a9f2c11c59f0d07b84bd07a61d8f46b1

 

 

CHƯƠNG 1 (tiếp)

 

 

             Trước New York là trường luật, và trước đó nữa, là đại học, và trước cả thời đó, là Philadelphia, và chuyến đi dài, chậm chạp xuyên đất nước, và trước đấy, là Montana, và trại trẻ mồ côi, và trước Montana là miền Tây nam, và những căn phòng trong các nhà nghỉ, và những con đường trơ trọi kéo dài và vô số giờ ngồi trên xe ô tô. Và trước cả đó là Nam Dakota và tu viện. Và trước đấy ư? Một người cha và một người mẹ, có lẽ. Hay, thực tế hơn cả, chỉ là một người đàn ông và một người đàn bà. Và rồi, có thể, chỉ là một người đàn bà. Và rồi có y trên đời.

        Chính Tu huynh Peter, là người đã dạy y môn toán, và vẫn luôn nhắc nhở y về sự may mắn của y, người từng nói với y rằng y được nhặt từ một thùng rác. “Trong một cái túi rác, giữa những vỏ trứng và lá rau diếp ôi và mỳ ống bị thiu — và mi,” Tu huynh Peter nói. “Trong một cái ngõ đằng sau một tiệm thuốc, mi biết những nơi như thế rồi đấy,” cho dù y không hề biết, vì y hiếm có khi nào được rời khỏi tu viện.

        Về sau này, Tu huynh Michael nói rằng điều đó không đúng. “Em không ở trong thùng rác.” Đúng vậy, ông bảo với y, có một cái túi rác, nhưng y được đặt ở trên đó, chứ không phải là ở bên trong, và dù sao, thì ai mà biết được ở trong cái túi rác ấy có những gì, và ai mà thèm quan tâm? Nó giống như là những thứ bị cửa hàng thuốc vứt đi: thùng giấy và giấy gói và dây buộc và vỏ bịch khoai tây chiên. “Em không được tin mọi điều mà Tu huynh Peter nói,” ông bảo với y, như ông vẫn thường làm vậy, cùng với: “Em không được chìm đắm trong cái khuynh hướng hoang đường hóa về nguồn gốc của mình,” là những gì ông nói bất kỳ khi nào y hỏi về những chi tiết của việc tại sao y lại sống ở tu viện. “Em đã tới, và giờ thì em ở đây, và em nên tập trung vào tương lai của mình, chứ không phải là quá khứ.”

        Họ đã tạo ra quá khứ cho y. Y được tìm thấy trong tình trạng không một mảnh vải che thân, Tu huynh Peter nói (hay chỉ quấn một chiếc tã, theo lời của Tu huynh Michael), nhưng dù sao đi nữa, y cũng được cho là đã bị bỏ lại, như lời họ nói, để cho tự nhiên định đoạt y, bởi vì đó là vào giữ tháng Tư và trời vẫn lạnh, và một đứa trẻ mới sinh không thể tồn tại được lâu trong điều kiện thời tiết như vậy. Tuy vậy, y chỉ ở đó chừng vài phút, bởi vì người y vẫn còn ấm khi họ tìm thấy được y, và tuyết vẫn còn chưa lấp đầy vệt bánh xe, hay những dấu chân (giầy thể thao, có lẽ là giầy phụ nữ cỡ số tám) đã dẫn tới cái thùng rác và rồi rời khỏi nó. Mọi thứ mà y có — cái tên của y, ngày sinh nhật của y (cả nó nữa cũng là một sự phỏng đoán), nơi trú ẩn của y, cuộc đời của y — là nhờ vào họ. Y thật biết ơn (họ không mong y biết ơn họ; họ mong rằng y biết ơn Chúa).

        Y không bao giờ biết họ có thể trả lời và không trả lời những gì. Một câu hỏi đơn giản (Y có khóc khi được tìm thấy hay không? Bên cạnh y có một lời nhắn nào hay không? Họ có tìm kiếm người đã bỏ y lại đó hay không?) sẽ bị bác bỏ hoặc không biết hay không được giải thích, nhưng cũng có cả những câu trả lời mang tính khẳng định cho những câu hỏi còn phức tạp hơn.

        “Chính quyền không tìm được người nhận nuôi mi.” (Lại là Tu huynh Peter.) “Và vì thế mà bọn ta quyết định rằng sẽ tạm thời để mi lại đây, và rồi nhiều tháng trở thành năm và mi vẫn ở đây. Hết chuyện. Giờ thì giải nốt bài toán đi; mi lề rề cả ngày rồi đấy.”  

        Nhưng tại sao chính quyền lại không thể tìm thấy ai hết? Giả thuyết thứ nhất (được Tu huynh Peter yêu thích): Đơn giản là có quá nhiều ẩn số — chủng tộc của y, nguồn gốc của y, những vấn đề sức khỏe bẩm sinh, và vân vân. Y đến từ đâu? Không ai biết. Không một bệnh viện địa phương nào có ghi chép về một ca mới sinh phù hợp với nhân dạng của y. Và điều đó khiến những người bảo hộ tiềm năng quan ngại. Giả thuyết thứ hai (của Tu Michael): Đây là một thị trấn nghèo ở một khu vực nghèo của một bang nghèo. Dù cho công chúng có thương cảm ra sao — và thật sự vẫn có tình thương, y không thể quên điều đó — thì việc nhận nuôi thêm một đứa trẻ nữa là cả một vấn đề đối với một hộ gia đình, đặc biệt là khi gia đình đó đã phải gồng mình lên từ trước. Giả thuyết thứ ba (của Cha Gabriel): Số mệnh của y là đến với nơi này. Đó chính là ý Chúa. Đây chính là nhà của y. Và giờ thì y phải thôi hỏi các câu hỏi đi.

        Và rồi còn có cả giả thuyết thứ tư nữa, được đặt ra bởi hầu hết bọn họ khi y cư xử không đúng mực: Y là một đứa trẻ hư, và hư ngay từ khi mới lọt lòng. “Mi hẳn phải đã làm điều gì đó vô cùng tồi tệ thì mới bị bỏ rơi như thế,” Tu huynh Peter thường nói với y như vậy sau khi ông ta đánh y bằng cái bảng, quở trách y khi y đứng đó, sụt sịt với lời xin lỗi của mình. “Có lẽ là mi khóc nhiều quá nên bọn họ không thể chịu đựng thêm được nữa.” Và rồi y càng khóc to hơn, lo sợ rằng Tu huynh Peter đã nói đúng.

        Đối với tất cả sự quan tâm của bọn họ về quá khứ, họ đặc biệt khó chịu khi y quan tâm tới quá khứ của chính mình, như thể y kiên định với một thứ sở thích phiền hà vậy. Y sớm học được rằng tốt hơn hết là không hỏi gì cả, hay ít nhất là không hỏi trực tiếp, mặc dù y vẫn luôn chú ý thu thập các thông tin mà y có thể có được trong những thời điểm bất ngờ, từ những nguồn không được trông đợi từ trước. Với Tu huynh Michael, y sẽ đọc Great Expectations[1], và cố hướng vị tu huynh vào một câu chuyện dài về cuộc đời của một đứa trẻ mồ côi sẽ diễn ra như thế nào ở thế kỷ mười chín ở London, một nơi cũng xa lạ với y như là ở Pierre, chỉ cách đó có vài trăm dặm. Bài học thậm chí trở thành bài giảng, như y biết rằng nó sẽ là như vậy, nhưng từ đó y biết được rằng y, cũng như là Pip, sẽ được trao cho người thân nếu có được bất kỳ danh tính nào. Vì vậy rõ ràng là không có ai hết cả. Y chỉ có một mình. 

        Tính chiếm hữu của y cũng là một thói quen xấu cần phải sửa chữa. Y không nhớ được khi nào thì y bắt đầu thèm muốn một điều gì đó mà y có thể sở hữu, một thứ gì đó mà có thể thuộc về y và không phải là một ai khác. “Không có ai ở đây lại sở hữu một điều gì cả,” họ nói với y như vậy, nhưng liệu điều ấy có thật sự đúng không? Y vẫn biết rằng Tu huynh Peter có một chiếc lược ngà, như là một ví dụ, có màu của nhựa cây và rất nhẹ, mà ông ta rất đỗi tự hào và thường dùng để chải chòm râu của mình vào mỗi sáng. Một ngày nọ chiếc lược biến mất, và Tu huynh Peter đã cắt ngang bài học lịch sử của y với Tu huynh Matthew để tóm lấy vai y và lắc người y, hét lên rằng y đã lấy cắp chiếc lược và tốt hơn hết là nên trả lại nó nếu như y còn biết điều gì là tốt cho mình. (Sau đó Cha Gabriel đã tìm thấy chiếc lược, bị rơi xuống cái khe hở giữa chiếc bàn của tu huynh và cái lò sưởi.) Và Tu huynh Matthew có cuốn sách The Bostonians[2] được bọc bằng vải, có cái gáy sách màu xanh lục bằng cao su mềm mà y vẫn thường cầm trước ngực để nhìn lớp bìa của nó. (“Đừng có sờ! Ta bảo là đừng sờ vào nó rồi cơ mà!”). Thậm chí là Tu huynh Luke, vị tu huynh mà y yêu quý, người hiếm khi nào nói chuyện và rầy la y, cũng có một con chim mà tất cả những người khác đều coi như là của riêng ông. Về mặt lý thuyết, theo như lời của Tu huynh David, con chim ấy không thuộc quyền sở hữu của ai hết cả, nhưng chính Tu huynh Luke là người đã tìm thấy và chăm sóc nó và cho nó ăn và để nó bay đi, và vì thế nếu như Luke muốn, thì Luke có thể là chủ của con chim đó.

        Tu huynh Luke chịu trách nhiệm chăm sóc khu vườn và nhà kính của tu viện, và trong những tháng có khí hậu ấm áp, y sẽ trợ giúp với những việc vặt. Y biết được từ việc nghe lén các tu huynh khác rằng Tu huynh Luke từng là một kẻ giàu có trước khi tới tu viện này. Nhưng rồi có điều gì đó đã xảy ra, hoặc là ông ta đã làm việc gì đó (không bao giờ biết rõ là chuyện gì), và ông ta hoặc là đã mất gần hết tiền bạc hoặc là đã cho nó đi, và giờ thì ông ta ở đây, và cũng nghèo y như những người khác, mặc dù chính Tu huynh Luke đã chi tiền để xây dựng nhà kính, và tài trợ cho một số chi phí hoạt động của tu viện. Cái cách mà hầu hết các tu huynh khác đều tránh né Luke khiến cho y nghĩ rằng ông hẳn phải là người xấu, mặc dù Tu huynh Luke chẳng bao giờ xấu cả, không phải là với y.

        Không lâu sau khi Tu huynh Peter buộc tội y đã đánh cắp chiếc lược của ông ta, y đã thực sự đánh cắp món đồ đầu tiên: một gói bánh quy từ nhà bếp. Y đi qua nó để tới căn phòng được chọn ra để dạy y học vào một buổi sáng, và không có ai trong bếp, và gói bánh quy nằm ở trên mặt bếp, ngay trong tầm với của y, và y đã, nhìn quanh, cầm lấy nó và bỏ chạy, nhét nó vào trong cái áo len mà y đang mặc, một phiên bản thu nhỏ so với chiếc áo của các tu huynh. Y vòng lại để giấu gói bánh dưới cái gối của mình, và khiến cho y bị muộn buổi học với Tu huynh Matthew, người đã đánh y với một cái roi làm bằng gỗ đầu xuân như là sự trừng phạt, nhưng sự tồn tại bí mật của gói bánh khiến trong lòng y tràn đầy cảm giác ấm áp và vui vẻ. Đêm đó, nằm một mình trên giường, y đã ăn một chiếc bánh quy (mà y chẳng thích cho lắm) một cách từ tốn, bẻ nó ra thành tám phần với hàm răng của y và để cho mỗi một mẩu bánh nằm trên đầu lưỡi mình cho tới khi nó mềm ra và dinh dính và y có thể nuốt xuống toàn bộ.

        Sau đấy, y ăn cắp ngày một nhiều hơn. Không có gì trong tu viện mà y thực sự muốn cả, không có gì thực sự đáng để sở hữu, và bởi vậy y chỉ đơn giản lấy đi những món đồ mà y thấy khi đi ngang qua, mà không có một kế hoạch cụ thể hay thèm muốn nào: thức ăn khi y tìm thấy nó; một cái cúc áo màu đen của Tu huynh Michael mà y tìm thấy trên sàn nhà trong những lần đi thẩn thơ sau bữa sáng; một cái bút trên bàn của Cha Gabriel, bị y chộp vội, trong giờ học, khi cha quay đi tìm sách; chiếc lược của Tu huynh Peter (vật cuối cùng là thứ duy nhất mà y lên kế hoạch, nhưng nó không khiến y cảm thấy hồi hộp hơn so với những thứ kia). Y đánh cắp những hộp diêm và những cái bút chì và những tờ giấy – những món đồ tạp nhạp vô dụng bị bỏ đi, nhưng là đồ bỏ đi đối với người khác — nhét chúng vào quần lót và chạy về phòng mình để giấu chúng dưới tấm đệm, mà mỏng đến nỗi khiến y có thể cảm nhận thấy các món đồ bên dưới lưng mình vào ban đêm.

        “Đừng có chạy loạn nữa nếu không ta sẽ đánh mi đó!” Tu huynh Matthew quát lên với y khi y chạy vội về phòng mình.

        “Vâng, thưa Tu huynh,” y sẽ trả lời, và đi bộ trở lại.

        Cái ngày mà y thu được phần thưởng lớn nhất cũng chính là ngày y bị bắt: chiếc bật lửa bằng bạc của Cha Gabriel, đánh cắp ngay trên bàn ông khi ông phải dừng việc dạy y học để nghe điện thoại. Cha Gabriel cúi xuống, và y vươn người qua và tóm lấy chiếc bặt lửa, giữ chặt món đồ nặng trịch mát lạnh ấy trong lòng bàn tay cho tới khi y cuối cùng cũng được cho nghỉ. Bên ngoài phòng làm việc của cha, y vội vã nhét nó vào trong quần lót và đi thật nhanh về phòng mình khi y rẽ ngoặt mà không nhìn và va ngay vào Tu huynh Pavel. Trước khi vị Tu huynh kịp quát y, y ngã ngửa ra, và chiếc bặt lửa rơi ra, đập lộp bộp trên nền đá.

        Y bị đánh, dĩ nhiên là vậy, và quát tháo, và khi y cho rằng là sự trừng phạt cuối cùng của y, Cha Gabriel đã gọi y vào văn phòng của mình và nói với y rằng ông ta sẽ dạy cho y một bài học về việc ăn cắp đồ của người khác. Y nhìn thấy, dù không hiểu nhưng sợ hãi đến nỗi y chẳng thể khóc được, khi Cha Gabriel đặt chiếc khăn tay của ông ta lên miệng chai dầu ô-liu, và rồi xoa dầu lên cánh tay trái của y. Và rồi ông ta cầm lấy cái bật lửa của mình — cũng là cái mà y đánh cắp — và giữ tay y bên dưới ngọn lửa cho tới khi vết dầu bắt lửa, và cả cánh tay của y bị nuốt chửng trong thứ ánh sáng rực rỡ ma quái, màu trắng. Và rồi y hét lên và cứ hét không ngừng, và cha tát vào mặt y vì đã hét. “Câm ngay,” ông ta quát tháo. “Đây là những gì mi phải chịu. Để mi không bao giờ quên rằng không được ăn cắp nữa.”  

        Khi y tỉnh lại, y đang nằm trên giường mình, cánh tay y đã được băng bó lại. Mọi đồ vật của y đã biến mất: những thứ mà y đã lấy cắp, dĩ nhiên là vậy, nhưng còn cả những thứ y tự tìm được nữa — những hòn sỏi và những chiếc lông vũ và những cành cỏ mác, và miếng hóa thạch mà Tu huynh Luke đã tặng cho y vào sinh nhật năm tuổi của mình, món quà đầu tiên mà y từng được nhận.

        Sau đó, sau khi y bị bắt quả tang, y bị bắt phải đến văn phòng của Cha Gabriel mỗi tối và cởi quần áo mình ra, và kiểm tra trong người y xem có bất kỳ đồ vật nào không. Và sau này, khi mọi việc trở nên tồi tệ hơn, y sẽ nghĩ về cái gói bánh quy ấy: nếu như y không đánh cắp nó. Nếu như y không tự biến mọi việc trở nên tồi tệ cho chính bản thân y như vậy.

       

        Sự tức giận của y bắt đầu sau việc kiểm tra buổi tối với Cha Gabriel, mà sớm được mở rộng để bao gồm cả một lần kiểm tra vào ban ngày với Tu huynh Peter nữa. Y sẽ nổi cơn thịnh nộ, tự quăng mình vào những bức tường đá của tu viện và hét to lên hết mức có thể, đập cái tay bị thương xấu xí của y (mà, sáu tháng sau đó, đôi khi vẫn còn đau, một cơn nhức nhối dai dẳng, dữ dội) vào góc cứng, tồi tàn của chiếc bàn gỗ, va phần gáy của y, khuỷu tay của y, má y — tất cả những phần đau đớn nhất, mềm mại nhất — vào cạnh của chiếc bàn. Y có những cơn giận ấy cả ngày lẫn đêm, y không thể kiểm soát được chúng, y có thể cảm thấy chúng đang chuyển động trên người y như là một màn sương và để cho y được thư giãn ở trong đó, cơ thể y và giọng nói của y chuyển động theo những cách kích động và làm y khó chịu, vì dù y có đau đớn bao nhiêu sau đó, y biết rằng điều đó làm cho các tu huynh sợ hãi, rằng họ thấy sợ trước cơn giận và tiếng ồn và năng lượng của y. Họ đánh y với bất cứ thứ gì họ có thể tìm thấy, họ bắt đầu treo một cái thắt lưng có gắn đinh ở trên bức tường của lớp học, họ sẽ tháo dép của mình ra và đánh y thật lâu để rồi ngày hôm sau y không ngồi nổi, họ sẽ gọi y là một con quái vật, họ ước gì y chết đi, họ bảo với y rằng họ sẽ bỏ lại y trong một cái túi rác. Và cả y nữa, cũng sẽ mong đến điều đó, vì sự giúp đỡ của họ trong việc khiến cho y trở nên kiệt sức, bởi vì y không thể tự mình chế ngự được con quái vật trong y và y cần đến sự trợ giúp của họ để khiến nó lui lại, để khiến nó quay về cái chuồng của mình cho tới khi nó lại thoát ra lần nữa.  

        Y bắt đầu làm ướt giường mình và bị bắt phải đi gặp cha nhiều hơn, cho nhiều cuộc kiểm tra hơn, và càng nhiều cuộc kiểm tra mà cha thực hiện với y, thì chiếc giường của y càng ướt hơn. Cha bắt đầu đến phòng y vào buổi tối, và cả Tu huynh Peter, và sau này nữa, là Tu huynh Matthew cũng vậy, và y ngày càng phải chịu tra tấn tồi tệ hơn: họ bắt y phải ngủ với những chiếc áo ướt sũng, họ bắt y mặc nó suốt ban ngày. Y biết rằng y bốc mùi khó chịu ra sao, như là mùi của nước tiểu và máu, và y sẽ gào thét và rít lên giận dữ, phá ngang những bài giảng, quăng sách vở khỏi bàn để các tu huynh sẽ bắt đầu đánh đập y ngay lập tức, bài học bị bỏ ngang. Đôi khi y bị đánh đau đến nỗi y sẽ ngất đi, là điều mà y vẫn hằng mong muốn: rằng bóng tối, nơi mà thời gian trôi qua và y không có trong đó, nơi mà có những điều được thực thi với y mà y không hề biết đến.  

        Đôi khi có những lý do nằm sau cơn giận của y, mặc dù đó là những lý do mà chỉ một mình y biết đến. Y luôn cảm thấy thật bẩn thỉu, thật nhơ nhuốc, như thể bên trong y là một tòa nhà mục ruỗng, như là một nhà thờ bị kết tội mà y đã được đưa tới thăm trong số những chuyến đi hiếm hoi của y ra khỏi tu viện: những cái xà lốm đốm những vệt mốc, những cái rui vỡ ra thành từng mảnh và thủng lỗ chỗ với những cái ổ mối, những ô trời hình tam giác mầu trắng cho thấy sự khiếm nhã thông qua mái nhà đổ nát. Y học được trong một bài học lịch sử về những con đỉa, và về việc bao nhiêu năm trước đây chúng đã được cho là một phương thức để hút thứ máu xấu ra khỏi cơ thể con người, hút thứ mầm bệnh đầy tham lam và ngớ ngẩn vào trong cái cơ thể béo múp của chúng, và y đã giành thời gian rảnh rỗi của mình — sau giờ học nhưng trước khi thực hiện các công việc hàng ngày — tha thẩn đi dọc một con suối nằm ngoài tu viện, tự mình tìm kiếm những con đỉa. Và khi y cuối cùng cũng chẳng tìm thấy nổi một con đỉa, khi y được cho biết rằng chẳng có con đỉa nào ở trong cái cái con suối ấy, y cứ hét và hét lên cho tới khi lạc cả giọng, và thậm chí là sau đó y vẫn chẳng thể dừng lại, ngay cả khi cổ họng y có cảm giác như thể đã tràn đầy một thứ máu nóng.

        Có một lần y ở trong phòng mình, và cả Cha Gabriel và Tu huynh Peter đều có mặt ở đó, và y cố gắng để không hét lên, bởi vì y đã học được rằng y càng im lặng thì chuyện này càng mau chóng kết thúc, và y nghĩ rằng mình đã thấy, lướt qua bên ngoài khung cửa nhanh như một con nhậy, là Tu huynh Luke, và cảm thấy thật nhục nhã, mặc dù khi ấy y chưa biết từ nhục nhã có nghĩa là gì. Và vì thế ngày hôm sau y ghé qua khu vườn của Tu huynh Luke trong quãng thời gian rảnh của mình và ngắt xuống mọi búp hoa thủy tiên vàng, vứt chúng xuống trước cửa nhà kho của Luke, những búp nhọn của chúng hướng lên nền trời như những cái mỏ chim.

        Sau đó, chỉ còn lại một mình và giữa những công việc hàng ngày của y, y cảm thấy hối hận, và khổ sở khiến cho cánh tay y trở nên nặng trĩu, và y đã làm rơi xô nước khi xách nó từ đầu này đến đầu kia của căn phòng, khiến cho y quăng mình xuống sàn và la hét trong tuyệt vọng và hối hận.

        Vào bữa tối, y không thể ăn nổi. Y tìm kiếm Luke, lo lắng về việc y sẽ bị trừng phạt khi nào và ra sao, và khi nào y sẽ phải xin lỗi vị tu huynh. Nhưng ông ta không có ở đó. Trong sự lo lắng của mình, y làm rơi cái bình đựng sữa bằng kim loại, thứ chất lỏng lạnh lẽo màu trắng chảy tràn cả ra sàn nhà, và Tu huynh Pavel, người ngồi ngay cạnh y, kéo mạnh người y khỏi chiếc ghế và đẩy y ngã xuống đất. “Lau ngay,” Tu huynh Pavel quát y, ném một cái đĩa thức ăn cho y. “Nhưng đó sẽ là tất cả những gì mày được ăn cho tới thứ Sáu.” Giờ mới là thứ Tư. “Giờ thì về phòng của mày đi.” Y chạy đi, trước khi vị tu huynh thay đổi ý kiến.

        Cánh cửa dẫn tới phòng y – một cái tủ quần áo được trưng dụng, không có cửa sổ và chỉ đủ rộng để chứa một cái giường cũi của trẻ em, nằm ở cuối tầng hai ngay phía trên nhà ăn — luôn được để mở, bất kể có vị tu huynh nào hay là cha ở cùng với y khi đó hay không, và vào những lúc đó thì cửa vẫn luôn bị đóng lại. Nhưng ngay cả khi y đang ngoặt vào góc từ chỗ rẽ cầu thang, y cũng có thể thấy cánh cửa đang đóng lại, và trong một lúc y vẫn nán lại trong hành lang yên tĩnh, vắng vẻ, không biết chắc điều gì có thể đang chờ đợi y: một trong số các tu huynh, có lẽ vậy. Sau sự kiện ở con suối, y đôi khi tưởng tượng rằng bóng tối dày đặc nơi góc tường kia là một con đỉa khổng lồ, dựng đứng người lên, lớp da bóng loáng của nó tối tăm và nhơn nhớt, chờ đợi để đè bẹp y bằng sức nặng ướt át, không tiếng động của nó. Cuối cùng y cũng thu đủ dũng khí và chạy thẳng về phía cánh cửa, mở nó ra thật mạnh, chỉ để phát hiện ra rằng trên chiếc giường của y, cùng với cái chăn len màu nâu đất của mình, và cái hộp đựng khăn giấy, và những cuốn sách giáo khoa nằm trên giá. Và rồi y nhìn thấy nó ở trong góc, ngay gần đầu giường: một cái lọ thủy tinh với một bó hoa thủy tiên vàng, những búp hoa nở bung rực rỡ.

        Y ngồi xuống sàn nhà gần cái lọ và vuốt ve những cánh hoa mịn như nhung bằng những đầu ngón tay, và trong một khoảnh khắc y thấy buồn kinh khủng, rằng y chỉ muốn xé tan mình ra, cào rách vết sẹo ở trên cánh tay y, xé nát bản thân mình thành từng mảnh vụn như là những gì y đã làm với những bông hoa của Luke.

        Nhưng tại sao y lại làm một việc như vậy với Tu huynh Luke? Chẳng phải bởi vì Luke là người duy nhất đối xử tử tế với y — khi y không tự biến mình thành mục tiêu của sựtrừng phạt, Tu huynh David vẫn luôn khen y và bảo với y rằng y thông minh nhường nào, và thậm chí là cả Tu huynh Peter vẫn thường mang về cho y những cuốn sách trong thư viện của thị trấn để đọc và thảo luận với y sau đó, lắng nghe ý kiến của y như thể y là một con người thực thụ — nhưng không chỉ bởi vì Luke không bao giờ đánh y, ông ta còn cố gắng an ủi y nữa, để bày tỏ lòng trung thành của ông ta đối với y. Ngày Chủ nhật trước đó, y đã đọc thuộc lòng thật to bài nguyện buổi tối, và khi y đứng bên chân chiếc bàn của Cha Gabriel, y bỗng nhiên bị thôi thúc bởi một cơn bốc đồng về việc cư xử bậy bạ, để nắm lấy một nắm đầy những miếng khoai tây từ chiếc bát trước mặt mình và ném nó ra khắp căn phòng. Y có thể cảm thấy được những tiếng lạo xạo trong cổ họng mình trước tiếng hét mà y sẽ thốt ra, những vết hằn khi chiếc thắt lưng quật xuống tấm lưng y, bóng tối mà y sẽ chìm vào sau đó, sự sáng sủa đến choáng váng của ban ngày khi y tỉnh lại. Y nhìn cánh tay mình nâng lên, nhìn thấy những ngón tay mở ra, như là những cánh hoa, và lướt lên phía trên cái tô. Và rồi khi y ngẩng đầu lên và nhìn thấy Tu huynh Luke, lúc này đang nháy mắt với y, thật nghiêm trang và chóng vánh, như một tiếng chớp của cái máy ảnh, mà lúc đầu y không biết ông ta đã nhìn thấy những gì. Và rồi Luke lại nháy mắt với y lần nữa, và vì một lý do nào đó điều ấy đã khiến y bình tĩnh lại, và y quay trở lại với chính mình, và tiếp tục bài kinh của y và ngồi xuống, và bữa tối trôi qua êm ả.  

        Và giờ là những bông hoa này. Nhưng trước khi y có thể nghĩ về ý nghĩa của chúng, cánh cửa bị mở ra, và Tu huynh Peter xuất hiện, và y đứng dậy, đợi chờ một giây phút kinh khủng mà y chẳng bao giờ có thể chuẩn bị đủ để mà đón sẵn, mà ở đó mọi chuyện đều có thể xảy ra, và mọi điều đều có thể xuất hiện.  

        Ngày tiếp theo, y rời đi ngay sau buổi học để tới nhà kính, quyết định rằng y nên nói điều gì đó với Luke. Nhưng khi y tiến tới gần hơn, sự quyết tâm đã rời bỏ y, và y bước đi chậm chạp, đá vào những hòn sỏi nhỏ và quỳ xuống để nhặt lên những cành cây đã bị cắt bỏ, ném chúng về phía khu rừng giáp ranh với phần đất của tu viện. Y, thật sự, định nói gì đây? Y gần như xoay người lại, để lùi về phía một cái thân cây nằm ở mạn phía bắc của khu đất mà y đã đào một cái hố ở dưới gốc cây để chôn những món đồ mới của y — mặc dù đó chỉ là những thứ mà y có thể tìm thấy trong khu rừng và chắc chắn là không thuộc về ai hết cả: những hòn đá nhỏ; một cái thân cây có hình dáng gần giống như một con cún nhỏ đang chuẩn bị nhảy lên — và là nơi mà y dành phần lớn thời gian rảnh rỗi của mình, đào lên mớ tài sản của y và giữ lấy chúng trong tay mình, khi y nghe thấy có ai đó gọi tên mình và quay lại và nhìn thấy đó là Luke, giơ tay lên chào y và bước về phía y.

        “Ta nghĩ đó là em,” Tu huynh Luke nói khi ông ta tiến gần tới chỗ y (một cách gian xảo, điều mà mãi về sau này y mới nhận ra, bởi vì sẽ còn có ai nữa đây? Y là đứa trẻ duy nhất ở trong tu viện), và mặc dù y đã cố, y vẫn không thể tìm thấy lời nào để xin lỗi Luke, thực sự không thể tìm thấy một lời nào cho bất cứ điều gì, và thay vì vậy y nhận ra mình đang khóc. Y chưa bao giờ thấy xấu hổ khi khóc, nhưng trong khoảnh khắc ấy y cảm thấy đúng là như vậy, và y quay mặt khỏi Tu huynh Luke và che mắt mình bằng cái tay bị thương. Y bỗng nhiên nhận ra rằng y thật sự đói ra sao, và giờ chỉ mới là buổi chiều ngày thứ Năm, và y chẳng được ăn gì trong suốt một ngày nữa.

        “Ôi,” Luke nói, và y có thể cảm thấy vị tu huynh đang quỳ xuống, rất gần với y. “Đừng khóc; đừng khóc.” Nhưng giọng của ông ta dịu dàng quá, và y càng khóc dữ hơn.

        Và rồi Tu huynh Luke đứng dậy, và khi ông ta nói tiếp, giọng của ông ta trở nên vui tươi hơn. “Jude, nghe này,” ông ta nói. “Ta có thứ này muốn cho em xem. Hãy đi cùng với ta,” và ông ta bắt đầu đi về phía nhà kính, quay người lại để chắc chắn rằng y đi theo. “Jude,” ông ta tiếp tục gọi, “đi theo ta nào,” và y, tò mò bất chấp chính mình, bắt đầu đi theo ông, đi về phía nhà kính mà y đã biết quá rõ với một sự hào hứng lạ kỳ đang bắt đầu trào dâng, như thể y chưa bao giờ đặt chân vào đó.  

        Khi đã trưởng thành, y vẫn bị ám ảnh với việc tìm ra câu thần chú nhằm cố gắng xác định chính xác thời điểm mà mọi thứ trở nên tồi tệ, như thể y có thể ngưng đọng nó lại, cất giữ nó trong một lớp thạch, bảo quản nó và dạy về nó trong một lớp học: Đấy là khi sự việc diễn ra. Đấy là khi sự việc bắt đầu. Y sẽ nghĩ: Liệu đó có phải là khi ta bắt đầu ăn cắp những chiếc bánh quy? Đó có phải là khi ta phá hoại những bông thủy tiên của Luke? Có phải là khi ta bắt đầu lên cơn cuồng nộ lần đầu tiên? Hay, vô lý hơn, có phải là khi mà ta đã làm bất cứ điều gì để khiến cho bà ấy bỏ lại ta ở phía sau tiệm thuốc? Và chuyện gì đã xảy ra sau đó?   

        Nhưng mà thật ra, y biết: đó chính là thời điểm mà y bước vào trong căn nhà kính vào buổi chiều hôm đó. Đó là khi mà y cho phép mình bị đưa vào trong đó, khi mà y từ bỏ mọi thứ để đi theo Tu huynh Luke. Đó chính là cái thời điểm ấy. Và sau đó, mọi chuyện chẳng bao giờ còn đúng đắn được nữa.  

 

***

 

             Còn có năm bước nữa và rồi y đã tới được cửa trước, nơi mà y không thể tra được chìa khóa vào trong ổ bởi vì tay y run quá, và y chửi thầm, gần như đã làm rơi nó. Và rồi y bước vào trong căn hộ, và chỉ còn có mười lăm bước từ cửa trước để tới chiếc giường của y, nhưng y vẫn phải dừng lại nửa đường và từ từ ngồi xuống đất, và buộc mình thực hiện những bước cuối cùng vào đến phòng bằng khuỷu tay của mình. Trong một lúc y nằm xuống, mọi thứ quay cuồng xung quanh y, cho tới khi y đủ khỏe để kéo chiếc chăn trùm lên trên người mình. Y sẽ nằm đó cho tới khi mặt trời bỏ lại bầu trời và cả căn hộ chìm trong bóng tối, và rồi, cuối cùng, y sẽ bò lên trên giường bằng hai tay, nơi mà y sẽ ngủ thiếp đi mà không ăn uống gì hay rửa mặt hay thay quần áo, hàm răng y va vào nhau lạch cạch vì đau đớn. Y ở đó một mình, bởi vì Willem sẽ ra ngoài với bạn gái của anh sau buổi diễn, và vào lúc mà anh về đến nhà, thì cũng quá muộn rồi.

        Khi y thức dậy, sẽ là vào sáng sớm, và y sẽ cảm thấy khá hơn, nhưng vết thương này sẽ rỉ nước suốt cả đêm, và mủ sẽ thấm qua miếng băng gạt y đặt lên trên đó vào buổi sáng ngày Chủ nhật trước khi y ra ngoài đi dạo, chuyến đi dạo thảm họa của y, và chiếc quần của y sẽ dính lấy da thịt y bởi vì vệt nước mủ của nó. Y sẽ gửi tin nhắn cho Andy, và rồi để lại một tin nhắn khác cho sự trả lời của anh, và rồi y sẽ tắm táp, thật cẩn thận khi gỡ ra miếng băng gạt, mà sẽ mang theo những mảnh thịt thối và cục máu lẫn chất nhầy đã biến thành màu đen. Y sẽ thở dốc và hổn hển để ngăn không cho mình hét lên. Y sẽ nhớ về cuộc nói chuyện giữa y và Andy vào lần trước, khi Andy đề nghị rằng y nên kiếm một chiếc xe lăn để phòng ngừa, và mặc dù y ghét cái ý tưởng lại phải sử dụng đến xe lăn, y sẽ ước rằng lúc này y có nó. Y sẽ nghĩ rằng Andy đã đúng, rằng chuyến đi của y là một dấu hiệu của sự ngạo mạng không thể chấp nhận được nơi y, rằng sự giả vờ của y rằng mọi thứ vẫn ổn, rằng y thực ra chẳng hề tàn tật, là cực kỳ ích kỷ, vì những hậu quả mà nó mang đến cho những người khác, những người vẫn luôn rộng rãi và tử tế với y một cách không thể giải thích được trong nhiều năm qua, trong gần một thập kỷ qua.    

        Y sẽ tắt vòi nước và hạ mình xuống cái bồn tắm và tựa gò má vào gờ đá và chờ đợi cho tới khi y cảm thấy khá hơn. Y sẽ được nhắc nhớ rằng y đang mắc kẹt ra sao, mắc kẹt trong một cái cơ thể mà y căm ghét, với một quá khứ mà y căm ghét, và làm sao mà y chẳng bao giờ có thể thay đổi được bất cứ điều nào trong số đó. Y sẽ muốn khóc, từ sự bất lực và chán ghét và đau đớn, nhưng y đã không khóc kể từ khi xảy ra chuyện với Tu huynh Luke, sau khi y đã tự nhủ với lòng mình rằng y sẽ không bao giờ khóc nữa. Y sẽ được nhắc nhớ rằng y chẳng là gì cả, một cái vỏ khô mà lớp thịt bên trong nó đã co rút lại và khô quắt từ lâu, và giờ đây nó chỉ đang kêu lách cách một cách vô dụng mà thôi. Y sẽ trải nghiệm cảm giác đau nhói ấy, sự run rẩy của sự ghê tởm làm y khổ sở ngay cả trong những thời điểm hạnh phúc và tổn thương nhất, thứ duy nhất hỏi y rằng y nghĩ mình là ai mà lại gây phiền hà cho không biết bao nhiêu người khác, để mà cho rằng mình có quyền tiếp tục sống cho dù cái cơ thể này đã nói với y rằng y nên dừng lại thì hơn.

        Y sẽ ngồi đó và chờ đợi và hít thở và y sẽ thấy may mắn rằng giờ này vẫn còn sớm, rằng sẽ không có chuyện Willem phát hiện ra y và phải cứu lấy y một lần nữa. Y sẽ (dù rằng về sau này y không thể nhớ được là bằng cách nào) có thể tự xoay sở để đứng dậy, bước ra khỏi bồn tắm, uống vài viên thuốc giảm đau, đi làm. Ở chỗ làm, các con chữ trở nên nhạt nhòa và nhảy múa trên các trang giấy, và vào thời điểm Andy gọi cho y, sẽ là bảy giờ sáng, và y sẽ nói với Marshall rằng y bị ốm, từ chối lời để nghị của Marshall lái xe chở y đi, nhưng để cho ông — điều này khiến y cảm thấy rất tệ — giúp y ngồi vào trong xe taxi. Y sẽ đi xuống những con phố mà y chỉ mới vừa ngu ngốc đi bách bộ qua đó vài ngày trước. Và khi Andy mở cửa ra, y sẽ cố gắng đứng thật vững.

        “Judy,” Andy sẽ nói, và anh sẽ giữ thái độ thật dịu dàng, sẽ không có bài giảng nào dành cho y vào ngày hôm nay, và y sẽ để cho Andy dẫn y đi qua căn phòng chờ không bóng người của anh, phòng khám của anh vẫn chưa tới giờ mở cửa, và giúp y nằm xuống một chiếc bàn mà y đã dành nhiều giờ, hàng giờ liền ở đó, và sẽ để Andy giúp y cởi quần áo, sau đó khi y nhắm mắt lại và đợi chờ một cơn đau nhói lúc Andy cởi miếng băng khỏi chân y, và kéo lớp băng gạc đã thấm đẫm nước mủ ra khỏi lớp da thịt bên dưới.

        Cuộc đời mình, y sẽ nghĩ, cuộc đời mình. Nhưng y không thể nghĩ được xa hơn thế nữa, và y sẽ tiếp tục nhắc lại từng từ cho bản thân mình — một phần như là thánh ca, một phần bị nguyền rủa, một phần là để dỗ dành — khi y trượt vào một thế giới khác mỗi lúc y rơi vào một cơn đau như vậy, cái thế giới mà y biết rằng không bao giờ rời xa thế giới của y nhưng y lại chẳng bao giờ có thể nhớ ra sau đó: Cuộc đời của tôi.


[1] Great Expectations (tạm dịch: Gia tài vĩ đại) của Charles Dickens được ra mắt bạn đọc lần đầu ngay trước dịp lễ Giáng sinh năm 1860. Bối cảnh câu chuyện cũng bắt đầu trong một đêm Giáng sinh, và một cuộc viếng thăm đã thay đổi cuộc đời cậu bé mồ côi Pip vĩnh viễn.

 

[2] The Bostonians (tạm dịch: Những người Boston) là cuốn tiểu thuyết của Henry James, ban đầu được phát hành dài kỳ trên tạp chí The Century Magazine trong thời gian 1885–1886 và rồi được in thành sách vào năm 1886. The Bostonians là một bi hài kịch vui buồn lẫn lộn xoay quanh Basil Ransom, một người bảo thủ chính trị tính tình ngay thẳng từ Mississippi; Olive Chancellor, người anh em họ hăng hái theo chủ nghĩa nữ quyền Boston của Ransom, và Verena Tarrant, một người đẹp cần được bảo hộ của Olive trong phong trào nữ quyền. Cốt truyện liên quan đến cuộc thi giữa Ransom và Olive về lòng trung thành và tình cảm với Verena, mặc dù cuốn tiểu thuyết cũng bao gồm một bức tranh toàn cảnh rộng của hoạt động chính trị, người làm báo, và những người lập dị kỳ quặc.

 

 

 

Advertisements