể cơ thể của cô ấy nhận biết được sự kinh tởm này nhưng cũng rời bỏ khỏi nó, và khi cô ấy mở mắt ra, cô ấy đã hoàn toàn khôi phục như cũ. Cô ấy cởi áo len ra, vứt nó vào cái thùng rác gần nhất. “Đi thôi,” cô ấy bảo tôi. Tôi hoàn toàn câm nín, sốc, suốt cả quá trình ấy, nhưng vào thời điểm đó, tôi muốn cô ấy, và tôi đi theo cô ấy tới nơi cô ấy dẫn tôi tới, mà hóa ra là nhà của cô ấy, một nơi tận cùng của sự nghèo khổ ở phố Sullivan. Suốt cả quãng thời gian ấy, cô ấy giữ cho tay phải của mình hơi hơi nâng cao khỏi cơ thể, chất nôn vẫn dính vào cái nhẫn của cô ấy.

        Cả cha tôi và Adele đều không thích cô ấy, mặc dù họ không bao giờ nói vậy với tôi; họ đều lịch sự, và tôn trọng ước nguyện của tôi. Đổi lại, tôi không bao giờ hỏi họ về điều này, không bao giờ buộc họ phải nói dối. Tôi không nghĩ rằng đó là bởi vì cô ấy là người Do Thái – bởi vì cha mẹ tôi không phải là người theo tôn giáo – nhưng, tôi nghĩ rằng, đó là bởi vì họ cho rằng tôi quá sùng bái cô ấy. Hay có lẽ đó là những gì mà tôi kết luận, về mãi sau này. Có lẽ đó là bởi vì những gì mà tôi ngưỡng mộ ở cô ấy như là một năng lực, họ lại nhìn nhận như là sự lạnh nhạt, hay lạnh lùng. Chúa biết họ không phải là những người đầu tiên có suy nghĩ như thế. Họ luôn lịch sự với cô ấy, và cô ấy cũng đối xử như vậy với họ, nhưng tôi nghĩ rằng họ sẽ thích có một cô con dâu lịch sự và biết đùa cợt với họ đôi chút hơn, là người mà họ có thể kể cho nghe những câu chuyện đáng xấu hổ về tuổi thơ của tôi, người mà có thể ăn trưa cùng với Adele và chơi cờ với cha tôi. Thực ra, là một người giống như cháu vậy. Nhưng đó không phải là con người của Liesl và sẽ không bao giờ là như vậy, và một khi họ nhận ra điều đó, cả hai bên đều giữ khoảng cách đôi chút, không phải để thể hiện sự không hài lòng của họ mà là một thứ kỷ luật tự giác, một lời nhắc nhở đối với bản thân họ rằng có những giới hạn, những giới hạn của cô ấy, mà họ nên cố gắng tôn trọng. Khi tôi ở bên cô ấy, tôi cảm thấy dễ chịu đến lạ, như thể, khi đối mặt với thứ năng lực mạnh mẽ nhường ấy, ngay cả nỗi bất hạnh cũng chẳng dám thách thức chúng tôi.    

        Chúng tôi gặp nhau ở New York, nơi tôi theo học trường luật và cô ấy theo học trường y, và sau khi tốt nghiệp, tôi được đảm nhận chức vụ thư ký ở Boston, và cô ấy (hơn tôi một tuổi) bắt đầu đi thực tập. Cô ấy được đào tạo để trở thành bác sĩ chuyên khoa ung thư. Tôi đã rất ngưỡng mộ điều ấy, dĩ nhiên là vậy, bởi vì điều mà nó cho thấy: không có gì dịu dàng hơn một người phụ nữ muốn chữa lành, người mà ta có thể tưởng tượng ra rằng sẽ cúi xuống bên bệnh nhân như một người mẹ, chiếc áo blouse của nàng trắng như là mây. Nhưng Liesl không muốn được ngưỡng mộ: cô ấy có hứng thú với khoa ung thư bởi vì đó là một trong những khoa khó hơn cả, bởi vì nó được xem là phải vận dụng tới nhiều trí não hơn. Cô ấy và những người bạn cùng thực tập khinh thường các chuyên gia X quang (công việc quá lặt vặt), bác sĩ khoa tim (quá tự cao tự đại và hài lòng về bản thân), bác sĩ khoa nhi (quá ủy mị), và đặc biệt là bác sĩ phẫu thuật (kiêu ngạo không kể xiết) và bác sĩ chuyên khoa da liễu (nằm ngoài bình luận, cho dù dĩ nhiên họ làm việc cùng nhau thường xuyên). Họ thích các bác sĩ gây mê (kỳ cục và lập dị và khó tính, và dễ bị nghiện), nhà nghiên cứu bệnh học (còn trí tuệ hơn họ nữa), và – ôi, là như vậy đó. Đôi khi một nhóm sẽ đến chơi nhà chúng tôi, và sẽ ở lại sau bữa tối để thảo luận về các ca bệnh và nghiên cứu, trong khi những người bạn đời của họ – các luật sư và nhà sử học và nhà văn và một số ít các nhà khoa học khác – bị bỏ rơi cho tới khi chúng tôi lẩn vào phòng khách để bàn luận về những điều tầm thường, ít thú vị hơn mà chúng tôi trải qua trong ngày.

        Chúng tôi là hai người trưởng thành, và đó là một cuộc sống vừa đủ hạnh phúc. Không hề có sự than vãn rằng chúng tôi không dành đủ thời gian cho nhau, từ phía tôi hay là từ cô ấy. Chúng tôi ở lại Boston vì tình trạng cư trú của cô ấy, và rồi cô ấy chuyển tới New York theo chương trình học bổng dành cho sinh viên đã tốt nghiệp. Tôi ở lại Boston. Khi đó tôi làm việc tại một hãng luật và phụ giảng tại một trường luật. Chúng tôi gặp nhau vào mỗi cuối tuần, tuần này ở Boston, tuần sau ở New York. Và rồi cô ấy hoàn tất chương trình học và quay về Boston; chúng tôi kết hôn; chúng tôi mua nhà, một ngôi nhà nhỏ, không phải là ngôi nhà hiện nay của tôi, nằm ngay rìa Cambridge.

        Cha tôi và Adele (và cha mẹ của Liesl; một cách đầy khó hiểu, còn xúc động nhiều hơn cả cô ấy, và trong những chuyến đi hiếm hoi của chúng tôi tới Santa Barbara, trong khi cha cô ấy kể chuyện cười và mẹ cô ấy đặt trước mặt tôi những đĩa salad dưa chuột và cà chua được hái từ vườn nhà, cô ấy sẽ có biểu hiện kín đáo, như thể xấu hổ, hay ít nhất là bị lúng túng bởi sự cởi mở của họ) không bao giờ hỏi chúng tôi rằng bao giờ thì chúng tôi có con; tôi nghĩ họ cho rằng miễn là họ không hỏi, có khả năng chúng tôi sẽ sinh con. Sự thật là tôi không thực sự cảm thấy sự cần thiết trước điều đó; tôi chưa bao giờ mường tượng đến việc có một đứa con cả, tôi không cảm nhận về điều đó giống như những người khác. Và điều đó dường như là một lý do vừa đủ để không: có một đứa con, tôi nghĩ, là thứ mà ta nên mong muốn một cách tích cực, thậm chí là, khao khát. Đó không phải là một sự mạo hiểm dành cho những người không có tham vọng hoặc đam mê. Liesl cũng cảm thấy như vậy, đó là suy nghĩ của chúng tôi.

        Nhưng rồi, vào một tối nọ — tôi ba mươi mốt tuổi, cô ấy ba mươi hai: trẻ trung – tôi trở về nhà và cô ấy đã ở trong gian bếp, đợi tôi. Điều ấy thật lạ lùng; cô ấy vẫn thường làm việc nhiều hơn tôi, và tôi thường không thấy được cô ấy cho tới tận tám hay chín giờ tối.  

        “Em cầm nói chuyện với anh,” cô ấy nói, không mấy vui vẻ, và bỗng dưng tôi thấy sợ. Cô ấy nhìn thấy điều đó và mỉm cười – cô ấy không phải là một người độc ác. Liesl, và tôi không có ý mang đến ấn tượng rằng cô ấy không tử tế, không dịu dàng, bởi vì cô ấy có cả hai điều ấy trong con người mình, và đều có khả năng thể hiện cả hai điều đó. “Không phải là chuyện gì xấu đâu, Harold ạ.” Rồi cô ấy cười một chút. “Em không cho là vậy.”

        Tôi ngồi xuống. Cô ấy hít vào. “Em có thai rồi. Em không biết tại sao lại như vậy nữa. Em hẳn phải đã quên uống thuốc. Cái thai gần tám tuần rồi. Sally đã xác nhận với em hôm nay.” (Sally là bạn cùng phòng của cô ấy khi còn học trường y, bạn thân của cô ấy, và bác sĩ phụ khoa của cô ấy.) Cô ấy nói nhanh những lời ấy, ngắt quãng, thành những câu dễ hiểu. Và rồi cô ấy im lặng. “Em uống thuốc trong khi kinh nguyệt không đều, anh biết đấy, vì thế mà em không biết được mình có thai.” Và rồi, khi mà tôi không nói gì cả, “Anh nói gì đi chứ.”

        Ban đầu, tôi không thể. “Em cảm thấy thế nào?” tôi hỏi.

        Cô ấy nhún vai. “Em thấy ổn.”

        “Tốt,” tôi nói, một cách ngu ngốc.

        “Harold,” cô ấy nói, và ngồi xuống đối diện tôi, “anh muốn thế nào?”

        “Em muốn làm gì?”

        Cô ấy lại nhún vai. “Em biết em muốn gì. Em muốn biết anh muốn gì kia.”

                   

        “Em không muốn giữ đứa bé.”

        Cố ấy không phản đối. “Em muốn nghe điều anh muốn.”

        “Thế nếu anh nói là anh muốn giữ nó lại thì sao?”

        Cô ấy trả lời ngay tức khắc. “Vậy thì em sẽ nghiêm túc cân nhắc tới điều đó.”

        Cả điều này nữa, tôi cũng không trông đợi. “Leez,” tôi nói, “chúng ta nên làm những gì mà em muốn.” Điều này không hoàn toàn cao thượng; nó gần như là hèn nhát. Trong trường hợp này, và trong nhiều việc khác nữa, tôi luôn vui vẻ đùn đẩy việc quyết định cho cô ấy.

        Cô ấy thở dài. “Chúng ta không cần phải quyết định vào tối nay. Ta vẫn còn thời gian.” Bốn tuần, cô ấy không cần phải nói.

        Nằm trên giường, tôi suy nghĩ. Tôi nghĩ đến những điều mà mọi người đàn ông đều nghĩ tới khi một người đàn bà nói với họ rằng cô ấy đã có thai: Đứa bé trông sẽ như thế nào? Tôi có thích nó không? Tôi sẽ yêu nó chứ? Và rồi, triệt hạ hơn: cương vị làm cha. Với tất cả những trách nhiệm và sự thực hiện và sự mệt mỏi và khả năng thất bại của nó.  

        Buổi sáng hôm sau, chúng tôi không hề nói về chuyện đó, và ngày hôm sau nữa, chúng tôi cũng không nhắc về nó. Vào thứ Sáu, khi chúng tôi lên giường đi ngủ, cô ấy nói, đầy ngái ngủ, “Ngày mai chúng ta sẽ phải bàn về chuyện này,” và tôi nói, “Dĩ nhiên rồi.” Nhưng chúng tôi không làm vậy, và chúng tôi không làm như thế, và rồi tuần thứ chín trôi qua, rồi tuần thứ mười, và tuần thứ mười một và mười hai, và rồi lúc này đã là quá muộn để có thể làm bất cứ điều gì một cách dễ dàng và đúng đắn, và tôi nghĩ rằng cả hai chúng tôi đều cảm thấy nhẹ nhõm. Quyết định đã được đưa ra cho chúng tôi – hay đúng hơn, sự do dự của chúng tôi đã quyết định thay chúng tôi – chúng tôi sẽ sinh con. Đó là lần đầu tiên trong cuộc hôn nhân của chúng tôi mà chúng tôi cùng lưỡng lự.

        Chúng tôi tưởng tượng rằng đó là một bé gái, và nếu quả là như vậy, chúng tôi sẽ đặt tên cho bé là Adele, vì mẹ tôi, và Sarah, vì Sally. Nhưng đó không phải là một bé gái, và thay vì thế chúng tôi để Adele (người hạnh phúc đến nỗi bà bắt đầu khóc, một trong những lần hiếm hoi tôi thấy bà khóc) đặt tên đầu và Sally đặt tên đệm: Jacob More. (Tại sao lại là More, chúng tôi hỏi Sally, và cô ấy trả lời là bởi vì Thomas More[1].)

        Tôi chưa bao giờ là một trong số những người – tôi biết là cháu cũng không – cảm thấy rằng tình yêu mà của một người đối với một đứa trẻ theo một cách nào đó là một thứ tình yêu vượt trội, là thứ tình yêu có ý nghĩa hơn, quan trọng hơn, và vĩ đại hơn so với những thứ tình cảm khác. Tôi không hề cảm thấy điều đó trước khi có Jacob, và cả sau đó nữa tôi vẫn không cảm thấy được điều đó. Nhưng đó thứ tình yêu phi thường, bởi vì đó là thứ tình yêu có nền tảng không phải từ sự hấp dẫn về thân thể, hay khoái lạc, hay trí năng, mà là từ nỗi sợ. Cháu sẽ không bao giờ hiểu rõ về sợ hãi cho tới khi cháu có một đứa con, và có lẽ đó chính là điều khiến cho chúng ta lầm tưởng rằng điều ấy là vĩ đại hơn cả, bởi vì bản thân sự sợ hãi vỗn dĩ vĩ đại hơn tất cả. Mọi ngày, suy nghĩ đầu tiên của cháu không phải là “Tôi yêu thằng bé này” mà là “Thằng bé thế nào rồi?” Thế giới, qua một đêm, đã tự sắp xếp lại thành những nguy cơ khủng khiếp. Tôi sẽ bế thằng bé trong vòng tay mình và chờ sang đường và sẽ nghĩ rằng thật nực cười làm sao rằng con tôi, rằng bất kỳ đứa trẻ nào, có thể sống sót nổi trong cuộc đời này. Đó không hẳn giống như là sự tồn tại của một chú bướm vào một chiều cuối xuân – cháu biết đấy, những sinh vật bé nhỏ màu trắng – mà đôi khi tôi vẫn thấy bay dập dờn trong không trung, luôn chỉ cách việc va vào tấm kính chắn gió xe hơi có một mi-li-met.

        Và hãy để tôi nói với cháu hai điều khác mà tôi học được. Điều đầu tiên là dù việc đứa con đó có bao nhiêu tuổi, hay khi nào hoặc làm thế nào mà nó trở thành con của ta đều không quan trọng. Một khi ta quyết định nghĩ về một ai đó như là đứa con của mình, có một điều gì đó đã thay đổi, và mọi thứ mà ta từng yêu thích về nó trước đây, mọi thứ mà ta từng cảm thấy về nó trước đó, đều bị chi phối bởi nỗi sợ hãi trước hết. Đó không phải là vấn đề sinh học; mà đó là một thứ gì đó còn hơn cả sinh học, ít liên quan hơn tới việc đảm bảo sự duy trì của một mã gen, mà nhiều hơn cả là khao khát để chứng tỏ rằng một ai đó là bất khả xâm phạm trước những đòn nhử và thử thách của vũ trụ, để chiến thắng trước những điều muốn phá hủy những gì thuộc về ta.    

        Điều thứ hai là: khi đứa con của ta chết đi, ta cảm thấy mọi thứ mà ta từng kỳ vọng để cảm thấy, những cảm giác được ghi nhận bởi rất nhiều người mà tôi chẳng buồn liệt kê ra ở đây, ngoại trừ việc nói rằng mọi thứ được viết ra về tang sự đều như nhau, và nó như nhau là bởi vì một lý do – bởi vì không hề có sự chênh lệch thật sự nào trong câu chữ. Đôi khi ta cảm thấy điều này nhiều hơn điều kia, và đôi khi ta cảm thấy chúng không theo thứ tự, và đôi khi ta cảm thấy chúng lâu hơn hoặc ít hơn. Nhưng những cảm giác ấy vẫn luôn như vậy.  

        Nhưng đây là điều mà không một ai nói tới – khi đó là đứa con của ta, một phần của ta, một phần rất nhỏ nhưng hiển nhiên là không thể bỏ qua trong ta, cũng cảm thấy khuây khỏa. Bởi vì cuối cùng, cái khoảnh khắc mà ta trông đợi, khiếp sợ, chuẩn bị cho bản thân kể từ cái ngày mà ta trở thành cha mẹ, đã tới.

        A, ta nói với chính mình, đứa bé đây rồi. Đứa bé đã ra đời.

       

        Và sau đó, ta chẳng còn gì để sợ nữa.

***

Nhiều năm trước, sau khi xuất bản cuốn sách thứ ba của mình, một nhà báo từng hỏi tôi rằng liệu tôi có thể biết ngay tức khắc rằng liệu một sinh viên có phù hợp với ngành luật hay không, và câu trả lời là: Đôi khi. Nhưng thường thì, ta luôn sai – những sinh viên dường như thật xuất sắc trong nửa đầu của học kỳ dần trở nên tụt lùi trong năm, và sinh viên nào mà ta không hề nghĩ tới sẽ là người nổi lên như một ánh sáng chói lóa, là người mà ta sẽ thích thú được lắng nghe suy nghĩ của họ

       

        Thường thì những sinh viên thông minh nhất lại có quãng thời gian chật vật nhất trong năm học đầu tiên của họ – trường luật, cụ thể là năm đầu tiên ở trường luật, không hẳn là một nơi dành cho sự sáng tạo, lối suy nghĩ trừu tượng, và trí tưởng tượng. Theo nghĩa đó, tôi thường nghĩ – dựa trên những gì mà tôi nghe được, không phải là điều tôi biết ngay từ đầu – nó có đôi chút giống với trường nghệ thuật.  

        Julia có một người bạn, một anh chàng tên là Dennys, mà hồi còn nhỏ là một thần đồng. Họ là bạn của nhau từ hồi còn bé, và cô ấy từng cho tôi xem một bức vẽ mà anh ta thực hiện khi lên mười hoặc mười hai: những hình vẽ ký họa về lũ chim mổ thức ăn trên mặt đất, chân dung của anh ta, tròn xoe và hờ hững, cha của anh ta, vị bác sĩ thú y địa phương, bàn tay ông đang vuốt ve lớp lông của một của một con chó sục cáu kỉnh. Tuy nhiên, cha của Dennys không thấy được tầm quan trọng của những buổi học vẽ, và vì thế mà anh ấy không bao giờ được đào tạo theo trường lớp bài bản. Nhưng khi họ lớn lên, và Julia đi học đại học, Dennys tới trường mỹ thuật để học vẽ. Trong tuần đầu, anh ấy kể, họ được phép vẽ ra bất cứ thứ gì mà mình muốn, và bản vẽ của Dennys luôn được thầy chọn để treo trên tường vì những lời khen ngợi và phê bình nghệ thuật.

        Nhưng rồi họ bắt đầu được dạy cách vẽ: để vẽ lại, về mặt bản chất. Vào tuần thứ hai, họ chỉ vẽ những hình elip. Những hình elip lớn, hình elip rộng, hình elip hẹp. Trong tuần thứ ba, họ vẽ những hình tròn: những vòng tròn ba chiều, vòng tròn hai chiều. Rồi một bông hoa. Rồi một cái bình hoa. Rồi một bàn tay. Rồi cái đầu. Rồi cơ thể. Và với mỗi tuần được đào tạo bài bản, Dennys ngày càng kém cỏi hơn. Vào cuối học kỳ, những bức vẽ của anh không bao giờ còn được trưng bày trên tường nữa. Anh trở nên quá đỗi rụt rè khi vẽ. Giờ đây khi thấy một con chó, với bộ lông dài của nó rủ xuống mặt đất, anh không còn nhìn thấy một con chó nữa mà là một hình tròn phía trên một cái hộp chữ nhật, và khi mà anh cố vẽ nó ra, thì anh lại lo lắng về tỷ lệ, chứ không phải là việc ghi lại hình hài của một con chó.   

        Anh quyết định đến gặp giáo sư của mình. Chúng tôi muốn phá vỡ em, Dennys ạ, thầy của anh ấy nói vậy. Chỉ có những người có tài năng thật sự mới có thể vượt lên trên được điều này.

        “Tôi nghĩ rằng tôi không phải là một tài năng thật sự,” Dennys nói vậy. Anh ấy trở thành một người pha chế cà phê, sống ở London với người bạn đời của mình.

        “Dennys tội nghiệp,” Julia sẽ nói như vậy.

        “Ồ, cũng ổn thôi mà,” Dennys sẽ thở dài, nhưng không ai trong chúng tôi cảm thấy bị thuyết phục.

        Và theo cùng cách đó, trường luật phá vỡ một tâm trí. Các tiểu thuyết gia, nhà thơ, và nghệ sĩ thường không đạt được kết quả tốt ở trường luật (trừ phi họ là những tiểu thuyết gia, nhà thơ, và nghệ sĩ tồi), nhưng tất nhiên, là cả các nhà toán học, logic học, và nhà khoa học nữa. Nhóm đầu tiên thất bại là bởi vì tư duy logic của họ chẳng giống ai; nhóm thứ hai thất bại là bởi vì logic là tất cả những gì họ có.

        Thằng bé, tuy nhiên, là một sinh viên giỏi – một sinh viên xuất sắc – ngay từ đầu, nhưng sự xuất sắc của nó thường được ngụy trang trong sự không hề xuất sắc. Tôi biết, từ việc lắng nghe câu trả lời của thằng bé trên lớp, rằng thằng bé có tất cả những gì cần thiết để trở thành một luật sư xuất chúng: không phải ngẫu nhiên mà ngành luật được gọi là một cuộc giao thương, và cũng giống như mọi cuộc mua bán, thứ mà nó đòi hỏi nhiều nhất là khả năng ghi nhớ, là thứ mà thằng bé sở hữu. Thứ được cần đến tiếp theo — một lần nữa, cũng giống như mọi cuộc mua bán – là khả năng nhìn thấy những vấn đề ở phía trước … và rồi, ngay tức khắc, những hệ quả có thể đi kèm sau đó. Theo đó, đối với một nhà thầu, một ngôi nhà không chỉ là một cấu trúc – đó là mớ bòng bong của các đường ống nước chất đầy băng vào mùa đông, những tấm ván ốp ẩm ướt vào mùa hè, máng xối nước mưa phun ra cột nước vào mùa xuân, lớp xi măng nứt vỡ trong cái lạnh vào đầu mùa thu – vì thế mà một ngôi nhà còn là một điều gì đó khác đối với một luật sư. Một ngôi nhà là cái tủ khóa an toàn với đầy những hợp đồng, các thế chấp, các vụ tranh tụng trong tương lai, các vi phạm có thể xảy ra: nó đại diện cho các cuộc tấn công tiềm năng vào tài sản của ta, vào hàng hóa của ta, vào con người ta, vào sự riêng tư của ta.   

        Dĩ nhiên, ta không thể lúc nào cũng suy nghĩ như vậy, nếu không ta sẽ tự khiến mình điên mất. Và đối với hầu hết các luật sư, một ngôi nhà, xét cho cùng, vẫn chỉ là một ngôi nhà, một thứ gì đó để lấp đầy và sửa chữa và sơn lại và làm cho trống rỗng. Nhưng có một thời điểm mà mọi sinh viên luật – những sinh viên luật rất giỏi – nhận thấy tầm nhìn của họ thay đổi, theo một cách nào đó, và nhận ra rằng luật pháp là thứ không thể nào tránh được, rằng không có bất kỳ sự tương tác nào, không một khía cạnh nào của cuộc sống, có thể thoát khỏi những ngón tay dài, đầy quyền lực của nó. Một con phố trở thành một thảm họa khủng khiếp, một sự náo loạn về việc vi phạm và các vụ án dân sự tiềm ẩn. Một cuộc hôn nhân trông như một cuộc ly dị. Thế giới tạm thời trở nên không tài nào chịu đựng nổi.

        Thằng bé có thể làm được điều đó. Thằng bé có thể nhận một vụ án và nhìn thấy kết cục của nó; đó là điều rất khó, bởi vì anh phải có khả năng hình dung trong đầu mình tất cả các khả năng, tất cả những hệ quả có thể xảy ra, và rồi chọn lấy những điều để lo ngại và điều gì thì bỏ qua. Nhưng điều mà thằng bé cũng thực hiện – điều mà thằng bé không thể ngăn được bản thân mình khỏi thực hiện – là đồng thời lo lắng về tác động đạo đức của vụ án. Và đó là điều không mấy hữu ích trong trường luật. Có những đồng nghiệp của tôi thậm chí không cho phép sinh viên của họ nói những từ như “đúng” và “sai.” “Sự đúng đắn chẳng có gì liên qua ở đây cả,” một trong những giáo sư của tôi từng quát lên với chúng tôi như vậy. “Pháp luật là gì? Các điều luật nói lên điều gì?” (Các giáo sư luật vốn thích cường điệu hóa; tất cả chúng tôi đều vậy.) Một người khác, bất kỳ khi nào những từ này được nhắc đến, sẽ không nói gì cả, mà đi tới chỗ của người phạm lỗi và đưa cho cậu ta một mẩu giấy nhỏ, một trong số những tờ giấy mà ông ấy luôn giữ trong túi áo khoác, viết rằng: Drayman 241. Drayman 241 là văn phòng của khoa triết học.

        Ở đây, ví dụ, là một giả thuyết: Một đội bóng đang trên đường đi xa thi đấu thì chiếc xe của họ bị hỏng. Vì thế họ hỏi mẹ của một cầu thủ rằng liệu có thể mượn chiếc xe của bà để đưa đội bóng đi hay không. Dĩ nhiên rồi, bà trả lời, nhưng tôi sẽ không lái xe. Và rồi bà đề nghị trợ lý huấn luyện viên lái xe thay bà. Nhưng, trên đường, điều khủng khiếp xảy ra: chiếc xe trượt khỏi đường và lật nhào; mọi người trên xe đều chết.  

        Ở đây không có vụ án hình sự nào cả. Con đường trơn trượt, và người lái xe không hề say rượu. Đó là một tai nạn. Nhưng rồi các bậc phụ huynh của đội bóng, những người cha và những người mẹ của các cầu thủ xấu số, kiện người chủ chiếc xe. Đó là xe của bà, họ tranh cãi, nhưng quan trọng hơn cả, chính bà là người đã chỉ định người lái xe cho chiếc xe của mình. Ông ta là người đại diện duy nhất của bà, và do đó, bà là người phải chịu trách nhiệm. Vậy thì: Điều gì sẽ xảy ra? Các nguyên đơn có thắng được vụ kiện này không?

        Các sinh viên không thích vụ án này. Tôi không thường đưa nó ra giảng dạy – sự khắc nghiệt của nó khiến nó khiến nó có vẻ hào nhoáng hơn là để trở thành bài học, tôi tin vậy – nhưng bất cứ khi nào tôi đưa ví dụ này ra, tôi sẽ luôn nghe thấy một tiếng nói trong thính phòng rằng, “Nhưng như thế là không công bằng!” Và cũng khó chịu như chính cái từ ấy – công bằng – điều quan trọng là các sinh viên không bao giờ quên mất khái niệm. “Công bằng” không bao giờ là một câu trả lời, tôi sẽ nói như vậy với họ. Nhưng nó luôn là một sự cân nhắc.

       

        Tuy nhiên, thằng bé không bao giờ đề cập đến việc liệu một thứ có công bằng hay không. Sự công bằng tự nó có vẻ như không gây mấy hứng thú đối với thằng bé, mà tôi nhận thấy thật thú vị, trong khi mọi người, đặc biệt là người trẻ, rất quan tâm tới việc công bằng là gì. Sự công bằng là một khái niệm được truyền dạy tới những đứa trẻ tử tế: đó là nguyên tắc chủ đạo trong nhà trẻ và các trại hè và sân chơi và sân bóng. Jacob, hồi còn có thể đi học và học được các sự việc và suy nghĩ và nói chuyện, đã biết được sự công bằng là gì và đó là một điều quan trọng, một thứ cần trân trọng. Sự công bằng là để dành cho những kẻ hạnh phúc, những con người đủ may mắn để có được một cuộc đời được định nghĩa phần nhiều bởi sự chắc chắn hơn là bởi sự mơ hồ.

        Đúng và sai, tuy nhiên, là dành cho – ôi, không phải là những người không hạnh phúc, mà có lẽ, là những người bị tổn thương; những kẻ sợ hãi.

        Hay đấy chỉ là điều mà tôi nghĩ đến lúc này?

        “Vậy các nguyên đơn có thành công không?” tôi hỏi. Vào năm đó, năm học đầu tiên của thằng bé, tôi thực sự đã giảng về vụ án đó.

        “Có,” thằng bé trả lời, và thằng bé lý giải vì sao: thằng bé biết được một cách bản năng rằng tại sao lại như vậy. Và rồi, ngay sau đó, tôi nghe được tiếng nói nhỏ “Nhưng như thế là không công bằng!” từ cuối phòng, và trước khi tôi bắt đầu bài giảng đầu tiên của học kỳ đó – “công bằng” không bao giờ là câu trả lời,” v.v, v.v – thằng bé nói khẽ, “Nhưng mà nó đúng.”  

        Tôi không bao giờ có thể hỏi thằng bé rằng ý của thằng bé khi ấy là gì. Giờ học kết thúc, và mọi người đứng dậy ngay lập tức và gần như là chạy khỏi phòng học, như thể lớp học đang bốc cháy vậy. Tôi nhớ rằng đã dặn bản thân mình phải hỏi lại thằng bé vào buổi học kế tiếp, về sau này trong tuần, nhưng tôi lại quên mất. Và rồi tôi cứ quên, quên mãi. Sau nhiều năm, lúc này hay lúc khác tôi lại nhớ về cuộc thảo luận ấy, và mỗi lần tôi đều nghĩ: mình phải hỏi thằng bé rằng nó có ý gì mới được. Nhưng rồi tôi không bao giờ làm vậy. Tôi cũng chẳng biết được vì sao.

        Và vì thế điều này trở thành khuôn mẫu dành cho thằng bé: thằng bé hiểu luật. Thằng bé có cảm giác về nó. Nhưng rồi, chỉ khi tôi muốn thằng bé đừng nói nữa, thằng bé sẽ đưa ra một lý lẽ đạo đức, thằng bé sẽ đề cập đến lẽ phải. Làm ơn, tôi nghĩ, đừng làm vậy. Luật pháp rất đơn giản. Nó cho phép ít sắc thái hơn là ta có thể hình dung. Đạo đức và lương tâm, trong thực tế, có một chỗ đứng trong pháp luật – mặc dù không phải trong thứ luật được quy định riêng cho một lĩnh vực nào đấy trong đời sống. Chính lương tri là thứ giúp cho chúng ta tạo ra pháp luật, nhưng lương tri không giúp được chúng ta trong việc áp dụng chúng.   

        Tôi đã lo rằng thằng bé sẽ làm khó bản thân, rằng thằng bé sẽ phức tạp hóa món quà mà thằng bé được ban tặng – cũng như là điều mà tôi rất ghét khi phải nói về nghề nghiệp của mình – suy nghĩ. Hãy dừng lại! Tôi muốn nói với thằng bé như vậy. Nhưng tôi không bao giờ làm như thế cả, bởi vì rốt cuộc, tôi nhận ra rằng tôi thích thú với việc được lắng nghe những suy nghĩ của thằng bé.

        Dĩ nhiên, cuối cùng, tôi không cần phải lo lắng; thằng bé đã học được cách kiểm soát điều đó, thằng bé đã học được cách dừng lại việc đề cập tới đúng và sai. Và như chúng ta đều biết, cái khuynh hướng này của thằng bé không hề ngăn trở thằng bé khỏi việc trở thành một luật sư xuất chúng. Nhưng về sau này, thường xuyên tôi thấy buồn cho thằng bé, và cho cả chính tôi nữa. Tôi ước gì tôi đã ép thằng bé phải rời bỏ trường luật, tôi ước gì tôi đã bảo với thằng bé rằng hãy tới những nơi như phòng Drayman 241. Những kỹ năng mà tôi truyền dạy cho thằng bé xét cho cùng không phải là những điều mà thằng bé cần tới. Tôi ước gì tôi từng thúc đẩy thằng bé vào một hướng đi mà tâm trí thằng bé có thể mềm dẻo như nó đáng lý ra nên như vậy, nơi mà thằng bé sẽ không buộc mình phải tuân theo lối suy nghĩ tẻ nhạt. Tôi cảm thấy tôi đã biến một con người từng biết cách vẽ một con chó thành một kẻ chỉ biết vẽ các khối hình.  

        Tôi đã phạm phải nhiều lỗi lầm liên quan đến thằng bé. Nhưng đôi khi, một cách phi lý, tôi cảm thấy có lỗi nhất về điều này. Tôi mở cánh cửa xe ô tô, tôi mời thằng bé ngồi vào trong. Và mặc dù tôi không lái xe trật khỏi đường, nhưng tôi đã đưa thằng bé tới một nơi trống trải và lạnh lẽo và vô vị, và bỏ mặc thằng bé ở đó, tại nơi mà, khi tôi quay lại đón thằng bé, vùng đất trở nên lung linh với những sắc màu, bầu trời vang dội tiếng pháo hoa, và thằng bé đứng đó há hốc mồm vì kinh ngạc.   

 


[1] Sir Thomas More (1478-1535) là một luật sư, nhà triết học xã hội, tác gia, chính khách và nhà nhân văn Phục hưng nổi tiếng người Anh. Ông là một cố vấn quan trọng cho Henry VIII của Anh và đảm nhận chức vụ Đại Chưởng ấn trong ba năm. Ông là người chống đối cuộc Cải cách Tin Lành, đặc biệt là Martin Luther và William Tyndale. Ông được tôn vinh là một vị thánh trong Giáo hội Công giáo và trong Cộng đồng Anh giáo. Ông cũng được Liên Xô đề cao do quan điểm về tư hữu trong chính sách về Utopia.

 

 

Advertisements