2f62de59ba028b216dc08770da43a7cc

 

 

CHƯƠNG 1 (tiếp)

 

 

              “Trên thế giới này có hai loại người,” Thẩm phán Sullivan từng nói. “Có những kẻ sẵn sàng tin tưởng, và những kẻ khác thì không. Trong phòng xử án của ta, chúng ta đề cao niềm tin. Tin vào mọi điều.”

        Ông đưa ra lời tuyên bố này thường xuyên, và sau khi làm vậy, ông sẽ lầm bầm với cái chân mình — ông rất béo — và lạch bạch bước ra khỏi phòng. Đó thường là vào lúc cuối ngày — ngày của Sullivan, ít ra là vậy — khi ông rời khỏi phòng làm việc của mình và ra nói chuyện với các nhân viên của ông, ngồi ghé vào mép của một trong những chiếc bàn của họ và đưa ra những bài học khó hiểu mà thường xuyên xen kẽ với những quãng tạm dừng, như thể các thư ký của ông không phải là những luật sư mà là những chuyên viên tốc ký, và họ nên ghi lại những lời ông nói. Nhưng không ai làm vậy, thậm chí là cả Kerrigan, người là một tín đồ và là kẻ bảo thủ nhất trong số ba người bọn họ.

        Sau khi vị thẩm phán rời đi, y sẽ nhe răng cười với Thomas, lúc này đang trợn mắt lên trong một cử chỉ bất lực và xin lỗi. Thomas cũng là một người bảo thủ, nhưng là “một người suy nghĩ bảo thủ,” anh ta nói với y, “và thực tế rằng tôi phải đề ra sự phân biệt này thật vô cùng đáng chán.”

        Y và Thomas bắt đầu làm thư ký cho vị thẩm phán trong cùng một năm, và khi y được tiếp cận bởi ủy ban tìm kiếm không chính thức của thẩm phán — thực vậy, giáo sư môn Hiệp hội Doanh nghiệp của y, mà là một người bạn cũ của thẩm phán — mùa xuân của năm học thứ hai của y tại trường luật, Harold đã khuyến khích y ứng tuyển. Sullivan được biết đến trong số những vị thẩm phán tòa án lưu động như là một người luôn thuê những thư ký có quan điểm chính trị khác biệt so với ông, càng mạnh mẽ, càng tốt. (Nhân viên thư ký theo chủ nghĩa tự do mới đây nhất của ông đã tới làm việc cho một nhóm đấu tranh vì chủ quyền của người Hawaii ủng hộ sự ly khai của hòn đảo này khỏi Hoa Kỳ, một sự thay đổi sự nghiệp đã đưa vị thẩm phán vào một sự hài lòng tự mãn.)  

        “Sullivan ghét ta,” Harold bảo với y sau đó, đầy vẻ tự hào. “Ông ấy sẽ thuê trò chỉ để chọc tức ta.” Ông mỉm cười, thích thú với cái ý nghĩ ấy. “Và bởi vì trò là cậu sinh viên suất sắc nhất của ta,” ông thêm vào.

        Lời khen ngợi khiến y nhìn xuống đất: lời khen của Harold thường có khuynh hướng được người khác truyền đạt tới cho y, và hiếm khi đến được nói trực tiếp với y như vậy. “Em không chắc là em có đủ dân chủ đối với ông ấy hay không,” y trả lời. Chắc chắn là y chẳng đủ dân chủ đối với Harold rồi; đó là một điều – quan điểm của y; cái cách mà y đọc luật; cái cách mà y áp dụng nó vào cuộc sống – mà họ vẫn thường tranh luận.  

        Harold khịt mũi. “Hãy tin ta,” ông nói. “Trò có đó.”

        Nhưng khi y đi Washington để phỏng vấn vào năm sau, Sullivan đã nói về luật — và triết lý chính trị — với ít sự mãnh liệt và ít cụ thể hơn so với y dự đoán. “Tôi nghe nói là cậu biết hát,” thay vì vậy Sullivan nói thế sau một giờ bàn luận về những gì mà y đã từng học (vị thẩm phán cũng học cùng trường với y), và vị trí của y như là biên tập viên bài viết của tờ báo luật (cùng vị trí mà bản thân vị thẩm phán đã từng nắm giữ), và suy nghĩ của y về những vụ án hiện thời.

        “Có ạ,” y trả lời, tự hỏi tại sao ông thẩm phán lại biết được điều đó. Ca hát là nguồn an ủi của y, nhưng hiếm khi nào y lại thực hiện điều đó trước mặt người khác. Y từng hát trong văn phòng của Harold và đã bị nghe thấy chăng? Hay đôi khi y hát trong thư viện pháp luật, khi mà y sắp xếp lại các giá sách vào tối muộn và không gian thì yên lặng và tĩnh mịch như ở trong nhà thờ vậy — khi ấy có ai đã nghe thấy tiếng hát của y chăng?

        “Hãy hát cho tôi nghe một đoạn nào đó,” ông thẩm phán nói.

        “Ngài muốn nghe gì ạ?” y hỏi. Thường thì, y sẽ hồi hộp hơn rất nhiều, nhưng y nghe nói rằng vị thẩm phán sẽ yêu cầu y biểu diễn một thứ gì đó (truyền thuyết kể lại rằng ông ấy đã yêu cầu ứng cử viên trước đó tung hứng), và Sullivan được biết đến như là một người say mê opera.

        Ông thẩm phán đặt ngón tay béo múp của mình lên cái môi dày và suy nghĩ. “Ừm,” ông nói. “Hãy hát cho tôi nghe thứ gì đó mà có thể cho tôi biết về cậu xem nào.”

        Y suy nghĩ, và rồi y hát. Y cũng thấy ngạc nhiên trước sự lựa chọn của mình — “Ich bin der Welt abhanden gekommen[1]” của Mahler — bởi vì y thực sự không yêu thích Mahler nhiều đến thế và cả bởi vì lời ca ấy rất khó trình bày, chậm rãi và thê lương và huyền ảo và không dành cho giọng nam cao. Dù vậy y rất thích bài thơ ấy, bài thơ mà giáo viên thanh nhạc của y tại trường đại học xem như là “thứ chủ nghĩa lãng mạn hạng hai,” nhưng y lại luôn cho rằng đó là bởi vì nó phải gánh chịu số phận của một bản dịch quá tệ. Sự phiên dịch thông thường của lời ca ấy là “Tôi lạc lối trong thế giới,” nhưng y đọc nó thành “Tôi đã trở nên lạc lối trong thế giới này,” mà, y tin, sẽ ít mang tính tự thương hại hơn, ít thống thiết hơn, và mang tính cam chịu hơn, và bối rối hơn. Tôi đã trở nên lạc lối trong thế giới này/ Nơi mà tôi đã phí hoài quá nhiều thời gian. Lời ca ấy nói về cuộc đời của một người nghệ sĩ, mà hiển nhiên không phải là y. Nhưng mà y hiểu, gần như toàn bộ, khái niệm về sự thất lạc, về việc đánh mất chính mình trước thế giới, về việc tan biến vào một nơi chốn khác, một chốn ẩn dật và an toàn, trong sự khao khát đồng thời về việc trốn chạy và khám phá. ­Chẳng có nghĩa lý gì với tôi hết / Dù thế gian này có tin rằng tôi đã chết / Tôi khó lòng có thể bác bỏ điều đó / Vì thật ra, tôi đã không còn là một phần của thế giới này.

        Khi y dừng lại, y mở mắt ra trước tiếng vỗ tay và tiếng cười của ông thẩm phán. “Hoan hô,” ông nói. “Hoan hô! Nhưng tôi nghĩ là cậu đã chọn sai nghề nghiệp mất rồi.” Rồi ông lại cười. “Cậu học hát ở đâu thế?”

        “Từ các tu huynh ạ, thưa ngài,” y trả lời.

        “A, một cậu bé Công giáo?” ông thẩm phán hỏi, hơi ngồi dậy khỏi chiếc ghế của ông và nom có vẻ hài lòng.  

        “Tôi từng được nuôi dậy theo đạo Công giáo,” y trả lời.

        “Nhưng giờ thì cậu không theo đạo nữa à?” ông thẩm phán hỏi, cau mày.

        “Không ạ,” y trả lời. Y đã phải cố gắng nhiều năm để giữ cho cảm giác tội lỗi không hiện diện trong giọng nói của y.

        Sullivan phát ra một tiếng càu nhàu lạ lẫm. “Ồ, dù họ có mang đến cho cậu điều gì thì ít nhất cũng là một dạng tự vệ nào đó trước bất cứ điều gì Harold Stein nhồi vào đầu cậu trong vài năm qua,” ông nói. Ông nhìn vào bản sơ yếu lý lịch của y. “Cậu là trợ lý nghiên cứu của hắn hả?”

        “Vâng,” y trả lời. “Trong hơn hai năm ạ.”

        “Một đầu óc sáng suốt, bị lãng phí,” Sullivan tuyên bố (không rõ là ông ám chỉ y hay Harold nữa). “Cảm ơn vì đã tới, chúng ta sẽ giữ liên lạc. Và cảm ơn vì bài hát; cậu có chất giọng nam cao đẹp nhất mà tôi từng được nghe trong suốt một thời gian dài. Cậu có chắc là cậu đang theo đuổi đúng sự nghiệp không đấy?” với điều này, ông mỉm cười, lần cuối cùng mà y còn nhìn thấy nụ cười đầy hài lòng và chân thành của Sullivan.

        Khi trở lại Cambridge, y kể với Harold về buổi gặp gỡ (“Trò hát á?” Harold hỏi y, như thể y vừa kể với ông rằng y đã bay vậy), nhưng khi ấy y đoan chắc rằng mình sẽ không được nhận. Một tuần sau đó, Sullivan gọi: vị trí ấy thuộc về y. Y thấy ngạc nhiên, nhưng Harold thì không. “Ta đã bảo trò rồi mà,” ông nói.

        Ngày tiếp theo, y tới văn phòng của Harold như mọi khi, nhưng Harold mặc áo khoác vào. “Công việc thường ngày sẽ được hoãn lại trong hôm nay,” ông tuyên bố. “Ta cần trò chạy vài việc vặt với ta.” Điều này thật bất thường, nhưng Harold vẫn cứ luôn bất thường như vậy. Bên lề đường, ông giơ ra chùm chìa khóa: “Trò có muốn lái xe không?”

        “Vâng ạ,” y trả lời, và ngồi xuống ghế tài xế. Đó là chiếc xe mà y từng học lái xe, chỉ vào một năm trước, khi Harold ngồi bên cạnh y, kiên nhẫn hơn nhiều so với những khi ông ở trên bục giảng. “Tốt,” ông nói. “Hãy thả bánh lái thêm một chút nữa – tốt. Tốt, Jude, tốt lắm.”

        Harold cần lấy một vài chiếc sơ mi mà ông đã đem đi sửa, và họ lái xe tới một của hàng trang phục nam giới nhỏ, đắt tiền nằm ở bên quảng trường nơi mà Willem từng làm thêm vào năm cuối. “Hãy vào cùng ta,” Harold bảo y, “ta sẽ cần người mang giúp đồ ra.”

        “Chúa ơi, Harold, thầy đã mua bao nhiêu cái áo sơ mi thế?” y hỏi. Harold có hẳn một tủ giống hệt nhau toàn những chiếc áo sơ mi xanh, sơ mi trắng, quần nhung kẻ màu nâu (cho mùa đông), quần vải lanh (cho mùa xuân và mùa hè), và áo len với các sắc màu xanh lá và xanh dương khác nhau.   

        “Thôi ngay,” Harold nói.

        Bên trong của hàng, Harold đi tìm người bán hàng, và y thì đợi, lướt những ngón tay của mình trên những chiếc cà vạt được bày biện trong những chiếc hộp của chúng, được cuộn lại và sáng bóng lên như những chiếc bánh ngọt. Malcolm đã cho y hai bộ vét cũ của cậu, mà y đã sửa lại và mặc trong suốt các kỳ thực tập vào mùa hè của mình, nhưng y buộc phải mượn bộ vét của bạn cho cuộc phỏng vấn với Sullivan, và y cố gắng cử động thật cẩn thận trong suốt thời gian y mặc nó vào, cảm nhận được sự rộng rãi của nó và độ mịn của chất vải len.

        Và rồi “Chính là cậu ấy,” y nghe thấy Harold nói, và khi y quay lại, Harold đang đứng cùng một người đàn ông nhỏ thó với cái thước dây tròng quanh cổ mình như một con rắn. “Cậu ấy cần hai bộ vét — một bộ màu xám đậm và một bộ màu xanh hải quân — và hãy lấy cho cậu ấy mười hai chiếc áo sơ mi, vài cái áo len, vài cái cà vạt, tất, giầy: cậu chàng chẳng có cái quái gì hết cả.” Ông gật đầu với y và nói, “Đây là Marco. Ta sẽ quay lại sau vài tiếng nữa.”

        “Đợi đã,” y kêu lên. “Harold. Thầy đang làm gì thế?”

        “Jude,” Harold nói, “trò cần đồ để mặc. Ta chẳng phải là chuyên gia gì trong lĩnh vực này, nhưng trò không thể xuất hiện ở văn phòng của Sullivan với bộ dạng như vậy được.”

        Y thấy xấu hổ: vì trang phục của mình, vì sự không thích hợp của mình, vì sự hào phóng của Harold. “Em biết,” y nói. “Nhưng em không thể nhận điều này được, thầy Harold ạ.”

        Y sẽ tiếp tục, nhưng Harold đã bước ra giữa y và Marco và xoay người y lại. “Jude,” ông nói, “hãy nhận lấy nó. Trò đã tự mình kiếm được nói. Và hơn hết, là trò cần nó. Ta sẽ không để cho trò hạ nhục ta trước mặt Sullivan đâu nhá. Ngoài ra, ta cũng đã trả tiền luôn rồi, và ta không không thể lấy lại tiền của mình đâu. Đúng không, Marco?” ông gọi với ra đằng sau mình.

        “Đúng vậy,” Marco trả lời, ngay lập tức.

        “Ôi, cứ thế đi, Jude,” Harold nói, khi ông thấy y chuẩn bị lên tiếng. “Ta phải đi đây.” Và ông bỏ đi mà không quay đầu lại.  

        Và vì thế mà y thấy mình đang đứng trước một chiếc gương ba cánh, nhìn thấy hình ảnh phản chiếu của Marco đang bận rộn bên cổ chân y, nhưng khi Marco rướn người lên để đo đường khâu bên trong của chiếc quần ở chân y, y lùi lại, theo phản xạ. “Bình tĩnh, bình tĩnh nào,” Marco nói, như thể y là một con ngựa đang lo lắng, và vỗ vào đùi y, cứ như thể y là một con ngựa vậy, và khi y gần như đá chân lên lúc Marco chạm vào chiếc chân còn lại của y. “Này! Tôi đang ngậm kim ở trong mồm mình đấy.”

        “Tôi xin lỗi,” y nói, và giữ mình đứng thật yên.

        Khi Marco xong việc, y ngắm mình trong bộ vét mới: ở đây trong một sự ẩn danh như vậy, trong sự bảo vệ này. Ngay cả khi nếu như có một ai đó nhìn thấy bóng lưng y, y cũng mặc vào nhiều lớp quần áo nhường này nên họ chẳng bao giờ có thể cảm nhận được những vết sẹo bên dưới đó. Mọi thứ đều được che đậy, mọi thứ đều bị giấu đi. Nếu như y cứ đứng nguyên như thế, y có thể trở thành bất kỳ ai, một ai đó vô hình và trống rỗng.  

        “Tôi nghĩ là nên thêm nửa in-sơ nữa,” Marco nói, túm phần eo phía sau của chiếc áo vét của y lại. Ông ta phủi đi vài sợi chỉ khỏi tay áo y. “Giờ thì cậu chỉ cần cắt tóc nữa là xong.”  

        Y thấy Harold ở khu bán cà vạt, đọc một cuốn tạp chí. “Đã xong chưa?” ông hỏi, như thể toàn bộ chuyến đi này là ý tưởng của y vậy và Harold là người duy nhất nuông chiều cái ý tưởng chợt nảy ra này.

        Vào bữa tối sớm của họ hôm đó, y cố gắng cám ơn Harold một lần nữa, nhưng cứ mỗi khi y cố làm vậy, Harold lại ngăn y lại với sự thiếu kiên nhẫn ngày một tăng. “Đã có ai từng nói với trò là đôi khi trò chỉ cần chấp nhận thôi không, Jude?” cuối cùng ông hỏi.

        “Thầy từng nói là đừng bao giờ chỉ chấp nhận bất cứ điều gì,” y nhắc nhở Harold.

        “Đấy là ở trên lớp và trong phòng xử án,” Harold nói. “Không phải trong đời. Xem này, Jude, trong cuộc sống, đôi khi những điều tốt đẹp diễn ra với những người tốt. Trò không cần phải lo lắng — chúng không xảy ra thường xuyên như là đáng lý ra phải vậy đâu. Nhưng mà khi chúng xảy ra, việc của người tốt là chỉ cần nói ‘cám ơn’, và tiếp tục tiến về phía trước, và có thể cân nhắc đến khía cạnh rằng cái người làm việc tốt ấy cũng sẽ được hưởng lợi từ nó, và chẳng vui tẹo nào khi người làm việc tốt phải nghe thấy rằng cái người mà anh ta làm điều tốt cho ấy lại nghĩ là mình không đủ tốt hay không xứng đáng để nhận lấy nó.”

        Vì thế y im lặng sau đó, và sau bữa tối y để Harold đưa y về căn hộ của mình ở phố Hereford. “Ngoài ra,” Harold nói khi y xuống xe, “trò nhìn rất, rất đẹp trong bộ đồ ấy. Trò là một thằng nhóc đẹp trai; ta mong rằng có người từng nói như vậy với trò.” Và rồi, trước khi y có thể biện hộ, “Sự chấp nhận, Jude ạ.”

        Vì thế y nuốt xuống những lời mình định nói. “Cảm ơn thầy, Harold. Vì mọi thứ.”

        “Không có chi, Jude,” Harold nói. “Gặp lại trò vào thứ Hai nhé.”

        Y đứng bên lề đường và nhìn chiếc xe của Harold đi xa dần, và rồi y lên căn hộ của mình, mà nằm ở trên tầng hai của một ngôi nhà lát đá nâu nằm kề khu nhà của hội nam sinh MIT. Chủ của ngôi nhà lát đá nâu, một vị giáo sư xã hội học đã về hưu, sống ở tầng trệt và cho các nghiên cứu sinh thuê ba tầng còn lại: tầng trên cùng là của Santosh và Federico, những người đang theo học chương trình tiến sĩ điện tử ứng dụng ở MIT, và ở tầng ba là Janusz và Isidore, những người đều đang làm luận án tiến sĩ tại Harvard — Janusz theo học khoa hóa sinh và Isidore nghiên cứu về nền tôn giáo của bán đảo Ban-căng — và ở ngay bên dưới họ là y và người bạn cùng phòng với mình, Charlie Ma, có tên thật là Chien-Ming Ma và được mọi người gọi là CM. CM là thực tập sinh tại Trung tâm Y tế Tufts, và họ có lịch sinh hoạt hoàn toàn trái ngược nhau: y sẽ thức dậy và cánh cửa phòng CM sẽ đóng và y sẽ nghe thấy tiếng ngáy nghèn nghẹt của anh ta, và khi y về nhà vào lúc tám giờ tối, sau khi làm việc với Harold, CM sẽ đi làm. Y thích CM — anh đến từ Đài Bắc và theo học trường nội trú ở Connecticut và có nụ cười tươi đầy ngái ngủ, tinh nghịch mà khiến ai cũng muốn cười đáp lại — và anh là bạn của Andy, và do đó mà họ mới quen nhau. Bất kể bầu không khí tĩnh lặng nặng nề, CM cũng là người ngăn nắp, và thích nấu ăn; đôi khi y về nhà và thấy một đĩa há cảo nằm trên bàn, với một tờ giấy nhắn ghi HÃY ĂN TÔI ĐI, hay, đôi khi, nhận được một tin nhắn nhờ y bỏ vào lò quay con gà đã được ướp sẵn trước khi đi ngủ, hoặc nhờ y bứt một nhúm rau mùi trên đường về nhà. Y vẫn luôn làm vậy, và khi về nhà y sẽ phát hiện thấy một con gà đang được ninh nhỏ lửa, hay đám rau mùi đã được thái nhỏ và được gói vào trong những chiếc bánh dẹt. Cứ mỗi vài tháng, khi lịch làm việc của họ trùng nhau, toàn bộ sáu người sẽ tụ tập tại căn hộ của Santosh và Federico — vì phòng của họ là lớn nhất — và ăn uống và chơi bài. Janusz và Isidore luôn lo lắng rằng đám con gái sẽ nghĩ rằng họ là đồng tính nam bởi vì họ luôn đi cùng với nhau (CM nháy mắt với y; anh sẽ cược hai mươi đô la rằng họ đã ngủ với nhau nhưng vẫn cứ giả vờ như mình là trai thẳng — mà dù ở bất kỳ tỷ lệ nào, cũng là điều không thể chứng minh), và Santosh và Federico sẽ than phiền về việc các sinh viên của họ ngu ngốc thế nào, và chất lượng sinh viên đại học MIT đã đi xuống ra sao kể từ khi họ tới đó vào năm năm trước.

        Căn hộ của y và CM là nhỏ nhất, bởi vì chủ nhà đã lấy mất nửa tầng để làm nhà kho. CM trả phần tiền thuê nhiều hơn hẳn, vì thế anh có phòng ngủ. Y chiếm cứ một góc của phòng khách, cái phần với ô cửa sổ ăn vào hốc tường. Chiếc giường của y giống như là một cái khay đựng trứng bằng xốp mềm, và những cuốn sách của y được xếp chồng bên dưới bậu cửa sổ, và y có một chiếc đèn bàn, và một tấm màn giấy gấp để giữ sự riêng tư. Y và CM đã mua một chiếc bàn gỗ lớn, mà họ đặt ở hốc tường của phòng ăn, và với hai chiếc ghế xếp bằng kim loại, một chiếc do Janusz bỏ đi, và một chiếc khác của Federico. Một nửa chiếc bàn là của y, nửa còn lại thuộc về CM, và cả hai nửa đều chất đầy sách vở và giấy tờ và chiếc laptop của họ, cả hai đều phát ra những tiếng tích tích và ì ầm suốt ngày đêm.

        Mọi người luôn ngỡ ngàng trước sự trống vắng của ngôi nhà, nhưng y hầu như không còn chú ý đến điều đó nữa — mặc dù không phải là hoàn toàn. Ví dụ như, vào lúc này y đang ngồi trên sàn nhà trước ba chiếc thùng giấy đựng quần áo của y, và nhấc lên những chiếc áo len và áo sơ mi và tất và giầy mới từ những gói giấy bọc màu trắng, và đặt từng thứ một lên trên đùi mình. Chúng là những món đồ đẹp đẽ nhất mà y từng sở hữu, và dường như thật đáng xấu hổ khi phải cất chúng vào những chiếc hộp mà đáng lý ra chỉ nên được dùng để đựng giấy tờ thôi. Và vì thế mà rốt cuộc, y gói chúng lại và đặt lại chúng vào trong những chiếc túi mua hàng.

        Món quà hào phóng của Harold làm y bối rối. Trước hết, bản thân món quà là một vấn đề: y chưa từng, chưa bao giờ nhận được thứ gì to tát nhường ấy. Hai là, việc đền ơn ông một cách tương xứng là điều không tưởng. Và ba là, còn có cả ý nghĩa đằng sau hành động ấy nữa: đôi khi y biết rằng Harold tôn trọng y, và thậm chí là yêu thích sự bầu bạn của y. Nhưng không thể nào y lại là một người quan trọng đối với Harold, rằng Harold thích y nhiều hơn so với một sinh viên, mà như là một người bạn thật sự? Và nếu như là thế thật, thì tại sao điều đó lại khiến y lo lắng đến thế?

        Phải sau rất nhiều tháng y mới có thể cảm thấy thật sự thoải mái khi ở bên Harold: không phải trên lớp học hay trong văn phòng của ông, mà ở bên ngoài lớp học, ngoài văn phòng. Trong cuộc sống, như là Harold đã nói. Y sẽ trở về nhà sau khi dùng bữa tối tại nhà của Harold và cảm thấy thật nhẹ nhõm. Y cũng không biết tại sao, cũng như là y không muốn thừa nhận điều đó với chính mình: theo truyền thống, đàn ông — những người đàn ông trưởng thành, mà y vẫn chưa tự xem mình là một trong số đó — cảm thấy có hứng thú với y vì một lý do nào đó, và vì vậy mà y đã học được rằng cần phải sợ hãi họ. Nhưng Harold dường như không phải là một trong số những người đó. (Mặc dù Tu huynh Luke cũng chẳng có vẻ gì là một trong số đó.) Y sợ hãi trước tất cả mọi điều, đôi khi có vẻ như là vậy, và y căm ghét bản thân mình vì điều đó. Nỗi sợ hãi và căm ghét, sợ hãi và căm ghét: thông thường, đó dường như là hai phẩm chất duy nhất mà y có được. Sợ tất cả những người khác; căm ghét chính mình.

        Y biết đến Harold từ trước khi gặp mặt ông, vì Harold là một người nổi tiếng. Ông là một người chất vấn không ngừng: mỗi một lời nói mà anh đưa ra trong lớp học của ông sẽ bị chộp lấy và đem ra mổ xẻ trong một chuỗi bất tận của những câu hỏi Tại sao. Ông gọn gàng và cao lớn, và có lối đi lại nhịp nhàng trong một vòng tròn hẹp, thân hình ông rướn về phía trước, mỗi khi ông say sưa với câu chuyện hoặc trở nên hưng phấn.  

        Trong sự thất vọng của y, có quá nhiều điều y chỉ đơn giản là không nhớ được về lớp học môn hợp đồng của Harold vào năm thứ nhất của y. Y không thể nhớ, ví dụ như, những bài luận mà y viết đã khiến Harold thấy hứng thú và dẫn tới những cuộc tranh luận bên ngoài lớp học và, rốt cuộc, một lời đề nghị trở thành trợ lý nghiên cứu của ông. Y không thể nhớ ra được điều thú vị cụ thể nào mà ông đã từng nói trên lớp. Nhưng y có thể nhớ được Harold vào ngày đầu tiên của học kỳ ấy, đi qua đi lại, và giảng bài với cái giọng trầm, nhanh của mình.

        “Các bạn đang ở năm nhất,” Harold nói. “Và xin chúc mừng, tất cả các bạn. Là sinh viên năm nhất, các bạn sẽ học các chương trình cơ bản: hợp đồng; bồi thường thiệt hại dân sự; quyền sở hữu; tố tụng dân sự; và, vào năm sau, là hiến pháp và luật hình sự. Nhưng các bạn đều đã biết việc này.

        “Điều mà có thể các bạn không biết là thứ mà những môn học này phản ánh — một cách đẹp đẽ, và đơn giản — cấu trúc của xã hội chúng ta, cái cơ chế của một xã hội, mà cụ thể là xã hội của chúng ta, cần tới để nó được vận hành. Để có được một xã hội, trước tiên ta cần đến một khung thể chế: đó chính là hiến pháp. Ta cần đến một hệ thống của sự trừng phạt: đó chính là luật hình sự. Ta cần phải biết rằng ta có một hệ thống phù hợp mà sẽ khiến cho các hệ thống khác hoạt động: đó chính là luật dân sự. Ta cần một phương thức để kiểm soát các vấn đề về việc sở hữu và quyền làm chủ: đó chính là luật sở hữu. Ta cần phải biết rằng một người sẽ được bồi thường về mặt tài chính vì những tổn thất gây ra bởi người khác: đó là luật bồi thường thiệt hại dân sự. Và cuối cùng, ta cần biết rằng mọi người sẽ giữ thỏa thuận của họ, rằng họ sẽ tôn trọng lời hứa của mình: và đó chính là hợp đồng.”     

        Ông dừng lại. “Giờ thì, tôi không muốn trở nên lỗ mãng, nhưng tôi cá là một nửa trong số các bạn ở đây có thể kiếm tiền từ người khác vào một ngày nào đó — những người phạm sai lầm, điều đó chẳng có gì mà phải xấu hổ cả! — và một nửa còn lại ở đây là bởi vì các bạn nghĩ rằng mình sẽ làm thay đổi thế giới. Các bạn ở đây là bởi vì các bạn mơ đến việc tranh cãi trên Tòa án tối cao, bởi vì các bạn nghĩ đến những thách thức thật sự của luật pháp nằm giữa những kẽ hở của Hiến pháp. Nhưng tôi ở đây để nói với các bạn rằng — không phải thế. Lĩnh vực thật nhất, mang tính trí tuệ nhất, và màu mỡ nhất trong pháp luật chính là hợp đồng. Hợp đồng không chỉ đơn giản là những tờ giấy hứa hẹn với bạn một công việc, hay một ngôi nhà, hay một sự thừa hưởng: trong ý nghĩa thực nhất, rộng nhất, hợp đồng chi phối mọi khía cạnh của luật pháp. Khi chúng ta lựa chọn việc sống trong một xã hội, chúng ta lựa chọn việc sống dưới một sự giao kèo, và để tuân theo những quy định mà một hợp đồng đưa ra cho chúng ta — bản thân Hiến pháp là một cái hợp đồng, mặc dù là một hợp đồng dễ uốn nắn, và câu hỏi chỉ là nó dễ uốn đến thế nào mà thôi, nói một cách chính xác, thì đó là nơi mà luật pháp giao hòa với chính trị — và nó nằm dưới các quy tắc, rõ ràng hoặc không, rằng trong cái hợp đồng này chúng ta cam kết sẽ không giết người, và sẽ đóng thuế, và không trộm cướp. Nhưng trong trường hợp đó, chúng ta đều là những người tạo ra và bị ràng buộc bởi cái hợp đồng này: như là một công dân của đất nước này, chúng ta giả định, từ khi sinh ra, một nghĩa vụ về việc cần phải tôn trọng và tuân theo các điều khoản trong đó, và chúng ta làm điều này mỗi ngày.  

        “Trong lớp học này, các bạn dĩ nhiên sẽ học về cấu trúc của các bản hợp đồng — về việc một cái hợp đồng được tạo ra như thế nào, bị phá vỡ ra làm sao, làm thế nào để ràng buộc và đưa mình ra khỏi sự ràng buộc — nhưng các bạn cũng sẽ được yêu cầu phải cân nhắc đến khía cạnh bản thân luật pháp cũng là một loạt những bản hợp đồng. Một số thì công bằng hơn — và đây là lần duy nhất, tôi sẽ cho phép các bạn nói ra một điều như vậy — so với những cái khác. Nhưng sự công bằng không phải là điều duy nhất, hay thậm chí là điều quan trọng nhất, được xem xét tới trong pháp luật: luật không phải lúc nào cũng công bằng. Hợp đồng không phải lúc nào cũng công bằng. Nhưng đôi khi chúng là cần thiết, cái sự bất công ấy, bởi vì chúng là cần thiết cho sự vận hành đúng đắn của xã hội. Trong lớp học này các bạn sẽ học về sự khác biệt giữa điều gì là công bằng và điều gì chỉ là gần như công bằng thôi, và, cũng quan trọng không kém, giữa điều gì là công bằng và điều gì là cần thiết. Các bạn sẽ học về những bổn phận mà chúng ta cần tuân thủ với tư cách là một thành viên của xã hội, và xã hội nên đi bao xa để thực thi những bổn phận đó. Các bạn sẽ học cách nhìn nhận cuộc đời mình — cuộc đời của tất cả chúng ta — như là một loạt các thỏa thuận, và điều đó sẽ khiến bạn không chỉ suy nghĩ lại về luật pháp mà còn về cả đất nước này, và vị trí của các bạn ở trong đó.”

        Y thấy rùng mình trước lời phát biểu của Harold, và trong những tuần tiếp theo, bởi lối tư duy khác biệt của Harold, bởi cái cách mà ông sẽ đứng giữa căn phòng như một vị nhạc trưởng, biến những luận cứ của một sinh viên thành những điều kỳ lạ và không tưởng tượng nổi. Có một lần, trong một cuộc trao đổi tương đối vô thưởng vô phạt về quyền riêng tư — đều là thứ quyền lợi được coi trọng và tồn tại lâu nhất trong hiến pháp, theo như lời Harold, người có các định nghĩa về khế ước thường bỏ qua các ranh giới thông thường và vui vẻ hướng đến những lĩnh vực khác của pháp luật — đã dẫn tới một cuộc tranh luận giữa hai người bọn họ về sự nạo phá thai, mà y cảm thấy không thể bênh vực được dựa trên nền tảng đạo đức nhưng lại là cần thiết đối với xã hội. “A ha!” Harold kêu lên; ông là một trong số hiếm hoi những giáo sư không chỉ đưa ra những cuộc tranh luận về pháp lý mà còn cả về đạo đức nữa. “Và, thưa ngài St. Francis, điều gì sẽ xảy ra khi chúng ta xóa bỏ đạo đức khỏi luật lệ chỉ vì sự điều hành xã hội đây? Ý nghĩa của việc mà tại một thời điểm một quốc gia, và những công dân của nó, nên đề cao sự kiểm soát xã hội hơn là ý thức đạo đức là gì đây? Liệu có tồn tại một thời điểm như vậy hay không? Tôi không tin là có đâu.” Nhưng y vẫn kiên trì với quan điểm của mình, và cả lớp học như bất động quanh họ, theo dõi hai người tranh luận với nhau.  

        Harold là tác giả của ba cuốn sách, nhưng cuốn sách gần đây nhất của ông, Cái bắt tay của người Mỹ: Những hứa hẹn và thất bại của bản Tuyên ngôn độc lập, chính là điều đã làm nên tên tuổi của ông. Cuốn sách, mà y đã đọc từ trước khi gặp Harold, là một sự diễn giải pháp lý về Bản tuyên ngôn độc lập: Những điều mà nó hứa hẹn đã được thực hiện và bị bỏ qua, và nếu như nó được viết ra vào ngày hôm nay, liệu nó có chống lại những xu hướng pháp luật đương thời hay không? (“Câu trả lời ngắn gọn: Không,” theo bài đánh giá của tờ Times.) Hiện tại ông đang tiến hành tìm tòi tư liệu cho cuốn sách thứ tư của mình, gần như là phần kế tiếp của cuốn Cái bắt tay của người Mỹ, về Hiến pháp, từ một góc nhìn tương tự.

        “Nhưng chỉ có Bản tuyên ngôn nhân quyền, và những sửa đổi quyến rũ hơn,” Harold nói với y khi ông phỏng vấn y cho vị trí trợ lý nghiên cứu.

        “Em không biết là có những phần lại quyến rũ hơn những phần khác,” y nói.

        “Dĩ nhiên là có những phần thì quyến rũ hơn những phần khác,” Harold nói. “Chỉ có điều mười một, mười hai, mười bốn, và mười sáu là quyến rũ. Toàn bộ những phần còn lại về cơ bản chỉ là cặn bã của nền chính trị trong quá khứ.”

        “Điều mười ba cũng là rác rưởi hay sao ạ?” y hỏi, tự mình cũng bị cuốn vào câu chuyện.

        “Ta không nói nó là rác rưởi,” Harold trả lời, “chỉ là không quyến rũ thôi.”

        “Nhưng em nghĩ ý nghĩa của từ cặn bã chính là như vậy.”

        Harold thở dài thườn thượt, cầm lấy cuốn từ điển trên bàn mình, mở nó ra, và nghiên cứu nó trong một lúc. “Được rồi, được rồi,” ông nói, đẩy nó về phía mép bàn. “Định nghĩa thứ ba. Nhưng ta muốn nói đến định nghĩa thứ nhất: những phần còn lại, những mảnh vụn — những gì còn lại của nền chính trị trong quá khứ. Hài lòng chưa?”

        “Vâng,” y trả lời, cố không cười.

        Y bắt đầu làm việc cho Harold vào chiều và tối các ngày thứ Hai, thứ Tư, và thứ Sáu, những ngày mà lịch học của y nhẹ nhàng nhất  — vào thứ Ba và thứ Năm y có hội thảo buổi chiều ở MIT, nơi y đang theo đuổi chương trình thạc sĩ, và làm việc ở thư viện luật vào buổi tối, và vào thứ Bảy y làm việc ở thư viện vào buổi sáng và buổi chiều thì ở một tiệm bánh có tên là Batter, nằm ngay gần trường y, nơi mà y làm việc kể từ thời còn là sinh viên và là nơi mà y thực hiện những đơn hàng đặc biệt: trang trí những chiếc bánh quy và làm hàng trăm những bông hoa bằng kẹo đường cho những chiếc bánh ngọt và thử nghiệm những công thức khác nhau, một trong số đó, là chiếc bánh ngọt hình túp lều được trang trí bằng các loại hạt, trở thành thứ bán chạy nhất của cửa hàng. Y cũng làm việc ở tiệm bánh vào cả ngày Chủ nhật nữa, và một ngày nọ Allison, người chủ tiệm bánh, đã tin tưởng y qua rất nhiều những dự án khó, đưa cho y một phiếu đặt hàng ba tá bánh quy đường được trang trí như các loại vi khuẩn khác nhau. “Tôi nghĩ cậu là người có thể luận ra cách thực hiện đơn hàng này,” bà nói. “Vợ của vị khách này là một nhà vi trùng học và ông ấy muốn gây ngạc nhiên cho cô ấy và phòng nghiên cứu của cô.”

        “Tôi sẽ thực hiện vài nghiên cứu,” y nói, nhận lấy tờ giấy từ tay bà, và nhận ra tên của vị khách hàng: Harold Stein. Vậy là y, tham khảo ý kiến của CM và Janusz, phải làm ra những chiếc bánh quy có hình như cánh hoa, như cây chùy, như trái dưa chuột, sử dụng những màu kem khác nhau để vẽ ra những tế bào chất và màng tế bào và ribosom và tạo ra những cái râu từ những miếng kẹo cam thảo. Y gõ một danh sách về các chi tiết của mỗi một loại vi khuẩn và gập nó lại vào trong một chiếc hộp trước khi đóng lại và buộc nó lại với với một sợi dây; y không biết rõ Harold lắm, nhưng y thích cái ý tưởng của việc làm một điều gì đó cho ông, gây ấn tượng với ông, dù chỉ là nặc danh đi chăng nữa. Và y thích thú trước cái việc băn khoăn rằng những chiếc bánh quy ấy mang ý nghĩa kỷ niệm gì: Một sự xuất bản sách? Một lễ kỷ niệm ngày cưới? Hay đó chỉ đơn giản là một sự yêu vợ một cách thái quá? Liệu Harold Stein có phải là loại người sẽ xuất hiện ở phòng thí nghiệm của vợ mình với những chiếc bánh quy mà không vì một lý do gì? Y ngờ rằng có lẽ ông là người như vậy.

        Tuần tiếp theo, Harold kể cho y nghe về những chiếc bánh quy tuyệt vời mà ông đặt làm ở tiệm Batter. Sự hào hứng của ông, mà chỉ mới vài giờ trước được đặt vào Bộ luật Thương mại Thống nhất[2] ở trên lớp học, đã tìm thấy một chủ đề mới với những chiếc bánh quy. Y ngồi đó, cắn phần lợi trong má mình để khỏi cười, nghe Harold nói rằng chúng tuyệt vời ra sao và cả phòng thí nghiệm của Julia đã ngỡ ngàng đến mức không nói nổi lời nào trước sự chi tiết và rất thật của chúng, và làm thế nào mà ông, nói chung, đã trở thành người hùng của phòng thí nghiệm: “Việc thân cận với những con người ấy chẳng dễ dàng gì, nhân tiện, đó là những kẻ thầm cho rằng tất cả những ai có dính líu tới nhân loại đều ngu ngốc sao đó.”  

        “Nghe như thể những chiếc bánh quy ấy được làm bởi một kẻ bị ám ảnh thật sự,” y nhận xét. Y không hề kể với Harold rằng y làm việc ở tiệm Batter, và cũng không định như vậy.

        “Vậy thì đó là một kẻ ám ảnh mà ta muốn gặp,” Harold nói. “Mà chúng ngon lắm nhé.”

        “Ừm,” y nói, và nghĩ về một câu hỏi để hỏi Harold để ông không tiếp tục nói về những chiếc bánh quy nữa.  

        Dĩ nhiên là, Harold cũng có cả những trợ lý nghiên cứu khác nữa — những sinh viên năm hai và năm ba mà y chỉ mới trông thấy — nhưng vì họ có thời gian biểu khác nhau nên chẳng bao giờ gặp gỡ. Đôi khi họ trao đổi với nhau qua những tờ giấy nhắn hoặc e-mail, giải thích về những gì họ để lại trong nghiên cứu của mình để người tiếp theo có thể nắm bắt và tiếp tục công việc. Nhưng vào học kỳ thứ hai của năm học thứ nhất của y, Harold chỉ định y làm việc một mình với tu chính án thứ năm. “Đó là một điều khoản rất hay,” ông nói. “Cực kỳ quyến rũ.” Hai trợ lý năm hai được phân công tu chính án thứ chín và cậu sinh viên năm ba, với tu chính án thứ mười, và dù y biết rằng thật sự rất lố bịch, y không thể nào không cảm thấy tự hào, như thể y được trao cho phần việc không dành cho những người khác.  

        Lời mời đầu tiên tới nhà Harold ăn tối được đưa ra hoàn toàn ngẫu nhiên, vào cuối một buổi chiều lạnh và âm u của tháng Ba. “Thầy có chắc không?” y hỏi, ngập ngừng.

        Harold nhìn y, tò mò. “Tất nhiên,” ông nói. “Chỉ là một bữa tối thôi. Trò cũng phải ăn mà, đúng không?”

        Harold sống trong một ngôi nhà ba tầng ở Cambridge, ở bên rìa của khuôn viên trường đại học. “Em không biết là thầy sống ở đây,” y nói, khi Harold lái xe vào khu nhà. “Đây là một trong những con phố mà em yêu thích nhất. Em thường xuống đây mỗi ngày để đi tắt qua các khu nhà khác.”

        “Trò và tất cả những đứa khác,” Harold trả lời. “Ta mua nó ngay trước khi ly dị, tất cả những ngôi nhà này đều chật ních những sinh viên cao học; tất cả các cửa chớp đều đã rơi mất. Mùi nấu nướng quá nồng nặc khiến trò có thể hóa đá mỗi khi lái xe ngang qua.”  

        Tuyết đang rơi, nhè nhẹ, nhưng y thấy may mắn vì chỉ có hai bậc thang dẫn lên cánh cửa ra vào, và rằng y không cần phải thấy lo lắng về việc sẽ trượt trân hay cần tới sự giúp đỡ của Harold. Bên trong, ngôi nhà có mùi của bơ và tiêu và tinh bột: mì ống, y nghĩ. Harold thả chiếc cặp của mình xuống sàn nhà và đưa y đi thăm quan quanh nhà — “Phòng khách; phòng làm việc ở phía sau; phòng bếp và phòng ăn ở bên tay trái trò” — và y gặp Julia, người cũng cao như Harold, với mái tóc ngắn màu nâu, và y thấy thích ngay lập tức.

       

        “Jude!” bà chào. “Cuối cùng cũng được gặp! Cô được nghe nói rất nhiều về em; cô rất vui vì cuối cùng ta cũng được gặp nhau.” Nó nghe như, y nghĩ, bà thực sự muốn vậy.

        Trong bữa tối, họ nói chuyện. Julia đến từ một gia đình tri thức ở Oxford và sống ở Mỹ kể từ khi làm nghiên cứu sinh tại Standford; bà và Harold gặp nhau vào năm năm trước qua một người bạn. Phòng nghiên cứu của bà đang nghiên cứu một loại virus mới là biến thể của H5N1 và họ đang cố gắng ghi lại bản đồ gen của nó.

        “Chẳng phải là một trong những mối lo lắng về vi trùng học là nó có thể trở thành một thứ vũ khí nguy hiểm với những bộ gen này hay sao ạ?” y hỏi, và cảm thấy, hơn là nhìn thấy, Harold quay sang nhìn y.

        “Đúng vậy,” Julia nói, và khi bà giải thích với y về những cuộc tranh luận xunh quanh công việc của mình và các đồng nghiệp, y liếc mắt nhìn Harold, người đang quan sát y, và nhướn mày lên với y trong một cử chỉ mà y không giải nghĩa được.

        Nhưng rồi cuộc trò chuyện thay đổi, và y có thể thấy cuộc thảo luận từ từ chuyển từ phòng thí nghiệm của Julia sang y, có thể thấy Harold là một người tranh tụng tốt đến nhường nào nếu như ông thực sự muốn vậy, có thể nhìn thấy kỹ năng của ông trong việc điều hướng và thay đổi chiến lược, như thể cuộc trò chuyện của họ là một thứ chất lỏng, và ông có thể dẫn nó qua những ống nước và máng xối, xóa bỏ bất cứ lựa chọn nào về việc trốn thoát, cho tới khi nó chạm tới cái kết cục không thể tránh khỏi.   

        “Vậy, Jude này,” Julia hỏi, “em lớn lên ở đâu?”

        “Phần lớn là Nam Dakota và Montana ạ,” y trả lời, và y có thể cảm thấy sinh vật bên trong cơ thể y ngồi dậy, cảm nhận được sự nguy hiểm nhưng không thể thoát ra.

        “Vậy cha mẹ trò là những người chủ trại nuôi gia súc à?” Harold hỏi.

        Y đã học được trong nhiều năm để dự đoán những chuỗi câu hỏi này, và làm thế nào để đánh lạc hướng. “Không ạ,” y nói, “nhưng rất nhiều người đều làm vậy, dĩ nhiên. Phong cảnh ở đó đẹp lắm; thầy đã bao giờ đến miền Tây chưa?”

        Thường thì, như vậy là đủ, nhưng điều ấy không đúng với Harold. “Ha!” ông thốt lên. “Đây là sự đánh lạc hướng có kỹ năng nhất mà tôi được nghe trong suốt thời gian qua.” Harold nhìn vào y, đủ lâu để cuối cùng y nhìn xuống chiếc đĩa của mình. “Ta đoán rằng đó là phương thức nói chuyện của trò khi trò không muốn nói với chúng ta về công việc của họ.”  

        “Ôi, Harold, để cho cậu ấy yên,” Julia nói, nhưng y có thể cảm thấy Harold đang nhìn mình, và thấy nhẹ nhõm khi bữa tối cuối cùng cũng kết thúc.

        Sau đêm đầu tiên tại nhà Harold, mối quan hệ của họ trở nên sâu sắc và khó khăn hơn. Y cảm thấy y đã đánh thức sự tò mò trong lòng Harold, mà y hình dung như là một con chó có đôi mắt sáng, đang vểnh tai — một con chó sục, một sinh vật luôn hoạt động và nhạy bén — và không chắc rằng liệu đó có phải là một chuyện tốt hay không. Y muốn biết về Harold nhiều hơn, nhưng bữa tối hôm đó đã nhắc nhở y rằng cái quá trình ấy — rằng việc tìm hiểu về một ai đó — vẫn luôn khó khăn hơn nhiều so với những gì y nhớ. Y vẫn luôn quên; y luôn buộc phải nhớ ra. Y ước gì, như y vẫn thường làm vậy, rằng toàn bộ những điều này — việc bộc lộ về sự riêng tư, việc tìm hiểu về quá khứ — có thể trôi qua thật nhanh, và rằng y có thể đơn giản di chuyển bằng siêu năng lực tới bước tiếp theo, nơi mà mối quan hệ là một thứ gì đó nhẹ nhàng và mềm mại và thoải mái, nơi mà giới hạn của cả hai phía đều được thấu hiểu và tôn trọng.

        Những người khác có thể thực hiện thêm một vài cố gắng nữa để dò hỏi y và rồi để cho y được yên — những người khác đã để y được yên: bạn bè y, bạn học của y, các giáo sư của y — nhưng mà Harold không dễ dàng bị thuyết phục như thế. Ngay cả những chiến lược thông thường của y — trước họ, nói với những người đối thoại với mình rằng y muốn nghe về cuộc đời của họ, chứ không phải về cuộc đời y: một chiến thuật có lợi ích của việc tỏ ra chân thành và cũng thật hiệu quả — không thể áp dụng được với Harold. Y không bao giờ biết khi nào thì Harold tấn công bất ngờ, nhưng bất kỳ khi nào ông làm vậy, y đều không có được sự chuẩn bị trước, và y cảm thấy mình ngày càng trở nên lo lắng hơn, không phải là ít hơn, khi mà họ càng ở bên nhau nhiều hơn.

        Họ sẽ ở trong văn phòng của Harold, nói về một điều gì đó — sự phê chuẩn về việc vụ án ở trường Đại học Virginia sẽ được đưa lên Tòa án tối cao, như là một ví dụ — và Harold sẽ hỏi, “Nguồn gốc dân tộc của trò là gì, hả Jude?”

        “Nhiều lắm ạ,” y sẽ trả lời như vậy, và rồi cố gắng thay đổi chủ đề, thậm chí là nếu điều đó có nghĩa là làm rơi một chồng sách để làm dịch chuyển sự chú ý của Harold.

        Nhưng đôi khi các câu hỏi không hề có ngữ cảnh và hoàn toàn ngẫu nhiên, và khi đó chúng không thể dự đoán được, như thể chúng được thốt ra mà không có lời mở dầu. Một tối nọ y và Harold ngồi ở trong văn phòng, làm việc muộn, và Harold gọi bữa tối cho họ. Với món tráng miệng, họ có bánh quy và bánh sô-cô-la hạnh nhân, và ông đẩy chiếc túi giấy về phía y.

        “Không, cảm ơn,” y nói.

        “Thật á?” Harold hỏi, nhướn mày. “Con trai ta thích mấy thứ này lắm. Chúng ta từng cố gắng nướng chúng cho thằng bé ở nhà, nhưng chúng ta không tìm được công thức phù hợp.” Ông bẻ chiếc bánh sô-cô-la hạnh nhân ra làm hai. “Cha mẹ trò có hay nướng chúng cho trò khi trò còn bé không?” Y sẽ trả lời những câu hỏi này một cách tự nhiên có chủ ý mà y cảm thấy gần như không thể chịu nổi. 

        “Không ạ,” y nói, vờ như đang xem lại một vài ghi chú mà y vừa thực hiện.

        Y nghe tiếng Harold nhai và, y biết, cân nhắc xem nên rút lui hay tiếp tục với chuỗi câu hỏi của mình.

        “Trò có hay gặp cha mẹ mình không?” Harold hỏi y, bất ngờ, vào một tối khác.

        “Họ chết rồi,” y trả lời, dán mắt vào trang giấy.

        “Ta rất tiếc, Jude,” Harold nói sau một lúc im lặng, và sự chân thành trong giọng nói của ông khiến y ngẩng đầu lên. “Cả cha mẹ ta cũng vậy. Mới đây thôi. Dĩ nhiên, là ta già hơn trò nhiều.”

        “Em rất tiếc, thầy Harold,” y nói. Và rồi, y đoán, “Thầy rất thân thiết với họ.”

        “Đúng vậy,” Harold trả lời. “Rất thân thiết. Thế còn trò thì sao?”

        Y lắc đầu. “Không, không hẳn ạ.”

        Harold im lặng. “Nhưng ta cá là họ rất tự hào về trò,” cuối cùng, ông nói.

        Mỗi khi Harold hỏi y những câu hỏi về bản thân y, y luôn cảm thấy có gì đó lạnh lẽo di chuyển trong y, như thể y đã bị đóng băng từ bên trong vậy, nội tạng và các dây thần kinh của y được bảo vệ bởi một lớp băng. Mặc dù vậy, vào thời điểm đó, y nghĩ rằng y có thể phá vỡ chúng, rằng nếu như y nói ra bất cứ điều gì thì lớp băng sẽ vỡ ra và y sẽ nứt ra và vỡ vụn. Vì thế y đợi cho tới khi y biết rằng giọng y nghe sẽ thật bình thường trước khi y hỏi Harold rằng liệu ông muốn tìm các bài báo còn lại ngay bây giờ hay y nên làm điều đó vào buổi sáng. Dù vậy, y không nhìn vào Harold, và chỉ nói với quyển sổ của mình.

        Rất lâu Harold mới trả lời. “Để mai đi,” Harold nói, lặng lẽ và y gật đầu, và thu thập các vật dụng của mình để về nhà, nhận thấy ánh mắt của Harold dõi theo khi y lảo đảo bước ra tới cửa. 

        Harold muốn biết y đã được nuôi dạy như thế nào, và liệu y có anh chị em nào hay không, bạn của y là ai, và y đã làm những gì cùng với họ: ông hau háu với các tin tức về y. Ít nhất y cũng có thể trả lời những câu hỏi cuối, và y kể cho ông nghe về những người bạn của mình, và họ đã gặp nhau ra sao, và họ đang ở đâu: Malcolm ở trường cao học Columbia, JB và Willem ở Yale. Y thích trả lời những câu hỏi của Harold về họ, thích được nói về họ, thích được nghe tiếng Harold cười khi y kể cho ông nghe những câu chuyện về họ. Y kể với ông về CM, và việc Santosh và Federico gần như lao vào đánh nhau với cậu sinh viên ngành cơ khí sống ở khu nhà của hội nam sinh ngay kế bên nhà bọn họ, và về một buổi sáng nọ y bị đánh thức bởi tiếng kêu o o của hạm đội khinh khí cầu tự chế từ bao cao su được điều khiển bằng tay bay qua khung cửa sổ phòng y, lên trên tầng bốn, mỗi chiếc được treo một tấm biển với dòng chữ SANTOSH JAIN VÀ FEDERICO DE LUCA CÓ CHIM NHỎ XÍU.

        Nhưng khi Harold hỏi về những điều khác, y cảm thấy nghẹt thở bởi gánh nặng và sự thường xuyên và việc không thể tránh khỏi. Và đôi khi bầu không khí nóng lên với những câu hỏi mà Harold không hề hỏi y nhưng nó ngột ngạt đến mức như thể ông đã thực sự hỏi. Con người ta muốn biết quá nhiều, họ muốn có quá nhiều những câu trả lời. Và y hiểu được điều đó, thực sự — cả y nữa, cũng muốn những câu trả lời; cả y nữa cũng muốn biết về tất cả mọi điều. Rồi, y cảm thấy biết ơn, vì các bạn y, và về việc họ khai thác tương đối ít thông tin về y ra sao, về việc họ đã để cho y được yên với chính mình, một đồng cỏ trống trải, vô vị bên dưới bề mặt màu vàng của lũ giun và bọ cánh cứng đang ngoe nguẩy trong lớp đất màu đen, và những mẩu xương vôi hóa từ từ biến thành đá.

        “Thầy có vẻ quan tâm tới chuyện này quá nhỉ,” y bật lại Harold vào một lần nọ, tuyệt vọng, khi mà Harold hỏi y rằng liệu y có đang hẹn hò với ai hay không, và rồi, khi nghe thấy giọng của mìn, y dừng lại và xin lỗi. Khi ấy họ đã biết nhau được khoảng một năm.

        “Điều này á?” Harold hỏi, bỏ qua lời xin lỗi. “Ta quan tâm tới trò thôi. Ta thấy chẳng có gì là kỳ quặc ở đây cả. Đây là điều mà những người bạn vẫn nói với nhau.”  

        Và bất chấp sự khó chịu của y, y vẫn tiếp tục gặp gỡ Harold, vẫn tiếp tục chấp nhận những lời mời ăn tối của ông, mặc dù ở một điểm nào đó trong mọi cuộc hội ngộ đều có những thời điểm mà y ước gì được biến mất, hay y lo rằng mình rồi sẽ phải biến mất.

        Một tối nọ y ghé nhà Harold ăn tối và được giới thiệu với người bạn tốt nhất của Harold, Laurence, người mà y từng gặp ở trường luật và người hiện là thẩm phán của tòa án phúc thẩm ở Boston, và vợ ông, Gillian, người dạy Anh ngữ tại trường Simmons. “Jude,” Laurence nói, với chất giọng còn trầm hơn cả giọng của Harold, “Harold kể với tôi rằng cậu cũng đang theo chương trình cao học ở MIT. Chuyên ngành nào thế?”

        “Toán học thuần túy ạ,” y trả lời.

        “Nó có gì khác với” — bà bật cười — “toán học thông thường?” Gillian hỏi.

        “À, toán học thông thường, hay toán học ứng dụng, là thứ mà cháu đoán là cô sẽ gọi là toán học thực tế,” y nói. Nó được sử dụng để giải quyết các vấn đề, để đưa ra các giải pháp, dù là trong một lĩnh vực kinh tế, hay trong kỹ thuật, hay trong kế toán, hay bất cứ lĩnh vực nào. Nhưng toán học thuần túy không tồn tại để đưa ra những ứng dụng thực tế ngay lập tức, hay nhất thiết phải rõ ràng. Nó thuần túy là sự diễn tả của dạng thức, nếu như mà cô muốn – thứ duy nhất mà nó chứng minh là sự co giãn gần như vô tận của bản thân toán học, trong phạm vi của những giả thiết mà ta đặt ra cho nó, dĩ nhiên là vậy.” 

        “Ý cậu là hình học không gian, hay những thứ như vậy ấy hả?” Laurence hỏi.

        “Vâng, có thể là vậy. Nhưng không chỉ có thế thôi đâu. Thường thì, đó chỉ là bằng chứng về — về sự bất khả thi nhưng vẫn nhất quán của logic nội tại trong toán học. Có đủ loại phân hệ trong toán học thuần túy: toán học thuần túy hình học, như thầy nói, nhưng còn có cả toán đại số, thuật toán, mật mã, lý thuyết thông tin, và logic thuần túy, là thứ mà em đang theo học.”    

        “Đó là gì?” Laurence hỏi.

        Y suy nghĩ một lúc. “Logic toán học, hay logic thuần túy, về cơ bản là cuộc đối thoại giữa đúng và sai. Ví dụ như, em có thể nói với thầy là ‘Mọi số dương đều là số thực. Hai là một số dương. Vì thế, số hai phải là số thực.’ Nhưng điều này không thật sự đúng, đúng không ạ? Đó là một sự kết luận, một giả định về sự thật. Em chưa thật sự chứng minh rằng số hai là một số thực, nhưng nó hẳn phải đúng về mặt logic. Vì thế thầy sẽ viết ra bằng chứng, về bản chất, chứng minh tính logic của hai câu nói này thực ra là đúng, và có thể được áp dụng vô hạn.” Y dừng lại. “Như thế có dễ hiểu không ạ.”

        “Video, ergo est,” bỗng nhiên Laurence nói. Tôi thấy được nó, có nghĩa là nó tồn tại.

        Y mỉm cười. “Và đó chính xác là môn toán học ứng dụng. Nhưng toán học thuần túy còn hơn cả vậy” — y lại suy nghĩ — “Imaginor, ergo est[3].”

        Laurence mỉm cười với y và gật đầu. “Rất tốt,” ông nói.

        “Ô, tôi có một câu hỏi,” Harold nói, người vẫn yên lặng, lắng nghe họ. “Tại sao và làm thế quái nào mà trò lại đâm ra học luật vậy?”

        Mọi người bật cười, và cả y nữa, cũng vậy. Y vẫn thường được nghe thấy câu hỏi này (bởi Tiến sĩ Li, đầy chán nản; bởi người thầy hướng dẫn luận văn cao học của y, Tiến sĩ Kashen, đầy bối rối), và y vẫn luôn thay đổi câu trả lời cho phù hợp với người nghe, với câu trả lời thực sự — rằng y muốn có được phương tiện để bảo vệ chính mình; rằng y muốn đảm bảo rằng không một ai có thể chạm tới y được nữa — dường như là một lý do quá ích kỷ và nông cạn và nhỏ nhen để có thể nói ra (và sẽ dẫn đến một loạt các câu hỏi tiếp sau đó). Ngoài ra, giờ đây y cũng đủ biết rằng luật pháp là một thứ bảo vệ mỏng manh: nếu như y thực sự muốn được an toàn, y đáng lý ra nên trở thành một tay thiện xạ nheo mắt nhìn vào ống ngắm bắn, hoặc một nhà hóa học trong phòng thí nghiệm với những cái ống nghiệm và các chất độc.

        Tối đó, mặc dù vậy, y trả lời, “Nhưng thực ra luật không phải là hoàn toàn khác xa so với toán học thuần túy, thực ra — ý của em là, cả nó nữa về mặt lý thuyết cũng có thể đưa ra câu trả lời cho mọi câu hỏi, đúng không ạ? Luật của bất cứ điều gì cũng có nghĩa là để xiết chặt, và kéo giãn ra, và nếu như chúng không thể mang đến những giải pháp cho mọi vấn đề mà chúng được xem là bao trùm, vậy thì chúng thực sự không phải là luật, đúng không ạ?” Y dừng lại để xem xét những gì mình vừa mới nói. “Em cho là sự khác biệt nằm ở chỗ trong luật pháp, có rất nhiều con đường để đến được với nhiều câu trả lời, và trong toán học, có nhiều con đường để tiến đến một câu trả lời duy nhất. Và đồng thời, em nghĩ, rằng luật pháp không hẳn là về sự thật: mà nó liên quan đến sự cai quản. Nhưng toán học không cần thiết phải trở nên thuận tiện, hay thực tế, hay có thể quản lý được — nó chỉ cần đúng mà thôi.

        “Nhưng em cho rằng còn một điểm tương đồng khác giữa chúng là trong toán học, cũng như trong luật pháp, điều quan trọng hơn cả — hay, chính xác hơn, điều đáng nhớ đến hơn cả — không phải là một vụ án, hay bài toán, đã giành được phần thắng hay tìm được lời giải, mà là nằm ở cái nét đẹp, là tính kinh tế, mà nó được thực hiện.”

        “Ý của trò là gì?” Harold hỏi.

        “Vâng,” y trả lời, “trong luật pháp, chúng ta nói về một bản kết luận đẹp, hay một lời tuyên án đẹp: và điều mà ta thực sự ám chỉ ở đây, dĩ nhiên, là sự đáng yêu không chỉ nằm ở trong logic của nó mà còn cả ở trong sự diễn đạt nữa. Và cũng tương tự, trong toán học, khi mà ta nói về một lời giải hay, điều mà ta nhận ra là sự đơn giản của lời giải đó, sự mộc mạc … của nó, theo em: là tính chắc chắn của nó.”  

        “Thế còn về định lý cuối của Fermat[4] thì sao?” Julia hỏi.

       

        “Đấy là một ví dụ hoàn hảo về một lời giải không đẹp. Bởi vì mặc dù quả thật là nó đã được giải, thực vậy, nhưng với nhiều người — chẳng hạn như là giáo sư hướng dẫn của em — thì đó là cả một sự thất vọng. Lời giải dài đến hàng trăm trang giấy, và được rút ra từ nhiều lĩnh vực khác nhau của toán học, và nó thật sự — như tra tấn, rời rạc, thực vậy, trong quá trình thực hiện, mà hiện vẫn có nhiều người đang cố gắng chứng minh nó theo cách ngắn gọn hơn, cho dù nó đã được giải rồi. Một lời giải đẹp phải thật ngắn gọn, như một điều luật đẹp. Nó phải kết hợp chỉ một vài khái niệm khác nhau, dẫu được rút ra từ trong cả một vũ trụ toán học, và trong một vài bước ngắn gọn, dẫn tới một chân lý mới và tổng quát trong toán học: đó là, hoàn toàn có thể chứng minh được, tuyệt đối không thể lung lay trong một thế giới được xây dựng với chỉ một vài sự tuyệt đối không thể lay chuyển.” Y dừng lại để lấy hơi, đột ngột, rồi y cứ nói và nói tiếp, và rằng những người khác im lặng, quan sát y. Y có thể cảm thấy mình đỏ mặt, có thể cảm thấy sự chán ghét xưa cũ một lần nữa lấp đầy trong y như một thứ nước bẩn. “Em xin lỗi,” y nói. “Em xin lỗi. Em không cố ý luyên thuyên nhiều như vậy.”  

        “Cậu đùa đấy à?” Laurence nói. “Jude này, tôi nghĩ rằng đây là cuộc nói chuyện thực sự khai mở đầu tiên mà tôi có được trong ngôi nhà của Harold cả chục năm qua: cảm ơn cậu.”

        Mọi người lại bật cười, và Harold dựa lưng vào cái ghế của mình, nom có vẻ hài lòng. “Thấy chưa?” y bắt gặp Harold đang nói thầm với Laurence từ phía bên kia bàn, và Laurence gật đầu, và y hiểu rằng điều này có nghĩa là về y, và có đôi phần hãnh diện về bản thân mình, và cả ngượng ngùng nữa. Liệu Harold có kể về y với bạn bè của ông hay không? Đây có phải là một bài kiểm tra dành cho y hay không, một bài kiểm tra mà y không biết rằng mình cần phải thực hiện? Y thấy nhẹ nhõm vì đã qua được nó, và rằng y đã không làm cho Harold phải xấu hổ, và cũng nhẹ nhõm bởi vì, dù không thoải mái như đôi khi y vẫn thấy, y có lẽ đã kiếm được một chỗ trong ngôi nhà của Harold, và có lẽ y sẽ được mời quay trở lại.

        Từng ngày qua y lại tin tưởng Harold thêm một chút, và đôi khi y lo lắng rằng liệu y có phạm phải cùng một sai lầm lần nữa hay không. Liệu y nên tin tưởng hay nên đề phòng thì tốt hơn? Liệu anh có thể có được một tình bạn thật sự khi một phần nào đó trong anh luôn trông đợi về sự phản bội? Đôi lúc y cảm thấy như thể mình đang lợi dụng sự hào phóng của Harold, niềm tin của ông vào y, và đôi khi dường như sự thận trọng của y rốt cuộc lại là một lựa chọn khôn ngoan, vì nếu như mọi chuyện kết thúc tồi tệ, thì y chỉ cần phải buộc tội mình thôi. Nhưng thật khó để không tin tưởng Harold: Harold khiến cho điều đó thật khó khăn, và, cũng không kém phần quan trọng, y khiến cho điều đó thật khó khăn với chính mình — y muốn tin vào Harold, y muốn nhượng bộ, y muốn cái sinh vật bên trong y chìm vào một giấc ngủ mà từ đó nó không bao giờ thức dậy nữa.

        Vào một tối muộn trong năm thứ hai của y tại trường luật ở nhà của Harold, và khi họ mở cửa ra, những bậc thang, con phố, những tán cây phủ đầy tuyết, và những bông tuyết xoáy tròn bên khung cửa, nhanh đến mức họ phải bước lùi lại.

        “Em sẽ gọi taxi,” y nói, để Harold khỏi phải đưa y về nhà.

        “Không đâu,” Harold nói. “Trò sẽ ở lại đây.”

        Và vì thế y ngủ lại trong căn phòng ngủ dự phòng của Harold và Julia trên tầng hai, tách biệt với phòng của họ bởi một khung cửa sổ lớn mà họ sử dụng như một thư viện, và một hành lang ngắn. “Đây là áo phông,” Harold nói, đưa cho y một thứ gì đó màu xám và mềm mại, “và đây là bàn chải.” Ông đặt nó trên giá sách. “Có khăn tắm ở trong nhà vệ sinh. Trò còn cần gì nữa không? Nước?”

        “Không ạ,” y nói. “Cảm ơn thầy, Harold.”

        “Không có gì đâu, Jude ạ. Chúc ngủ ngon.”

        “Chúc ngủ ngon.”

        Y trằn trọc một lúc lâu, chiếc chăn lông vũ bao lấy y, tấm đệm bằng vải nhung lông bên dưới y, ngắm nhìn ô cửa sổ chuyển sang màu trắng, và lắng nghe tiếng nước kêu lên òng ọc từ đường ống nước, và tiếng nói chuyện thì thầm, không thể phân biệt rõ của Harold hay của Julia, và người này hoặc người kia bước khẽ khàng từ chỗ này sang chỗ kia, và rồi, cuối cùng, không gì cả. Trong những phút đó, y giả vờ như thể họ là cha mẹ của y, và y đang về nhà thăm họ vào cuối tuần từ trường luật, và đây là phòng y, và ngày hôm sau y sẽ thức dậy và làm bất cứ điều gì mà một người con trưởng thành sẽ làm cùng cha mẹ mình. 

        Vào mùa hè sau năm học thứ hai, Harold mời y tới chơi nhà của họ ở Truro, trên Cape Cod[5]. “Trò sẽ thích nơi đó,” ông nói. “Hãy mời cả các bạn của trò nữa. Họ cũng sẽ thích chỗ đó.” Và vì thế vào ngày thứ Năm trước ngày Lễ lao động[6], khi chương trình thực tập của y và Malcolm kết thúc, bọn họ đều lái xe đến ngôi nhà ở New York, và trong kỳ nghỉ dài cuối tuần đó, sự quan tâm của Harold chuyển sang JB và Malcolm và Willem. Y nhìn họ, ngưỡng mộ cái cách mà họ có thể trả lời mọi câu hỏi mà Harold đưa ra, về việc họ rộng lượng ra sao với cuộc đời mình, làm thế nào mà họ có thể kể ra những câu chuyện về bản thân và tự cười nhạo chính mình và cũng khiến cho Harold và Julia phải bật cười, rằng họ thoải mái ra sao khi ở bên Harold và về việc Harold thoải mái ra sao khi ở bên họ. Y trải nghiệm thứ niềm vui của việc ngắm nhìn những con người mà y yêu quý xây dựng hảo cảm với người khác mà y yêu quý. Ngôi nhà có một lối đi xuống một bãi biển riêng, và vào các buổi sáng bốn người bọn họ sẽ đi xuống đồi và bơi — cả y cũng làm vậy, với quần và may ô và chiếc áo sơ mi Oxford cũ, mà chẳng ai làm phiền y về điều đó — và rồi nằm xuống bên bờ cát, quần áo ướt rời khỏi thân thể y khi chúng khô đi. Đôi khi Harold sẽ tới và quan sát họ, hoặc cũng có thể là bơi cùng họ. Vào các buổi chiều, Malcolm và JB sẽ đạp xe đạp qua những đụn cát, và y và Willem sẽ đi bộ theo họ, nhặt lên những chiếc vỏ cứng và những cái mai buồn thảm của những con cua trôi dạt vào bờ đã bị bào mòn từ lâu khi họ đi qua, Willem bước đi chạm chạp để phù hợp với tốc độ của y. Vào các buổi tối, khi khí trời mát dịu, JB và Malcolm sẽ vẽ và y và Willem đọc. Họ cảm thấy như đang say, say ánh mặt trời và thức ăn và muối biển và trạng thái mãn nguyện, và vào ban đêm y thiếp đi nhanh chóng và từ rất sớm, và vào buổi sáng y thức dậy trước những người khác để mà y có thể đứng một mình ở hiên sau nhà và nhìn ra biển.  

        Có gì đang xảy ra với tôi thế? y hỏi đại dương. Điều gì đang diễn ra với tôi thế này?

        Kỳ nghỉ kết thúc và học kỳ mùa thu bắt đầu, và y không mất nhiều thời gian để nhận ra rằng trong dịp cuối tuần đó, một trong những người bạn của y hẳn đã nói điều gì đó với Harold, mặc dù y không chắc chắn rằng đó không phải là Willem, là người duy nhất mà y cuối cùng cũng tiết lộ đôi điều về quá khứ của y — và dù là vậy, cũng chẳng nhiều nhặn gì: ba điều tất thảy, điều này lại ít ỏi hơn điều kia, tất cả đều là những sự thật vô nghĩa, tất cả khi kết hợp lại còn chẳng đủ để tạo ra phần mở đầu của một câu chuyện. Ngay cả câu đầu tiên của một câu chuyện cổ tích cũng mang nhiều chi tiết hơn so với những gì mà y kể với Willem: Ngày xửa ngày xưa, một cậu bé và một cô bé sống cùng với cha, một bác tiều phu, và mẹ kế của họ, ở sâu trong một khu rừng lạnh lẽo. Bác tiều phu rất yêu các con mình, nhưng bác nghèo lắm, vì thế mà vào một ngày nọ … Vì thế mà bất kỳ điều gì Harold nghe được chỉ là sự suy đoán, được củng cố thêm bởi sự quan sát của họ về y, bởi những lý thuyết và phỏng đoán và tưởng tượng của họ. Nhưng dù đó có là gì, như thế cũng đủ để khiến những câu hỏi mà Harold đưa ra cho y — về việc y từng là ai và y đến từ đâu — dừng lại.

        Khi các tháng và các năm qua đi, họ đã phát triển một thứ tình bạn mà tại đó mười lăm năm đầu tiên của cuộc đời y không hề được nhắc đến và tiết lộ, như thể chúng chưa từng bao giờ xảy ra vậy, như thể y vừa mới được lấy ra khỏi chiếc hộp của nhà sản xuất lúc y vào đại học vậy, và một cái công tắc nằm trên gáy của y mới vừa được bật lên, và y sống dậy. Y biết rằng những năm tháng trống rỗng ấy đã được lấp đầy bởi trí tưởng tượng của Harold, và rằng một vài điều tưởng tượng còn tệ hơn cả những gì đã thực sự diễn ra, và một số thì tốt đẹp hơn. Nhưng Harold không bao giờ nói với y về những gì mà ông nghĩ về y, và thực sự thì y cũng chẳng muốn biết.

       

        Y chưa bao giờ xem xét tình bạn của họ ở khía cạnh bối cảnh, nhưng y đã chuẩn bị sẵn sàng trước khả năng Harold và Julia làm như vậy. Và vì thế mà khi y chuyển tới Washington để làm thư ký, y cho rằng họ sẽ quên mất y, và y cố gắng tự chuẩn bị cho mất mát ấy. Nhưng điều đó đã không xảy ra. Thay vì vậy, họ gửi e-mail, và gọi điện, và khi một trong hai người có mặt ở thành phố, họ sẽ cùng ăn tối. Và vào các mùa hè, y và các bạn của mình đến thăm Truro, và vào kỳ nghỉ lễ Tạ ơn, họ đến Cambridge. Và khi y chuyển tới New York hai năm sau đó để bắt đầu công việc tại Văn phòng Luật sư Hoa Kỳ, Harold gần như đặc biệt vui mừng vì y. Họ thậm chí còn đề nghị để cho y ở căn hộ của họ ở khu Upper West Side, nhưng y biết rằng họ sử dụng nó rất thường xuyên, và vì y không chắc lắm về sự chân thành trong lời đề nghị của họ, nên y đã từ chối.

        Vào mỗi thứ Bảy, Harold sẽ gọi cho y và hỏi y về công việc, và y sẽ kể cho ông nghe về sếp của mình, Marshall, phó chánh văn phòng, người có cái khả năng đáng sợ khi có thể đọc lại toàn bộ quyết định của Tào án Tối cao từ trí nhớ, nhắm mắt lại để gợi lên hình ảnh của một trang giấy trong tâm trí mình, giọng của ông trở nên đều đều như robot và tẻ ngắt khi ông đọc to lên, nhưng chẳng bao giờ thêm hay bớt lấy một từ. Y vẫn luôn nghĩ rằng mình có một trí nhớ tốt, nhưng trí nhớ của Marshall đã khiến y phải kinh ngạc.

        Theo cách nào đó, Văn phòng Luật sư Hoa Kỳ gợi cho y nhớ về trại mồ côi: đa phần toàn đàn ông, và nơi ấy diễn ra sự đối đầu đặc biệt và liên tục, những tiếng rít đầy gay gắt thường vang lên một cách tự nhiên vào bất cứ khi nào một nhóm những người có tính cạnh tranh cao mà thực sự cạnh tranh với nhau như ở trong trại trẻ mồ côi tụ tập lại trong cùng một khong gian chật hẹp với một sự hiểu biết rằng chỉ có một vài người trong số họ mới có được cái cơ hội để khẳng định bản thân. (Dù vậy, ở đây họ cạnh tranh vì thành tựu; tại trại trẻ mồ côi, họ cạnh tranh bởi vì cái đói, bởi nhu cầu.) Toàn bộ hai trăm con người trong vị trí trợ lý công tố viên, dường như, đang kéo dài thêm năm hay sáu năm học tại trường luật, và hầu như tất cả bọn họ đều đã nghiên cứu luật và thảo luận về các phiên tòa tại những ngôi trường của họ. Y là thành viên trong tổ bốn người thường làm việc với với những vụ án liên quan đến giả mạo cổ phiếu, và y cùng những người đồng đội của mình đều có một điểm riêng nào đó – một bằng cấp, một khí chất – mà họ hy vọng rằng sẽ tôn được mình lên khỏi những người khác: y có bằng thác sĩ tại MIT (mà chẳng một ai bận tâm nhưng ít nhất cũng là một điểm khác biệt) và việc y làm thư ký tòa án lưu động cho Sullivan, là người mà Marshall tỏ ra thân thiện. Citizen, người bạn thân nhất của y tại văn phòng, có bằng luật của trường Cambridge và quá trình làm luật sư biện hộ tòa án tối cao tại London trong hai năm trước khi chuyển tới New York. Và Rhodes, người thứ ba trong nhóm ba người của họ, là người được nhận chương trình học bổng Fulbright ở Argentina sau khi tốt nghiệp đại học. (Người thứ tư trong đội của họ là một anh chàng lười biếng tên Scott, người mà, theo như lời đồn, nhận được công việc này chỉ bởi vì cha của anh ta đã chơi tennis cùng với chủ tịch hội.)  

        Y luôn ở văn phòng, và đôi khi, khi y và Citizen và Rhodes ở lại đó vào tối muộn, ăn đồ ăn gọi mang về, y lại nhớ đến quãng thời gian ở cùng với những người bạn của mình trong khu ký túc xá Hood. Và mặc dù y thích thú với sự bầu bạn của Citizen và Rhodes, và sự đặc biệt và sâu sắc trong trí thông minh của họ, trong những thời điểm ấy y vẫn luôn nhớ đến các bạn mình, những người có suy nghĩ khác hẳn so với y và khiến y cũng nghĩ khác đi. Có một lần đang ngồi nói chuyện với Citizen và Rhodes về logic, y nhớ lại, bỗng nhiên, một câu hỏi mà Tiến sĩ Li đã hỏi y vào năm đầu tiên, khi y thi thi vấn đáp cho một suất hội thảo về toán học thuần túy: Tại sao miệng cống lại có hình tròn? Đó là một câu hỏi dễ, rất dễ để trả lời, nhưng khi y trở về ký túc xá và nhắc lại câu hỏi của Tiến sĩ Li với các bạn của mình, họ đều im lặng. Và rồi cuối cùng JB bắt đầu, trong chất giọng mơ màng của một kẻ chuyên kể chuyện dạo, “Xưa xửa xừa xưa, vào cái thời mà lũ voi ma-mút còn tồn tại trên trái đất này, những bước chân của chúng đã để lại những dấu ấn hình tròn trên mặt đất,” và họ đều phá lên cười. Y mỉm cười, khi nhớ đến nó; y đôi khi ước rằng mình có một tâm trí như là của JB, một đầu óc có thể tạo ra những câu chuyện làm người khác vui vẻ, thay cho cái tâm trí hiện tại của y, mà luôn tìm kiếm sự giải thích, một sự giải thích mặc dù có thể đúng, nhưng lại khô khan, thiếu mất sự lãng mạn, thiếu mất trí tưởng tượng, thiếu mất sự dí dỏm.

        “Đã đến lúc để tỏa sáng,” Citizen thỉnh thoảng sẽ thì thầm với y rằng anh ta sẽ trở thành Luật sư chính thức của cái văn phòng này và tất cả các trợ lý công tố viên sẽ vây quanh anh, như là lũ nhặng, trong những bộ vét xám. Họ và Rhodes sẽ tham dự vào sự mơ mộng ấy, nhưng kể cả trong những lần xúm xít lại với nhau như thế y không bao giờ nhắc đến phẩm chất mà y biết rằng có thể không chỉ khiến cho Marshall mà là cả Văn phòng Luật sư Hoa Kỳ phải dừng lại và nhìn vào y chăm chú hơn. Sau khi y có được công việc này, Harold hỏi y rằng ông có thể giới thiệu y với Adam, luật sư của Văn phòng Luật, có quen biết với Harold từ rất lâu rồi hay không. Nhưng y nói với Harold rằng y muốn biết rằng liệu y có thể tự lực cánh sinh hay không. Điều đó là đúng, nhưng lý do chính xác hơn cả là vì y thấy ngập ngừng khi nêu tên Harold như là một trong những tài sản của y, bởi vì y không muốn Harold phải hối hận về mối liên hệ với y. Và vì thế mà y không nói gì cả.

        Tuy nhiên, thường thì, cảm giác giống như thể Harold dù sao cũng xuất hiện ở đó. Kể về trường luật (và hoạt động đi kèm, khoe khoang về những thành tựu của mình tại đó) là một trong những thú vui của văn phòng, và bởi vì rất nhiều đồng nghiệp của y đều từng học cùng trường với y, chỉ có rất ít người trong số đó biết đến Harold (và những người khác có biết ông ấy), và đôi khi y nghe thấy họ kể về những môn học mà họ học của ông, hay chúng hữu ích như thế nào đối với họ, và sẽ thấy tự hào về Harold, và — dù y biết rằng như thế thật ngớ ngẩn — tự hào về bản thân vì đã quen biết ông. Vào năm tiếp theo, cuốn sách của Harold về Hiến pháp được xuất bản, và mọi người trong văn phòng sẽ đọc lời cảm ơn và nhìn thấy tên y và mối quan hệ của y với Harold sẽ bị phơi bày, và nhiều người trong số họ sẽ nghi ngờ, và y nhìn thấy sự lo lắng trên gương mặt họ khi họ cố nhớ ra những gì mà họ có thể đã nói về Harold khi có mặt y ở đó. Tuy nhiên, vào lúc đó, y cảm thấy y đã củng cố vị trí của mình trong văn phòng, và tìm thấy chỗ đứng của riêng mình bên cạnh Citizen và Rhodes, tự xây dựng mối quan hệ của mình với Marshall.

        Nhưng bất kể y có thích thú đến nhường nào, bất kể y có mong muốn ra sao, y vẫn e ngại về việc tuyên bố Harold là bạn mình: đôi khi y lo lắng rằng y chỉ đang tưởng tượng vê sự thân thiết giữa họ, thổi phòng nó lên một cách đầy hi vọng trong tâm trí mình, và rồi (trong sự xấu hổ của chính bản thân y) y sẽ phải với lấy cuốn sách The Beautiful Promise[7] từ kệ sách và mở ra phần cảm ơn, đọc lại những câu chữ của Harold lần nữa, như thể bản thân nó là một bản hợp đồng, một lời tuyên bố rằng những gì mà y cảm nhận về Harold ít nhất cũng được đáp lại ở một mức độ nào đó. Và rồi y vẫn luôn ở trong tư thế sẵn sàng: Nó sẽ chấm dứt vào tháng này, y sẽ tự nhủ với mình như vậy. Và rồi, vào cuối tháng: Tháng sau. Ông sẽ không muốn nói chuyện với mình vào tháng tới. Y cố gắng cố gắng giữ cho bản thân mình ở trong trạng thái sẵn sàng; y cố gắng chuẩn bị trước khỏi sự thất vọng, dù cho y khao khát được chứng minh rằng mình đã sai lầm bao nhiêu.

        Và dẫu vậy, tình bạn vẫn cứ chảy trôi, đó là một dòng sông dài uốn lượn tình cờ có được y trong dòng chảy của nó và mang y đi, đưa y tới nơi mà y không thể thấy trước. Cứ mỗi lúc y nghĩ rằng y đã tiến tới điểm giới hạn của mối quan hệ của họ, Harold hoặc Julia sẽ mở ra cánh cửa dẫn tới một căn phòng khác và mời y bước vào. Y gặp gỡ cha của Julia, một bác sĩ chuyên khoa phổi đã về hưu, và anh trai của bà, một giáo sư lịch sử nghệ thuật, khi họ tới thăm từ nước Anh trong dịp lễ Tạ ơn, và khi Harold và Julia tới New York, họ đưa y và Willem đi ăn tối, tới những nơi mà hai người bọn họ đã từng nghe đến nhưng không đủ khả năng để tự mình tới đó. Họ đến thăm căn hộ ở phố Lispenard — Julia tế nhị, Harold choáng váng — và vào tuần lễ mà hệ thống sưởi ngưng hoạt động một cách kỳ bí, họ đưa cho y chìa khóa căn hộ của họ ở trên phố, thật ấm áp ngay trong giờ đầu tiên y và Willem bước vào, hai người chỉ đơn giản ngồi xuống chiếc ghế tràng kỷ như là những người nộm, quá ngỡ ngàng trước sự quay trở lại đầy đột ngột của sự ấm áp trong cuộc đời mình để mà có thể chuyển động. Và sau khi Harold nhìn thấy y trải qua một cơn đau — đó là dịp Lễ tạ ơn sau khi y chuyển tới New York, và trong sự tuyệt vọng của y (y biết rằng y không thể lên nổi trên gác), y đã phải tắt bếp, nơi mà y đang xào một ít rau bi-na, và lê mình vào trong phòng để thực phẩm, nơi mà y đóng cửa lại và nằm xuống đất để chờ cho cơn đau qua đi — họ đã bố trí lại căn nhà, để cho lần tới y ghé thăm, y nhận thấy căn phòng ngủ dự phòng đã được chuyển xuống tầng một ở phía sau phòng khách – nơi từng là phòng làm việc của Harold, và cái bàn và cái ghế và những cuốn sách của Harold đã được chuyển lên tầng hai.

        Nhưng thậm chí là sau tất cả những điều này, một phần trong y vẫn luôn chờ đợi cái ngày mà y bước tới cửa và cố gõ lên đó và nó sẽ chẳng mở ra. Y chẳng bận tâm về điều đó, thực vậy; vẫn luôn có cái gì đó đáng sợ và đáng lo lắng về việc ở trong một không gian nơi mà dường như không có gì là cấm kỵ đối với y, nơi mà mọi thứ điều được dành cho y và chẳng buộc y phải đáp lại. Y cố gắng để trao cho họ những gì mà y có thể; y nhận ra rằng chúng chẳng nhiều nhặn gì. Và những gì mà Harold cho y thật dễ dàng — những câu trả lời, sự yêu mến — y chẳng thể đáp lại.

        Vào một ngày sau khi y đã quen biết họ gần bảy năm, y đang ở trong ngôi nhà của họ vào mùa xuân. Đó là ngày sinh nhật của Julia; bà sẽ bước sang tuổi năm mươi mốt, và bởi vì bà đã tham dự hội thảo ở Oslo vào sinh nhật thứ năm mươi của mình, bà quyết định rằng sinh nhật lần này sẽ được tổ chức thật hoành tráng. Y và Harold đang dọn dẹp phòng khách — hay đúng hơn, y đang lau dọn, và Harold lấy ra những cuốn sách từ những ngăn khác nhau của giá sách và kể cho y về việc ông đã có được chúng như thế nào, hay giở trang bìa ra để nhìn tên của những người được viết lên trên đó, bao gồm cả cuốn The Leopard[8] với dòng chữ được viếc trên một trong những trang đầu của cuốn sách: “Thuộc về Laurence V. Raleigh. Không được lấy trộm. Harold Stein, đang nói mi đấy!!”

        Y dọa sẽ mách Laurence, và Harold dọa lại y. “Tốt nhất là trò không nên làm vậy, Jude ạ, nếu như trò biết điều gì là tốt cho mình.”

        “Nếu không thì sao ạ?” y hỏi lại, trêu ông.

        “Nếu không — sẽ là thế này!” Harold nói, và nhảy về xổ vào y, và trước khi y có thể nhận ra rằng Harold chỉ đang đùa thôi, y lùi lại quá nhanh, để tránh khỏi sự tiếp xúc, và y va vào cái giá sách và động đến chiếc cốc sứ mà con trai của Harold, Jacob, làm ra, chiếc cốc rơi xuống sàn và vỡ thành ba mảnh gọn ghẽ. Harold lùi lại sau đó, và rồi tiếp đó là một sự im lặng đột ngột, kinh khủng, khiến y gần như phát khóc.

        “Thầy Harold,” y thốt lên, cúi xuống nền nhà, nhặt những mảnh gốm vỡ. “Em xin lỗi, em xin lỗi. Xin hãy tha thứ cho em.” Y chỉ muốn đánh cho mình một trận; y biết rõ đây là vật cuối cùng mà Jacob làm cho Harold trước khi cậu lâm bệnh. Trên đầu, y chỉ nghe thấy tiếng hít thở của Harold.

        “Thầy Harold, xin hãy tha thứ cho em,” y lặp lại, giữ những mảnh gốm vỡ trong lòng bàn tay. “Em nghĩ là em có thể gắn nó lại, mặc dù – em có thể khiến nó đẹp hơn.” Y không thể nhìn lên khỏi chiếc cốc, khỏi lớp men sáng bóng của nó.

        Y cảm thấy Harold cúi xuống bên y. “Jude,” Harold nói, “không sao đâu. Đấy chỉ là một tai nạn thôi mà.” Giọng ông thật lặng lẽ. “Hãy đưa thầy các mảnh vỡ,” ông nói vậy, nhưng ông thật dịu dàng, và ông không có vẻ gì là giận dữ.

        Y làm theo lời ông. “Em có thể rời đi,” y đề nghị.

        “Dĩ nhiên là trò chẳng đi đâu hết cả,” Harold trả lời. “Không sao đâu, Jude ạ.”

        “Nhưng nó là của Jacob,” y nghe thấy tiếng mình.

        “Ừ,” Harold trả lời. “Và nó vẫn luôn là vậy.” Ông đứng lên. “Nhìn thầy đây, Jude,” ông nói, và cuối cùng y cũng làm vậy. “Không sao mà. Thôi nào,” và Harold chìa tay ra, và y cầm lấy nó, và để cho Harold kéo mình đứng dậy. Y những muốn hét lên, sau đó, vì sau tất cả những gì Harold đã cho y, y lại trả ơn ông bằng việc phá hủy đi thứ quý giá nhất được tạo ra bởi người mà ông trân quý nhất.

        Harold lên phòng làm việc của ông ở trên lầu cùng với chiếc cốc trong tay, và y hoàn thành nốt việc dọn dẹp trong yên lặng, một ngày đáng yêu trở nên xám xịt quanh y. Khi Julia về tới nhà, y chờ đợi Harold kể cho bà nghe về việc y ngu ngốc và vụng về ra sao, nhưng ông không làm vậy. Vào bữa tối hôm đó, Harold vẫn cư xử giống như mọi ngày, nhưng khi y quay trở về phố Lispenard, y viết cho Harold một lá thư thực thụ, đúng chuẩn mực, xin lỗi thích đáng, và gửi nó cho ông.

        Và vài ngày sau, y nhận được hồi âm, cũng dưới dạng một bức thư thực thụ, mà y vẫn giữ cho tới tận cuối đời.

        “Jude thân mến,” Harold viết, “cảm ơn trò vì bức thư đẹp đẽ (mà có lẽ là không cần thiết). Ta trân trọng mọi điều được nhắc tới trong đó. Trò nói đúng; cái cốc đó có ý nghĩa rất lớn đối tới ta. Nhưng trò còn có ý nghĩa nhiều hơn thế. Vì vậy làm ơn đừng tự dằn vặt mình nữa nhé.

        “Nếu như thầy là một loại người khác, thầy sẽ nói rằng toàn bộ chuyện này nhìn chung là một phép ẩn dụ về cuộc đời: có những điều sẽ tan vỡ, và đôi khi chúng sẽ được sửa chữa lại, và trong hầu hết các trường hợp, trò sẽ nhận rằng dù chúng có bị hủy hoại ra sao, cuộc đời tự nó sẽ sắp xếp lại để bù đắp cho sự mất mát của trò, đôi khi theo một cách vô cùng tuyệt vời.

        “Thực ra — có lẽ, suy cho cùng, ta chính là loại người như vậy.”

        “Thương trò, Harold.”

 

***

 


[1] “Ich bin der Welt abhanden gekommen” (tạm dịch: Tôi lạc lối trong thế giới) là bài hát được Gustav Mahler phổ nhạc từ bài thơ cùng tên của nhà thơ người Đức Friedrich Rückert vào mùa hè năm 1902 – 1903. Nhiều người coi “Ich bin der Welt abhanden gekommen” như bài hát vĩ đại nhất của Mahlers, một trong những tác phẩm sâu sắc, cảm động và có ý nghĩa to lớn đối với Mahler. Nghe bài hát: https://www.youtube.com/watch?v=TzJyIWxjX9o

Lời thơ tạm dịch ra tiếng Việt từ bản chuyển ngữ tiếng Anh của Emily Ezust:

Tôi lạc lối trong thế giới

cái nơi mà tôi từng phí hoài rất nhiều thời gian

Suốt một thời gian dài, nó chưa nghe thấy tin tức nào về tôi

và có lẽ nó tin rằng tôi đã chết!

 

Chẳng liên quan gì đến tôi hết

Dù thế gian này có cho rằng tôi đã chết;

Tôi cũng chẳng thể nào chối bỏ,

vì quả thực tôi đã chết trước thế gian này.

 

Tôi đã chết trước sự huyên náo của thế gian này,

Và tôi yên nghỉ ở một nơi tĩnh lặng!

Tôi sống cô độc trong thiên đường của riêng mình,

Trong tình yêu và trong câu hát của riêng tôi!

[2] Bộ luật Thương mại Thống nhất (Uniform Commercial Code – UCC) là tập các luật tiểu bang đã được tiêu chuẩn hóa điều tiết các hợp đồng tài chính. Bộ luật được soạn thảo bởi Hội nghị toàn quốc của các Ủy viên hội đồng luật pháp tiểu bang, và được áp dụng ở hầu hết các tiểu bang vào thập niên 1950. (Chỉ riêng Louisiana không phê chuẩn đầy đủ bộ luật này, đã áp dụng điều 3 của UCC, đề cập đến chi phiếu, hối phiếu và công cụ khả nhượng). Bộ luật có chín mục riêng biệt, gọi là các điều. Điều quan trọng nhất là Điều 3, đề cập đến các công cụ khả nhượng; Điều 4, đề cập đến tiền gửi và thu của ngân hàng; Điều 5 đề cập tới các thư tín dụng; Điều 7 đề cập đến phiếu kho và các chứng từ về quyền sở hữu khác; Điều 8 và Điều 9 đề cập đến các Khoản cho vay được bảo đảm.

[3] Imaginor, ergo est (tiếng La tinh, tạm dịch): có thể tưởng tượng, nghĩa là có tồn tại

[4] Định lý cuối của Fermat (hay còn gọi là Định lý lớn Fermat) là một trong những định lý nổi tiếng trong lịch sử toán học. Định lý này phát biểu như sau:

Không tồn tại các nghiệm nguyên khác không x, y, và z thoả mãn xn + yn = zn trong đó n là một số nguyên lớn hơn 2.

Định lý này đã làm khó không biết bao bộ óc vĩ đại của các nhà toán học lừng danh trong gần 4 thế kỉ. Cuối cùng nó được Andrew Wiles chứng minh vào năm 1993 sau gần 8 năm ròng nghiên cứu, phát triển từ chứng minh các giả thiết có liên quan. Tuy nhiên chứng minh này còn thiếu sót và đến năm 1995 Wiles mới hoàn tất, công bố chứng minh trọn vẹn sau 358 năm nỗ lực chứng minh của các nhà toán học. Bằng chứng được mô tả là một ‘bước tiến tuyệt vời’ trong trích dẫn cho giải thưởng Abel năm 2016. Bằng chứng của Định lý cuối cùng của Fermat cũng đã chứng minh được rất nhiều định lý mô đun và mở ra toàn bộ các phương pháp tiếp cận mới cho nhiều vấn đề khác và kỹ thuật nâng cao tính toán mô đun. Những vấn đề chưa giải quyết đã thúc đẩy sự phát triển của lý thuyết đại số ở thế kỉ 19 và sự chứng minh của định lý Mô- đun ở thế kỉ 20. Đây là định lý trứ danh nhất trong lịch sử toán học. Trước khi chứng minh được nó thì định lý đã được ghi vào sách kỷ lục Guiness thế giới như là một vấn đề toán học khó nhất mọi thời đại, một trong những lý do định lý này được gọi như vậy là vì có một con số khổng lồ các bài chứng minh không thành công.

[5] Cape Cod là một mũi đất nhô ra Đại Tây Dương bắt đầu từ góc phía đông nam của đất liền thuộc Massachusetts, nằm ở vùng đông bắc Hoa Kỳ. Đây là một di tích lịch sử, hoạt động hàng hải và các bãi biển cũng thu hút lượng lớn khách du lịch ghé thăm trong các tháng mùa hè.

[6] Ngày Lễ lao động ở Hoa Kỳ và Canada diễn ra vào vào ngày thứ Hai đầu tiên của tháng Chín hàng năm.

[7] The Beautiful Promise (tạm dịch) Lời hứa tốt đẹp

[8] The Leopard (Con báo), tên nguyên bản tiếng Italia là “Il Gattopardo” của nhà văn Italia Giuseppe Tomasi di Lampedusa đã được ca ngợi là một “kiệt tác” của nhân loại thế kỷ 20. Mặc dù câu chuyện mang bối cảnh ở Italy từ thế kỷ 19, nhưng nó lại được giới phê bình đánh giá là tiểu thuyết tiêu biểu của thế kỷ 20. The Leopard được lấy bối cảnh ở Sicily thế kỷ 19, kể về sự sa cơ của ông hoàng Don Fabrizio Corbera xứ Salina. Chuyện được bắt đầu từ năm 1860 khi tổ chức Thống nhất Italia do Giuseppe Garibaldi đứng đầu đổ bộ lên Sicily và kết thúc năm 1910 bằng cảnh định giá những hòm đựng thánh tích của ông hoàng Corbera, vốn được cô con gái độc thân của ông bảo quản. Ngoài ra, chuyện còn kể về đứa cháu trai của Corbera được ông yêu quý tên là Tancredi, nhưng lại ủng hộ những nỗ lực thống nhất đất nước Italia của Giuseppe Garibaldi và đây chính là hành động mà Tancredi muốn đáp trả người chú bởi ông không đồng ý cho Tancredi kết hôn với Angelica, con gái xinh đẹp có cha là nông dân nghèo, mẹ mù chữ nhưng có chí tiến thủ. Tuyên bố của Tancredi được xem là xuyên suốt của The Leopard vì nó phá vỡ tư tưởng cục bộ địa phương, do người Sicily không bao giờ muốn cải cách, mở mang tư tưởng vì một lý do rất đơn giản cho rằng họ là những người đã hoàn hảo.

Advertisements