a5d7488294e5a4a09a9da22dadfe5f2b

 

 

CHƯƠNG 1 (tiếp)

 

 

                Đó là chuyện của nhiều năm về trước — bất kể sự thực rằng y biết một điều rất khác, bất kể những gì Andy từng nói với y kể từ hồi y mới mười bảy tuổi — rằng y vẫn duy trì một niềm hi vọng nhỏ bé, ổn định rằng y có thể sẽ khá hơn. Trong những ngày vô cùng tồi tệ, y sẽ nhắc lại những lời mà vị bác sĩ ở Philadelphia từng nói với y — “cột sống có khả năng tự phục hồi rất diệu kỳ” — gần như là một lời cầu kinh. Một vài năm sau khi gặp Andy, khi y vào học trường luật, y cuối cùng cũng thu được sự dũng cảm để đề cập với anh về điều này, để có thể nói lên sự dự đoán mà y hằng trân trọng và bám víu vào, hi vọng rằng Andy sẽ gật đầu và nói, “Chính xác. Chỉ cần thời gian mà thôi.”

        Nhưng Andy chỉ khịt mũi. “Ông ta bảo với cậu như vậy à?” anh hỏi. “Nó sẽ không khá lên được, Jude; khi cậu già đi, mọi chuyện sẽ càng tồi tệ hơn nữa.” Andy nhìn xuống cái mắt cá chân của y khi anh nói điều này, sử dụng cái nhíp để gắp ra những xác thịt chết từ vết thương từng bị nhiễm trùng của y, khi y bỗng nhiên chết cứng, và dù cho không nhìn thấy khuôn mặt của Andy, y vẫn chắc rằng anh đang rất buồn. “Xin lỗi, Jude,” anh nói, nhìn lên, vẫn giữ chân y trong tay mình. “Tôi xin lỗi vì không thể nói với cậu khác được.” Và rồi khi y chẳng thể trả lời, anh thở dài. “Cậu đang khó chịu.”

       

        Y quả có vậy, dĩ nhiên rồi. “Tôi không sao,” y cố gắng nói, nhưng y không thể nhìn vào Andy.

        “Tôi xin lỗi, Jude,” Andy nhắc lại, khẽ khàng. Anh có hai thái độ, thậm chí là sau này vẫn vậy: cộc cằn và dịu dàng, và y vẫn thường trải nghiệm cả hai điều ấy khá thường xuyên, đôi khi là trong cùng một buổi khám.

        “Nhưng tôi hứa với cậu điều này,” anh nói, quay trở lại với cái mắt cá chân, “Tôi sẽ luôn ở đây để chăm sóc cho cậu.”

        Và anh đã làm vậy. Trong số tất cả những người xuất hiện trong cuộc đời y, theo một cách nào đó Andy là người biết nhiều về y nhất: Andy là người duy nhất mà y từng khỏa thân trước mặt khi đã là một người lớn, là người duy nhất quen thuộc với mọi số đo trên cơ thể y. Andy đã là bác sĩ nội trú khi họ gặp nhau, và anh vẫn ở lại Boston vì chương trình học bổng của mình, và chương trình học bổng của y, và rồi hai người bọn họ chuyển tới New York chỉ cách nhau vài tháng. Anh là bác sĩ phẫu thuật chỉnh hình, nhưng anh chữa trị mọi thứ cho y, từ cảm mạo cho tới cái lưng đau cho tới những vấn đề của cái chân của y.

        “Ô,” Andy nói khô khốc, khi y ngồi trong phòng kiểm khám của anh vào một ngày nọ vì ho ra đờm (đó là vào mùa xuân năm trước, ngay trước khi y bước sang tuổi hai mươi chín, khi căn bệnh viêm phế quản lén lút xâm nhập cả văn phòng), “tôi lấy làm mừng vì mình theo ngành phẫu thuật chỉnh hình. Đây thực là một cơ hội thực hành tốt dành cho tôi. Đây chính xác là những gì tôi nghĩ sẽ làm với chương trình đào tạo của mình.”

        Y bắt đầu phá lên cười, nhưng rồi cơn ho của y ập tới và Andy phải vỗ lưng cho y. “Có lẽ nếu có người giới thiệu một bác sĩ nội khoa thực sự cho tôi, tôi sẽ không phải tiếp tục tới gặp bác sĩ nắn xương trước mọi nhu cầu khám chữa bệnh của mình,” y nói.

        “Ừm,” Andy nói. “Cậu biết đấy, có lẽ là cậu nên tìm đến một bác sĩ nội khoa. Chúa biết là như thế sẽ tiết kiệm giúp tôi vô số thời gian, và hàng đống những chuyện đau đầu.” Nhưng y sẽ không bao giờ tìm đến một ai khác ngoài Andy, và y nghĩ — mặc dù họ chưa bao giờ nói đến điều này — rằng cả Andy cũng không muốn y làm như vậy.

        Với tất cả những gì Andy biết về y, y biết rất ít về Andy. Y biết rằng y và Andy từng học chung trường đại học, và rằng Andy lớn hơn y mười tuổi, và rằng cha của Andy là người Gujarat[1] và mẹ anh là người xứ Wales, và rằng anh lớn lên ở Ohio. Ba năm trước, Andy kết hôn, và y đã rất ngạc nhiên khi được mời đến dự đám cưới của anh, một buổi lễ nhỏ được tổ chức ở nhà cha mẹ vợ Andy ở khu Upper West Side. Y rủ Willem đi cùng với y, và thậm chí còn ngạc nhiên hơn khi người vợ mới của Andy, Jane, vòng tay ôm lấy y khi họ được giới thiệu với nhau và nói, “Jude St. Francis đây rồi! Tôi được nghe kể rất nhiều về cậu!”

        “Ô, thật ạ,” y nói, đầu óc y chứa đầy sợ hãi, như tiếng đập cánh của một bầy dơi.

        “Không phải như thế đâu,” Jane nói, mỉm cười (cô cũng là một bác sĩ: một bác sĩ phụ khoa). “Anh ấy rất ngưỡng mộ cậu, Jude ạ; tôi rất vui vì cậu đã tới dự.” Y cũng gặp cả cha mẹ của Andy nữa, và vào cuối buổi tối, Andy choàng tay qua cổ y và trao cho y một cái hôn mạnh, lạ lùng lên má, mà anh vẫn thường làm mỗi khi họ gặp nhau. Andy luôn có vẻ không mấy thoải mái khi làm vậy, nhưng dường như bị cưỡng bách phải làm như vậy, mà y nhận thấy vừa buồn cười lại vừa cảm động.

        Y trân trọng Andy ở nhiều mặt, nhưng y trân trọng hơn cả là cái sự điềm tĩnh ở nơi anh. Sau khi họ gặp nhau, sau khi Andy đã cho thấy thật khó khăn để không tiếp tục nhìn thấy anh bằng việc xuất hiện ở Hood, đập cửa sau khi y đã bỏ hai buổi tái khám (y quên mất; y quyết định sẽ không tới đó nữa) và phớt lờ ba cuộc điện thoại và bốn bức thư điện tử, y đã chấp nhận sự thực rằng có lẽ việc có một vị bác sĩ cũng chẳng có gì là không tốt cả — và rằng Andy có lẽ là người mà y có thể tin tưởng. Lần thứ ba họ gặp nhau, Andy nghiên cứu bệnh án của y, hoặc những gì mà y cung cấp cho anh, và viết ra những điều y sẽ nói với anh mà không nhận xét hay phản ứng lại.

        Và thực ra, chỉ những năm sau này — không nhiều hơn bốn năm về trước — Andy mới trực tiếp đả động tới tuổi thơ của y. Đó là trận cãi cọ lớn đầu tiên của họ. Họ cũng có những cuộc cãi cọ nhỏ, dĩ nhiên là vậy, và sự bất đồng, và một hay hai lần trong năm Andy sẽ cho y một bài giảng dài lê thê (y gặp Andy cứ mỗi sáu tuần — dù gần đây gặp thường xuyên hơn — và luôn có thể đoán định cuộc gặp này sẽ là Buổi lên lớp dựa vào sự cộc lốc trong lời chào của Andy cũng như khi anh tiến hành kiểm tra cho y) về những gì mà Andy xem như là sự không tự nguyện đầy khó hiểu và chọc tức của y khi không chăm sóc bản thân mình đúng đắn, sự cự tuyệt điên rồ của y trong việc tới gặp bác sĩ tâm lý, và sự miễn cưỡng kỳ lạ của y khi sử dụng thuốc giảm đau mà có lẽ sẽ giúp cải thiện chất lượng cuộc sống của y.

        Trận cãi vã liên quan đến việc Andy cho rằng y đã cố tự vẫn mà không thành. Nó diễn ra ngay trước thềm năm mới, và y đã rạch tay mình, và vết cắt quá sâu, suýt tí nữa thì động vào tĩnh mạch, và dẫn đến một mớ hỗn độn, đẫm máu mà y buộc phải tìm đến Willem. Trong phòng khám đêm hôm đó, Andy từ chối nói chuyện với y, anh đã rất giận, và thực ra đã tự lẩm bẩm với bản thân mình khi anh khâu vết thương lại, mỗi một vết khâu đều gọn ghẽ và nhỏ xíu như là anh đang thêu chúng vậy.  

       

        Ngay cả trước khi Andy mở miệng trong cuộc gặp gỡ tiếp theo của họ, y vẫn biết rằng anh đang còn rất giận. Thực ra y đã cân nhắc đến việc không đến kiểm tra, trừ việc y biết rằng nếu y làm vậy, Andy sẽ đơn giản là tiếp tục gọi điện cho y — hay tệ hơn, là gọi cho Willem, hoặc tệ hơn nữa, gọi cho Harold — cho tới khi y xuất hiện thì thôi.

        “Mẹ kiếp, đáng lý ra tôi phải bắt cậu đi bệnh viện,” là lời đầu tiên của Andy, sau đó là, “tôi đúng là thằng ngốc khốn kiếp.”

        “Tôi nghĩ là anh hơi phản ứng thái quá,” y bắt đầu, nhưng Andy phớt lờ y.

        “Tôi ngẫu nhiên tin rằng cậu không cố tự sát, hoặc tôi đã làm cậu trả lời nhanh quá khiến cho đầu óc cậu choáng váng,” anh nói. “Chỉ là bởi vì theo thống kê, bất kỳ ai rạch tay mình nhiều như cậu, và trong nhiều năm như cậu, thì cũng ít có nguy cơ tự tử hơn một người không hay tự làm mình bị thương.” (Andy rất thích các số liệu thống kê. Y đôi khi nghi ngờ rằng anh đã bịa ra chúng.) “Nhưng mà Jude này, việc này thật điên rồ, và nó quá nguy hiểm. Hoặc là cậu tới gặp bác sĩ tâm lý ngay hoặc là tôi sẽ ép cậu phải làm như vậy.”

       

        “Anh không thể làm vậy,” y nói, lúc này bản thân y cũng tức giận, mặc dù y biết rằng Andy có thể làm được điều đó: y đã tìm hiểu về các điều luật cam kết không tự nguyện của bang New York, và chúng không phải là điều mà y thích.

       

        “Cậu biết là tôi có thể mà,” Andy nói. Lúc này anh gần như quát lên. Các buổi khám của họ luôn được thực hiện sau giờ làm việc, bởi vì đôi khi họ sẽ tán gẫu sau đó nếu như Andy có thời gian và ở trong tâm trạng tốt.

        “Tôi sẽ kiện anh,” y nói, đầy vô lý, và Andy quát lại y, “Cứ làm đi! Cậu có biết là chuyện này tệ hại ra sao không hả, Jude? Cậu có biết là cậu đang đẩy tôi vào đâu không hả?”

        “Đừng lo,” y trả lời, đầy mỉa mai, “Tôi không có gia đình mà. Sẽ chẳng có ai đi kiện anh vì một cái chết sai trái cả đâu.”

        Andy bước lùi lại, rồi, như thể y đang cố đánh anh. “Sao cậu lại dám nói như vậy,” anh nói, chậm chạp. “Cậu biết là đấy không phải là những gì tôi muốn nói mà.”

        Và dĩ nhiên là y biết. Nhưng “Dù sao,” y nói, “Tôi về đây.” Và y rời khỏi chiếc bàn (thật may làm sao, y đã không thay quần áo; Andy đã dạy dỗ y một trận trước khi y có cơ hội làm điều đó) và cố gắng rời khỏi căn phòng, cho dù việc rời khỏi căn phòng với tốc độ của y chẳng mấy ấn tượng, và Andy chạy tới ngưỡng cửa.

        “Jude,” anh nói, với một sự thay đổi đột ngột của tâm trạng, “tôi biết là cậu không muốn đi gặp bác sĩ. Nhưng chuyện này đang dần trở nên đáng sợ.” Anh dừng lại để thở. “Cậu đã bao giờ nói với ai về những chuyện từng xảy ra với cậu khi còn nhỏ hay chưa?”

        “Chẳng cần phải làm gì cả vì vốn dĩ có chuyện gì đâu,” y nói, cảm thấy lạnh lẽo. Andy chưa bao giờ nói về những điều y đã kể với anh, và y cảm thấy bị phản bội bởi việc anh làm vào lúc này.

        “Chẳng cần cái quái gì,” Andy nói, và y nhận thấy mấy lời ấy nghe mới kịch làm sao — có ai lại thực sự nói những điều ấy bên ngoài những bộ phim không? — khiến y không thể không cười, và Andy, nhầm lẫn nụ cười ấy với một sự mỉa mai, thay đổi đường hướng một lần nữa. “Sự bướng bỉnh của cậu có gì đó thật vô cùng kiêu ngạo, Jude ạ,” anh tiếp tục. “Sự kiên quyết cự tuyệt của cậu trong việc lắng nghe bất cứ ai tỏ ra quan ngại về sức khỏe hay sự hạnh phúc của cậu là một kiểu bệnh lý của việc tự hủy hoại hoặc đó là một kiểu tuyên bố kệ-mẹ-các-người với tất cả chúng tôi.”

        Y thấy bị tổn thương trước những lời này. “Và có gì đó đặc biệt quỷ quyệt trong con người anh khi anh đe dọa rằng sẽ ép buộc tôi bất kỳ khi nào tôi không đồng ý với anh, và đặc biệt là lần này, khi tôi đã nói với anh rằng đó chẳng qua chỉ là một tai nạn ngớ ngẩn mà thôi,” y mắng lại Andy. “Andy, tôi tôn trọng anh, tôi thực sự làm vậy. Tôi không biết mình sẽ xoay xở ra sao nếu không có anh. Nhưng tôi là người lớn rồi và anh không thể bắt tôi phải làm điều này hay điều nọ được.”

        “Cậu biết sao không, Jude?” Andy hỏi (giờ anh lại quát lên). “Cậu nói đúng. Tôi không thể thao túng các quyết định của cậu. Nhưng tôi cũng không cần phải chấp nhận chúng làm gì. Cứ việc đi mà kiếm kẻ khác làm bác sĩ của cậu. Tôi sẽ không làm việc này nữa.”

        “Được thôi,” y cắn lại, và bỏ đi.

        Y không thể nhớ nổi y từng tức giận vì chính mình như vậy khi nào. Có quá nhiều điều khiến cho y tức giận — sự bất công, sự bất tài, những vị đạo diễn không giao cho Willem phần vai diễn mà anh mong ước — nhưng y hiếm khi nào lại tức giận về những việc xảy ra hoặc đã từng xảy ra với mình: những nỗi đau của y, trong quá khứ và hiện tại, là những điều mà y vẫn cố gắng để không suy nghĩ tới, không hỏi tới trong những tháng ngày y tìm kiếm y nghĩa của cuộc dời. Y đã sẵn biết rằng tại sao chúng lại xảy ra: chúng xảy ra là bởi vì y đáng phải nhận lấy chúng.  

        Nhưng y cũng biết rằng cơn tức giận của y thật thiếu công bằng. Và dù y có bực bội bao nhiêu về sự phụ thuộc của mình vào Andy, y cũng cảm thấy biết ơn anh nhường ấy, và y biết Andy cũng nhận thấy hành vi của y thật phi lý. Nhưng công việc của Andy là giúp mọi người cảm thấy tốt hơn: Andy nhìn nhận y theo cái cách mà y nhìn vào một điều luật về thuế bị lạm dụng, như là một thứ gì đó không được sủa chữa và đã được sửa chữa — cho dù y nghĩ rằng y có thể sửa chữa gần như mọi điều có liên quan. Điều mà y đã cố gắng để sửa chữa — những vết sẹo đã biến cái lưng của y thành một bề mặt khủng khiếp, không bình hường, làn da bóng lên và căng ra như là lớp da của con vịt quay: lý do mà y tiết kiệm tiền — không phải là, y biết, điều mà Andy sẽ không chấp thuận. “Jude,” Andy sẽ nói nếu anh nghe được về dự định của y, “Tôi đảm bảo với cậu là nó chẳng ăn thua gì đâu, và cậu sẽ lãng phí toàn bộ tiền bạc mất thôi. Đừng làm vậy.”

        “Nhưng chúng thật kinh khủng,” y sẽ lầm bầm.

        “Không hề, Jude ạ,” Andy sẽ nói vậy. “Tôi thề có chúa là không phải như thế đâu.”

        (Nhưng dù sao y cũng sẽ không kể cho Andy, vì thế y sẽ không bao giờ phải nói chuyện như vậy.)

        Nhiều ngày qua đi và y không hề gọi cho Andy và Andy cũng chẳng gọi cho y. Như là một sự trừng phạt, cổ tay y nhức nhối vào ban đêm khi y cố gắng ngủ, và khi làm việc y quên mất và thường xuyên đập nó vào cạnh bàn trong lúc y đọc, một thói quen xấu mà y không cố gắng sửa chữa. Các mũi khâu rỉ máu sau đó, và y phải rửa sạch chúng, một cách đầy lóng ngóng, trong bồn rửa mặt.  

        “Sao thế?” Willem hỏi y vào một tối nọ.

        “Không sao cả,” y trả lời. Y có thể kể cho Willem nghe, dĩ nhiên, người sẽ lắng nghe và nói rằng “Ừm theo cái cách rất Willem của anh, nhưng mà y biết rằng anh sẽ đồng ý với Andy.

       

        Một tuần sau trận cãi cọ của họ, y trở về nhà ở phố Lispenard — đó là một ngày Chủ nhật, và y đã đi bộ khắp phía tây Chelsea — và Andy đợi y nơi bậc thang trước cửa ra vào.

       

        Y ngạc nhiên khi nhìn thấy anh. “Chào anh,” y mở miệng.

        “Chào,” Andy đáp lại. Họ đứng đó. “Tôi không chắc là cậu có chịu nghe điện thoại hay không.”  

        “Dĩ nhiên là có chứ.”

        “Nghe này,” Andy nói. “Tôi xin lỗi.”

        “Tôi cũng vậy. Tôi xin lỗi, Andy.”

        “Nhưng tôi thật sự nghĩ rằng cậu nên đi gặp bác sĩ tâm lý.”

        “Tôi hiểu.”

        Và bằng cách nào đó họ đã để vấn đề dừng lại ở đó: một thỏa thuận ngừng bắn mong manh và không mấy thỏa mãn, với câu hỏi về vị bác sĩ trị liệu tâm lý nằm trong khu vực phi quân sự xám xịt rộng lớn giữa họ. Sự thỏa hiệp (mặc dù giờ đây điều này đã được thỏa thuận như thế nào đối với y mà nói chẳng hề rõ ràng gì) là vào cuối mỗi một cuộc thăm khám của họ, y phải cho Andy xem cánh tay của mình, và Andy sẽ kiểm tra xem trên đó có những vết cắt mới hay không. Bất cứ khi nào anh tìm thấy một vết cắt mới, anh sẽ ghi nó vào trong cái bảng của mình. Y không chắc điều gì có thể dẫn tới cơn giân của Andy: đôi khi có rất nhiều vết cắt mới, và Andy sẽ chỉ rên lên và ghi lại, và đôi khi chỉ có một vài vết cắt mới và Andy vẫn sẽ tỏ ra kích động. “Cậu đang phá hỏng tay của mình đấy, cậu có biết không hả?” anh sẽ hỏi y như vậy. Nhưng y sẽ không nói gì, và để cho Andy dạy dỗ y một hồi. Một phần trong y hiểu rằng nếu y không để cho Andy làm công việc của mình — mà, rốt cuộc, là chữa trị cho y — y sẽ tỏ ra thiếu tôn trọng anh, và ở một mức độ nào đó sẽ biến Andy trở thành trò cười trong chính phòng khám của anh. Việc ghi lại của Andy — đôi khi y những muốn hỏi Andy rằng liệu y có nhận được giải thưởng nếu y đạt đến một con số nhất định nào đó hay không, nhưng y biết rằng điều ấy sẽ làm anh giận — là một cách để anh ít nhất cũng giả vờ rằng anh có thể kiểm soát được tình huống, cho dù là anh không thể: đó là một sự tích lũy của số liệu như là một khoản đền bù nho nhỏ cho việc điều trị thực tế.

        Và rồi, hai năm sau đó, một vết thương mở khác xuất hiện trên chiếc chân trái của y, mà vẫn luôn là chiếc chân phiền phức hơn cả, và những vết cắt của y bị xếp sang một bên trước tầm nghiêm trọng của cái chân. Ban đầu y có những vết thương này chưa đầy một năm sau vụ chấn thương, và nó đã lành lại nhanh chóng. “Nhưng vẫn chưa phải là kết thúc đâu,” vị bác sĩ phẫu thuật người Philadelphia đã từng nói như vậy. “Với một chấn thương như của cháu, mọi thứ — hệ mạch, hệ thống da — đã bị tổn hại đến mức mà cháu hãy chuẩn bị lường trước chúng sẽ xuất hiện vào lúc này hay lúc khác.”

        Đây là lần thứ mười một y bị như vậy, vì thế mặc dù y đã chuẩn bị sẵn sàng về mặt tinh thần, y vẫn không biết được nguyên nhân dẫn đến điều đó (Một vết cắn của côn trùng? Một sự va quệt với cạnh của chiếc tủ hồ sơ bằng kim loại? Đó vẫn luôn là một điều gì đó thật vô cùng nhỏ nhặt, nhưng vẫn có thể làm rách da y dễ dàng như thể nó được làm bằng giấy vậy), và y không bao giờ ngừng ghê tởm trước nó: sự mưng mủ, cái thứ mùi bệnh hoạn, tanh lòm của nó, vết cắt nhỏ, như là miệng của một bào thai, sẽ xuất hiện, tuôn ra thứ chất lỏng xấu xa, không thể xác định. Như vậy thật không tự nhiên, cái thứ vẫn thường thấy trong những bộ phim về quái vật và các sinh vật huyền bí, khi đi lại với một vết thương hở mà sẽ không, và không thể lành lại. Y bắt đầu tới gặp Andy vào mỗi tối thứ Sáu để anh có thể cạo mủ vết thương, rửa sạch nó và loại bỏ những phần thịt bị hoại tử và kiểm tra khu vực xung quanh nó, nhìn vào phần da mới mọc lên, trong khi y cố gắng điều hòa hơi thở và nắm chặt lấy cạnh bàn và cố gắng để không hét lên.  

        “Khi nào đau cậu phải nói với tôi nhé Jude,” Andy nói, khi y hít thở và đổ mồ hôi và cố gắng đếm số trong đầu. “Việc cậu cảm thấy đau là một điều tốt, không phải là điều tồi tệ đau. Như thếl có nghĩa là các dây thần kinh vẫn còn hoạt động và vẫn làm nhiệm vụ của chúng.”

        “Đau lắm,” y thốt lên.

        “Ở mức độ nào từ một đến mười?”

        “Bảy. Tám.”

        “Tôi xin lỗi,” Andy trả lời. “Tôi gần xong rồi đây, tôi hứa đấy. Chỉ năm phút nữa mà thôi.”

        Y nhắm mắt lại và đếm đến ba trăm, khiến cho cảm xúc của y ổn định trở lại.

        Khi việc này kết thúc, y sẽ ngồi dậy, và Andy sẽ ngồi xuống với y và đưa cho y một thứ gì đó để uống: một lon soda, một thứ gì đó có đường, và y sẽ cảm thấy căn phòng bắt đầu trở nên rõ ràng hơn, dần bớt mơ hồ đi một chút. “Chậm thôi,” Andy sẽ nói vậy, “không là cậu sẽ nôn đấy.” Y sẽ quan sát khi Andy băng bó vết thương — anh sẽ luôn ở trong trạng thái bình tĩnh nhất khi anh khâu hay băng bó các vết thương — và trong những thời điểm ấy, y sẽ cảm thấy thật yếu đuối đến mức y sẽ đồng ý với bất kỳ điều gì mà Andy có thể đưa ra.

       

        “Cậu không được cắt chân mình đâu nhé,” Andy sẽ nói thế, một lời khẳng định hơn là một câu hỏi.

        “Không đâu, tôi sẽ không làm vậy.”

        “Bởi vì như thế là quá mức điên rồ, kể cả là với cậu.”

        “Tôi biết.”

        “Cơ thể cậu đã bị thoái hóa đến nỗi nó rất dễ bị nhiễm trùng.”

        “Andy. Tôi biết mà.”

        Nhiều khi, y nghi ngờ rằng Andy đã bí mật nói chuyện với các bạn của y, và có những khi họ sẽ sử dụng thứ ngôn ngữ và các lời của Andy, và thậm chí là bốn năm sau “Sự kiện ấy,” theo cách gọi của Andy, y ngờ rằng Willem vẫn luôn kiểm tra sọt rác trong phòng tắm vào buổi sáng, và y càng cẩn thận hơn những khi vứt đi những chiếc dao lam của mình, gói chúng lại trong lớp giấy ăn và băng dính và vứt chúng vào một cái sọt rác nằm trên quãng đường y đi đến văn phòng. “Đám bạn của cậu,” Andy gọi họ như vậy: “Dạo này cậu và đám bạn của cậu làm gì?” (khi mà anh ở trong tâm trạng tốt) và “Tôi sẽ nói với đám bạn khốn kiếp của cậu rằng họ cần phải để mắt đến cậu” (khi mà anh bực bội).

        “Anh dám làm vậy ư, Andy,” y sẽ nói. “Và dù sao, đấy cũng chẳng phải là trách nhiệm của họ.”

        “Dĩ nhiên là có đấy,” Andy sẽ vặn lại. Cũng như là những vấn đề khác, họ cũng chẳng thể tìm thấy sự đồng thuận trước điều này.

        Nhưng giờ đây đã hai mươi tháng sau khi vết thương gần đây nhất hở ra và nó vẫn chưa lành lại. Hay đúng hơn, nó đã lành và rồi lại lại vỡ ra và rồi lành lại, và rồi y thức dậy vào ngày thứ Sáu và cảm thấy có gì đó ẩm ướt và dính dấp ở chân mình — bên dưới bắp chân, ngay phía trên mắt cá chân — và biết rằng nó đã nứt ra. Y vẫn chưa gọi cho Andy — y sẽ làm vậy vào ngày thứ Hai — nhưng y cảm thấy chuyến đi dạo lần này thật quan trọng, bởi vì y sợ rằng đó sẽ là chuyến bách bộ cuối cùng của y trong một khoảng thời gian, có lẽ là trong nhiều tháng nữa.

        Lúc này y đang ở ngã tư giao giữa đại lộ Madison với phố Bảy-mươi-nhăm, rất gần với phòng khám của Andy, và chiếc chân của y đau đến mức khi đi qua đại lộ Năm y đã phải ngồi xuống một chiếc ghế đá cạnh bức tường bao quanh công viên. Ngay khi y ngồi xuống, y cảm thấy một cơn chóng mặt quen thuộc, dạ dày y dâng lên cơn buồn nôn, và y cúi xuống và đợi cho tới khi xi-măng lại trở thành xi-măng và y có thể đứng dậy được. Y cảm thấy trong những giây phút ấy cơ thể như phản bội y, làm thế nào mà đôi khi cái cuộc đấu tranh chính yếu, tẻ nhạt trong cuộc đời y lại chính là sự không sẵn lòng chấp nhận rằng y sẽ bị nó phản bội hết lần này đến lần khác, rằng y chẳng thể trông đợi được điều gì từ nó mà vẫn phải duy trì lấy nó. Có rất nhiều lúc, y và Andy, cố gắng sử chữa một điều gì đó không thể sửa chữa nổi, một điều gì đó đáng lý ra đã phải trở thành lớp than bùn trên đống xỉ than vào nhiều năm về trước. Và vì cái gì? Tâm trí y, y cho là vậy. Nhưng còn – như Andy có lẽ từng nói — có điều gì đó đặc biệt kiêu ngạo về điều này, như thể y đang cố cứu một chiếc xe cà tàng bởi vì y có sự gắn bó tình cảm với hệ thống âm thanh của nó.  

        Nếu như mình đi bộ quanh vài khu nhà nữa, mình có thể tới phòng khám của anh ấy, y nghĩ, nhưng y không làm vậy. Đó là ngày Chủ nhật. Andy xứng đáng được nghỉ ngơi một chút khỏi y, và ngoài ra, những gì y cảm thấy vào lúc này không phải là điều mà y chưa từng cảm thấy trước đây.

        Y đợi thêm một vài phút nữa và rồi cố gắng đứng dậy, nơi y đứng trong vòng nửa phút trước khi ngã lại xuống ghế. Cuối cùng y cũng có thể đứng vững. Y vẫn chưa sẵn sàng, nhưng y có thể hình dung thấy cảnh mình đi bộ bên lề đường, giơ tay lên để gọi một chiếc taxi, dựa đầu nghỉ ngơi vào mặt ghế bọc da của băng ghế sau. Y có thể đếm số bước chân để tới được đó, cũng như là y sẽ đếm số bước chân từ chỗ chiếc xe trở về tòa nhà mà y sinh sống, từ chỗ thang máy vào đến căn hộ, và từ cửa ra vào tới phòng của y. Khi y tập đi lần thứ ba – sau khi cái kẹp ở chân y đã được lấy ra — chính Andy đã hướng dẫn chuyên gia vật lý trị liệu (bà không lấy làm hài lòng cho lắm, nhưng vẫn nghe theo lời đề nghị của anh), và Andy là người, như Ana vào bốn năm trước đó, theo dõi y tập bước đi quãng đường dài mười phút, và rồi hai mươi phút, và rồi năm mươi, và rồi một trăm. Dáng đi của y — cái chân trái giơ lên để tạo thành một góc gần chín mươi độ so với mặt đất, tạo thành một hình chữ nhật, chiếc chân phải nhấc lên sau đó — được lập trình bởi Andy, người sẽ bắt y phải tập luyện hàng giờ cho tới khi y có thể tự mình làm được việc đó. Chính Andy là người đã nói với y rằng anh cho là y có thể đi lại mà không cần phải dùng đến nạng, và khi y cuối cùng cũng làm được điều đó, y đã nói lời cảm ơn với Andy.

        Thứ Hai không còn xa nữa, y tự nhủ khi chật vật đứng yên, và Andy sẽ gặp y như mọi khi, dù anh có bận rộn đến đâu. “Cậu thấy nó vỡ ra khi nào?” Andy sẽ hỏi, nhẹ nhàng đặt lên đó một miếng gạt. “Thứ Sáu,” y trả lời. “Tại sao cậu lại không gọi cho tôi, hả Jude?” Andy sẽ nói, bực bội. “Dù sao, tôi mong là cậu không thực hiện cái chuyến đi dạo ngu ngốc của cậu.” “Không, dĩ nhiên là không,” y sẽ nói vậy, nhưng Andy sẽ chẳng tin y. Đôi khi y tự hỏi rằng liệu Andy có nghĩ về y như là một tập hợp của những con virus và những sự trục trặc hay không: Nếu như anh loại bỏ chúng đi, thì y sẽ là ai? Nếu như Andy không chăm sóc cho y, thì liệu anh có còn quan tâm đến y nữa hay không? Nếu như y xuất hiện toàn vẹn vào một ngày nào đó, bước đi cũng dễ dàng như là Willem và JB mà không hề nhận ra, cái cách mà anh dựa người vào ghế và để cho chiếc áo sơ mi nhấc lên khỏi hông mình mà không hề sợ hãi, hay với cánh tay dài của Malcolm, phần da ở mặt trong mịn màng như là lớp kem, thì y sẽ là gì trong mắt Andy?  Y sẽ là ai trong mắt tất cả bọn họ? Liệu bọn họ sẽ ít thích y hơn? Hay nhiều hơn? Hay là y sẽ nhận ra — như là y vẫn thường sợ hãi — rằng những gì mà y hiểu như là tình bạn thực ra được tạo nên từ sự thương hại mà họ dành cho y? Có bao nhiêu phần từng là trong y không thể thoát ra được khỏi những điều mà y không thể làm? Y sẽ trở thành ai, y sẽ là cái gì, nếu không có những vết sẹo này, những vết cắt này, những cơn đau này, những cơn nhức mỏi, những vết loét, những cái xương gãy, những vết nhiễm trùng, những thanh nẹp xương, những phần thịt thà bị loại thải?

        Nhưng dĩ nhiên là y sẽ không bao giờ biết. Sáu tháng trước, họ đã có thể kiểm soát được vết thương, và Andy đã kiểm tra nó, kiểm tra đi và kiểm tra lại, trước khi đưa ra một loạt những lời cảnh báo về việc y nên làm gì nếu nó lại vỡ ra.

       

        Y chỉ nghe có một nửa. Y cảm thấy không tập trung trong ngày hôm đó vì một nguyên nhân nào đó, nhưng Andy hay cáu kỉnh, và đi kèm với một bài giảng về cái chân của y, y cũng phải chịu thêm một bài giảng khác về việc y tự cắt lên cơ thể mình (quá nhiều, Andy nghĩ), và vẻ bề ngoài của y (quá gầy, Andy nghĩ).

        Y ngắm nhìn cái chân của mình, xoay nó và kiểm tra nơi vết thương vừa mới lành lại, khi Andy cứ nói và nói. “Cậu có nghe tôi không đấy, Jude?” cuối cùng anh cũng hỏi.

        “Nó có vẻ ổn,” y bảo với Andy, không trả lời câu hỏi của anh, nhưng lại muốn sự cam đoan của anh. “Đúng không?”

        Andy thở dài. “Nó trông —” Và rồi anh dừng lại, và rồi im lặng, và y nhìn lên, thấy Andy nhắm mắt lại, như thể đang cố tập trung lại, và rồi lại mở mắt ra. “Nó trông ổn, Jude ạ,” anh nói, khe khẽ. “Đúng vậy.”

        Y cảm thấy, sau đó, một sự biết ơn lớn lao, bởi vì y biết rằng Andy không hề nghĩ rằng cái chân trông thật ổn, và sẽ không bao giờ nghĩ như vậy. Đối với Andy, cơ thể của y là một cuộc thảm sát khủng bố, một thứ mà cả hai người bọn họ phải luôn chú ý tới. Y biết là Andy nghĩ rằng y đang tự hủy hoại bản thân, hay bị ảo tưởng, hay đang cố phủ nhận một điều gì đó.

        Nhưng điều mà Andy không bao giờ hiểu được về y là: y là một kẻ lạc quan. Mỗi một tháng, mỗi một tuần, y đều lựa chọn mở mắt ra, để sống thêm một ngày nữa trên cõi đời này. Y làm điều đó khi mà y cảm thấy khủng khiếp đến nỗi cơn đau dường như đã đưa y tới một trạng thái khác, một trong số tất cả những điều, thậm chí là cả cái quá khứ mà y cố gắng quên đi, dường như đều nhạt nhòa thành một thứ màu xám xịt. Y làm điều đó khi những kí ức của y xâm chiếm mọi suy nghĩ khác, khi mà nó cần đến nỗ lực thật sự, sự tập trung thực sự, để y có thể buộc chặt chính mình vào cuộc đời hiện tại, để giữ cho bản thân mình khỏi phát điên lên với sự tuyệt vọng và tủi nhục. Y làm điều đó khi y quá mức mệt mỏi vì cứ phải cố gắng, khi việc thức dậy và tồn tại đòi hỏi quá nhiều năng lượng nên y phải nằm trên giường để mà nghĩ về những lý do để có thể ngồi dậy và cố gắng lần nữa, khi mà việc vào phòng tắm và lấy ra một con dao lam và cồn và băng gạc khỏi cái túi từ nơi y giấu nó bên dưới bồn rửa mặt lại dễ dàng và dễ chịu hơn nhiều. Đó chính là những ngày vô cùng tồi tệ.

       

        Cái đêm trước đêm giao thừa ấy, thực sự là một tai nạn, khi y ngồi trong phòng tắm và di lưỡi dao dọc theo cánh tay mình: y vẫn còn ngái ngủ; bình thường y chẳng bao giờ bất cẩn đến thế. Nhưng khi y nhận ra mình đã làm gì, chỉ sau một, hoặc hai phút — như y đã đếm — y thực sự không biết cần phải làm gì, khi cứ ngồi đó, và để cho cái tai nạn này trở thành sự kết thúc của chính nó, có vẻ như là dễ dàng hơn so với việc y tự mỉnh quyết định, một quyết định vượt qua  bản thân y và kéo theo vào đó cả Willem, và Andy, và những ngày và những tháng sau này nữa.

        Rốt cuộc, y không biết, điều gì đã khiến y tóm lấy chiếc khăn tắm được treo trên móc và quấn nó quanh tay mình, và rồi đứng lên và gọi Willem dậy. Nhưng với mỗi một phút qua đi, y lại dịch chuyển càng xa hơn khỏi sự lựa chọn khác, các sự kiện tự mình mở ra với một tốc độ mà y không tài nào kiểm soát được, và y nhớ đến cái năm ngay sau khi xảy ra chấn thương, trước khi y gặp Andy, khi có vẻ như mọi thứ đều đang tiến bộ, và rằng con người tương lai của y có thể trở nên sáng sủa và sạch sẽ, khi mà y chẳng biết chi nhiều nhưng vẫn mang trong mình cái hy vọng đó, và một niềm tin rằng niềm hy vọng của y có lẽ sẽ được đền đáp vào một ngày nào đó. 

 

***


[1] Gujarat: một bang của Ấn Độ

 

 

 

Advertisements