PHẦN II

 

Hậu-Đàn Ông

***

 

 

28a17d1e30ddd8b95701125d2918eefb

 

 

CHƯƠNG 1

 

         NHỮNG NGÀY THỨ BẢY ĐƯỢC DÀNH CHO công việc, nhưng ngày Chủ nhật là để đi dạo. Những cuộc đi dạo được bắt đầu vào năm năm trước, khi y vừa chuyển tới thành phố này và biết rất ít về nó: mỗi tuần, y sẽ chọn ra một khu vực khác nhau và đi bộ từ phố Lispenard tới đó, và rồi đi vòng quanh, khám phá toàn bộ chu vi của nó, rồi quay về nhà. Y chẳng bao giờ bỏ lỡ một ngày Chủ nhật nào, trừ khi tình hình thời tiết khiến việc này trở nên bất khả thi, và thậm chí là cho tới tận bây giờ, dù y đã đi qua mọi khu vực của Manhattan, và cả nhiều khu ở Brooklyn và Queens nữa, y vẫn ra khỏi nhà mỗi sáng Chủ nhật vào lúc mười giờ, và chỉ quay về khi chuyến đi của y đã hoàn tất. Chuyến đi từ lâu đã thôi trở thành điều mà y yêu thích, mặc dù y không hề không thích chúng, chẳng qua — đó chỉ đơn giản là một việc y làm. Trong một khoảng thời gian, y cũng từng phấn khởi xem chúng như là thứ gì đó hơn hẳn một sự rèn luyện cơ thể, có lẽ là một phương pháp phục hồi sức khỏe, như một buổi vật lý trị liệu cá nhân, bất kể cái thực tế rằng Andy không hề đồng tình với y, và thực ra không chấp thuận cho cuộc đi dạo của y. “Tôi không có ý kiến gì với việc cậu muốn luyện tập cho cái chân của mình,” anh nói. “Nhưng trong trường hợp đó, cậu nên bơi hơn, chứ không nên lê cái chân của cậu hết lên rồi xuống khắp các vỉa hè.” Thực ra y không hề e ngại với việc bơi lội, nhưng không có nơi nào đủ riêng tư để y có thể bơi cả, vì thế mà y không làm vậy.

        Đôi khi Willem sẽ tham gia cùng y trong những chuyến đi dạo, và giờ đây, nếu như lộ trình của y có đi qua nhà hát, y sẽ lên lịch hẹn để họ có thể gặp nhau tại quầy bán nước hoa quả dưới phố sau suất diễn ban chiều. Họ sẽ mua nước cho mình, và Willem sẽ kể cho y nghe về buổi diễn và sẽ mua một suất salad để ăn trước khi suất diễn tối bắt đầu, và y sẽ lại tiếp tục đi về phía nam, hướng về nhà.

        Họ vẫn sống ở phố Lispenard, dù cả hai người bọn họ đều đã có thể chuyển tới căn hộ riêng của mình: y, chắc chắn rồi; Willem, thì có thể. Nhưng không ai trong số họ từng đề cập đến việc rời đi với người kia, và vì thế mà không ai chuyển đi cả. Tuy nhiên, họ đã cải tạo một nửa phòng khách không dùng đến để làm phòng ngủ thứ hai, nhóm bọn họ đã dựng lên một bức tường đá vào một cuối tuần, vì vậy giờ đây khi anh bước vào nhà, chỉ còn có ánh sáng ảm đạm từ hai ô cửa sổ, chứ không phải là bốn, chào đón anh. Willem sử dụng phòng ngủ mới, và y ở lại căn phòng cũ.

        Ngoài những chuyến viếng thăm trước cửa rạp hát, có cảm giác như thể y không hề gặp Willem vào những ngày này, và mặc dù Willem cứ nói rằng mình biếng nhác ra sao, hình như anh lúc nào cũng đang làm việc, hay cố gắng làm việc: ba năm trước, vào sinh nhật thứ hai mươi chín của mình, anh đã thề rằng anh sẽ rời khỏi Ortolan trước khi anh bước sang tuổi ba mươi, và hai tuần trước sinh nhật lần thứ ba mươi của anh, hai người bọn họ ở trong căn hộ, tụ họp trong căn phòng khách mới được sửa sang lại của mình, Willem khi đang lo lắng về việc liệu anh có thể xoay sở nổi nếu từ bỏ công việc, thì anh nhận được một cuộc điện thoại, cuộc gọi mà anh vẫn hằng chờ mong suốt bao năm. Vở kịch đến từ cuộc gọi đó thu được thành công vừa đủ, và mang đến cho Willem vừa đủ sự chú ý, cho phép anh bỏ việc tại Ortolan sau đó mười ba tháng: chỉ chậm hơn có một năm so với hạn định mà anh tự đề ra. Jude đã tới xem vở diễn của Willem — một vở kịch về đề tài gia đình có tên gọi The Malamud Theorem[1], kể về một vị giáo sư văn học trong những năm đầu đầy khắc nghiệt của chứng mất trí, và người con trai xa cách của ông, một nhà vật lý — những năm lần, hai lần cùng với Malcolm và JB, và một lần với Harold và Julia, những người ở lại thành phố vào cuối tuần, và vào mỗi lần y lại cố quên đi rằng đấy là người bạn cũ của y, người bạn cùng nhà với y, đang ở trên sân khấu kia, và sau tiếng vỗ tay mời diễn viên ra chào một lần nữa, y cảm thấy vừa tự hào lẫn ghen tị, như thể sự tôn vinh trên sân khấu cho thấy uy thế của Willem trong một lĩnh vực nhất định của cuộc sống, một điều mà chẳng mấy dễ dàng đến được với y.

          Sự tiếp cận của y đối với tuổi ba mươi không gây ra một sự hoang mang âm ỉ, không một sự bối rối trong hành động, không cần thiết phải sắp xếp lại những nguyên tắc chung trong cuộc sống của y để cho giống với một cuộc đời ở tuổi ba mươi vốn dĩ phải trở thành. Tuy vậy, điều này lại không đúng với các bạn y, và y đã dành ra ba năm cuối của lứa tuổi hai mươi để lắng nghe lời ca tụng của họ về cái thập niên này, và chi tiết về việc họ đã hay không làm những gì, và cả một danh mục liệt kê những điều mà họ căm ghét về bản thân và những điều hứa hẹn. Rồi thì, mọi việc cũng thay đổi. Căn phòng ngủ thứ hai, chính là một ví dụ, một phần được dựng nên bởi nỗi sợ hãi của Willem trước việc đã bước sang cái tuổi hai mươi tám mà vẫn ở chung phòng với người bạn cùng phòng từ thời đại học, và cùng một nỗi lo sợ — nỗi sợ rằng, giống như là câu chuyện cổ tích vậy, bước rẽ sang cái tuổi bốn mươi sẽ biến đổi họ thành một thứ gì đó khác, một thứ gì đó nằm ngoài tầm kiểm soát của họ, trừ khi họ đón đầu nó bằng những lời tuyên bố quyết liệt của mình — được truyền cảm hứng bởi sự vội vàng chuyển ra ở riêng của Malcolm, để rồi vào năm sau cậu bắt đầu hẹn hò với một cô gái.

        Nhưng bất kể sự lo lắng của các bạn mình, y biết rằng y sẽ yêu thích việc bước vào độ tuổi ba mươi, bởi vì cái lý do mà bọn họ vẫn cảm thấy chán ghét nó: bởi vì không nghi ngờ gì nữa đó là cái tuổi của sự trưởng thành. (Y mong đợi tới tuổi ba mươi nhăm, khi mà y sẽ có thể nói rằng y đã làm người lớn gấp đôi số năm y làm trẻ con.) Hồi y mới lớn, ba mươi là một cái tuổi xa vời, khó lòng mà tưởng tượng nổi. Y nhớ rõ khi còn là một cậu nhóc bé xíu — đó là khi y còn sống trong tu viện – và hỏi Tu huynh Michael, người vẫn luôn thích kể với y về những chuyến đi mà ông đã thực hiện trong đời mình, khi nào thì cả y nữa cũng có thể đi đó đi đây.

        “Khi nào em lớn hơn,” Tu huynh Michael nói.

        “Khi nào cơ ạ?” y hỏi. “Năm sau ạ?” Khi ấy, thậm chí một tháng dường như cũng kéo dài vô tận.

        “Nhiều năm nữa,” Tu huynh Michael trả lời. “Khi mà em lớn hơn. Khi em ba mươi tuổi.” Và giờ đây, chỉ trong vòng vài tuần nữa, y sẽ bước sang tuổi ba mươi.

        Vào những ngày Chủ nhật này, khi y chuẩn bị rời khỏi nhà cho chuyến đi bộ, đôi khi y sẽ đứng, chân trần, trong căn bếp, xung quanh y mọi thứ thật yên tĩnh, và căn hộ chật chội xấu xí có cảm giác giống như một phép màu. Ở đây, thời gian là của y, và không gian là của y, và mọi cánh cửa đều có thể đóng lại, mọi ô cửa sổ đều có thể khóa chặt. Y sẽ đứng trước cánh cửa của căn phòng để đồ bé xíu — thực ra là một hốc tường, ở phía trên được treo một tấm vải bố dài — và ngắm nhìn những thứ được cất ở trong đó. Ở phố Lispenard, không hề có sự cướp bóc vào đêm khuya như trong hàng rượu ở khu West Broadway vì một cuộn giấy vệ sinh, không phải nhăn mũi vì một hộp sữa hỏng bị bỏ quên trong tủ lạnh: ở đây, luôn có đồ dự phòng. Ở đây, mọi thứ đều được thay thế khi cần thiết. Y luôn đảm bảo về điều đó. Trong năm đầu tiên họ sống ở phố Lispenard y đã nhận ra thói quen của mình, mà y biết rằng nó hẳn phải thuộc về một người lớn tuổi hơn nhiều và có thể là của phụ nữ, và đã giấu kho giấy vệ sinh dự trữ của mình dưới gầm giường, cất các phiếu giảm giá vào trong va li để xem lại vào những khi Willem không có ở nhà, như thể chúng là một dạng phim khiêu dâm khác lạ nào đó. Nhưng vào một ngày nọ, Willem phát hiện ra nơi cất giấu của y trong lúc tìm kiếm chiếc tất mà anh vừa lỡ đá vào gầm giường.

  

        Y đã rất xấu hổ. “Tại sao?” Willem hỏi y. “Tôi nghĩ rằng như thế thật tốt. Cảm ơn cậu vì đã để ý đến những việc như thế.” Nhưng điều đó vẫn khiến y cảm thấy yếu đuối, lại là một bằng chứng nữa được thêm vào hồ sơ với quá nhiều những chứng cứ cho thấy sự khó tính đến mức ám ảnh của y, trước sự bất lực cơ bản và không thể thay đổi của mình trong việc trở thành loại người mà y vẫn cố gắng khiến mọi người tin rằng y là như vậy.

        Và dẫu vậy — cùng với cả nhiều điều khác nữa — y chẳng thể ngăn được chính mình. Liệu y có thể giải thích với ai đây, rằng, y tìm thấy sự thỏa mãn và an toàn ở con phố Lispenard không được ưa chuộng này, trong những món đồ mà y tích trữ thành đống, cũng giống như là đối với bằng cấp và công việc của y? Hay là những thời điểm một mình trong căn bếp cũng na ná như là việc thiền định, là những khoảng thời gian duy nhất mà y nhận thấy bản thân mình thật sự thư giãn, tâm trí y ngừng tiến về phía trước, lên kế hoạch trước cho hàng ngàn sự chệch hướng và mù mờ của sự thật, của thực trạng, mà đòi hỏi mọi sự tương tác của y với thế giới này và các cư dân của nó? Với không một ai cả, y biết, thậm chí là cả Willem đi chăng nữa. Nhưng sau nhiều năm y đã học được cách giữ những suy nghĩ cho riêng mình; không giống với các bạn mình, y đã học được rằng đừng nên chia sẻ những bằng chứng về sự khá lạ của mình như là một cách để phân biệt bản thân với những người khác, cho dù y cảm thấy thật hạnh phúc và tự hào khi họ chia sẻ những đặc điểm ấy của họ với y.

        Ngày hôm nay y sẽ đi bộ lên khu Upper East Side: từ khu West Broadway tới  Quảng trường Washington, từ Trường đại học và qua Quảng trường Thống nhất, và từ   Broadway đi lên Đại lộ Năm, y sẽ đi dọc con đường này cho tới khi gặp Phố Tám mươi sáu, và rồi đi xuống đại lộ Madison để tới phố Hai mươi tư, nơi mà y sẽ đi về phía đông để tới phố Lexington trước khi tiếp tục đi về phía nam và phía đông một lần nữa để tới được phố Irving, nơi mà y sẽ gặp Willem bên ngoài nhà hát. Đã nhiều tháng, gần như là một năm, kể từ khi y đi theo lộ trình này, đó là bởi vì quãng đường rất xa và cả bởi vì y từng dành ra mọi ngày thứ Bảy ở khu Upper East Side, trong một ngôi nhà trên phố không xa mấy so với nhà của ba mẹ Malcolm, nơi mà y làm gia sư cho một cậu bé mười hai tuổi tên Felix. Nhưng giờ là vào giữa tháng Ba, đương kỳ nghỉ mùa xuân, và Felix và gia đình cậu bé đang đi nghỉ ở Utah, và điều ấy có nghĩa là y không sợ phải chạm mặt họ.

        Cha của Felix là một người bạn của cha mẹ Malcolm, và chính cha Malcolm là người đã giới thiệu với y công việc ấy. “Họ thật sự không trả đủ lương cho cháu ở Văn phòng Luật sư Hoa Kỳ, đúng không?” ông Irvine hỏi y. “Bác không biết tại sao cháu lại không để cho bác giới thiệu cháu với Gavin nhỉ?” Gavin là một trong những người bạn của ông Irvine tại trường luật, người giờ đây là chủ tịch của một trong những hãng luật đầy quyền lực của thành phố.

        “Ba, cậu ấy không muốn làm việc cho hãng luật tư nhân đâu,” Malcolm bắt đầu, nhưng cha cậu vẫn tiếp tục nói như thể Malcolm chưa nói một lời nào, và Malcolm ngồi thõng xuống cái ghế của mình. Y thấy buồn cho Malcolm, nhưng cũng cảm thấy khó chịu, vì y đã nhờ Malcolm kín đáo hỏi thăm cha mẹ mình xem liệu họ có quen ai đang tìm gia sư cho con hay không, chứ không phải thực sự hỏi họ.

        “Mặc dù, thực ra,” cha của Malcolm nói với y, “bác nghĩ rằng thật tuyệt vời khi cháu muốn tự tạo dựng con đường của riêng mình.” (Malcolm thậm chí còn lùi sâu hơn vào trong chiếc ghế của mình.) “Nhưng cháu thật sự cần tiền đến mức ấy ư? Bác không nghĩ rằng chính quyền bang lại trả lương tệ thế, nhưng có lẽ là bác làm việc trong cơ quan nhà nước cách đây lâu quá rồi.” Ông cười toe toét.

        Y mỉm cười đáp lại. “Không ạ,” y trả lời, “lương cũng ổn.” (Thực vậy. Điều đó không đúng đối với ông Irvine, dĩ nhiên, hay là Malcolm, nhưng số tiền ấy nhiều hơn hẳn những gì mà y từng mơ ước, và cứ mỗi hai tuần lương lại về, luôn luôn là một sự cộng dồn của các con số.) Cháu chỉ đang tiết kiệm cho một khoản nọ.” Y nhìn thấy khuôn mặt của Malcolm quay sang phía y, và y tự nhắc mình rằng cần phải nói cho Willem biết lời nói dối mà y đang kể với cha của Malcolm trước khi Malcolm tự nói với Willem. 

        “Ôi chà, mừng cho cháu,” ông Irvine nói. Đó là một mục tiêu mà ông có thể hiểu được. “Và tình cờ, bác có biết một người này đây.

        Người đó là Howard Baker, người đã thuê y sau mười lăm phút phỏng vấn điên cuồng để dạy con trai ông về tiếng La tinh, toán, tiếng Đức, và đàn piano. (Y băn khoăn tự hỏi tại sao ông Baker lại không thuê các chuyên gia riêng cho từng môn học — ông hoàn toàn có thể kham nổi chi phí đó — nhưng y không hỏi ông.) Y cảm thấy thương Felix, một cậu nhóc nhỏ con và không thú vị, và có thói quen hay ngoáy mũi, ngón tay trỏ của cậu bé chọc vào lỗ mũi cho tới khi cậu tự mình nhớ ra và nhanh chóng rút tay ra, chùi tay vào mép quần bò. Tám tháng sau, y vẫn không nhìn rõ được khả năng của Felix. Cậu bé không hề ngốc, nhưng chịu dằn vặt bởi việc thiếu mất niềm đam mê, như thể, ở cái tuổi mười hai, cậu bé đã hoàn toàn chấp nhận cái thực tế rằng cuộc đời là một sự thất vọng, và cậu là một sự thất vọng đối với những con người có trong đó. Cậu bé luôn luôn đợi sẵn, đúng giờ với toàn bộ số bài tập được giao đã hoàn thành, mọi thứ Bảy vào lúc một giờ chiều, và cậu bé sẽ ngoan ngoãn trả lời mọi câu hỏi — những câu trả lời của cậu luôn kết thúc với một sự lo lắng, ở dạng câu hỏi với quãng âm cao hơn hẳn, như thể mỗi một trong số đó, ngay cả điều đơn giản nhất (“Salve, Felix, quid agis?” “Um … bene?”)[2], cũng là một sự ước đoán liều lĩnh — nhưng cậu bé chẳng bao giờ có câu hỏi của riêng mình, và khi y hỏi Felix rằng có chủ đề cụ thể nào mà cậu muốn thử thảo luận bằng thứ ngôn ngữ khác hay không, Felix sẽ nhún vai và lầm bầm, ngón tay cậu lại đưa về phía cái mũi. Y luôn có cái ấn tượng rằng, khi vẫy tay chào tạm biệt Felix vào cuối buổi chiều — Felix bơ phờ giơ tay lên trước khi lui vào hành lang — rằng cậu bé không bao giờ rời khỏi nhà, không bao giờ ra ngoài, không bao giờ có bạn tới chơi. Felix tội nghiệp: bản thân cái tên của cậu bé đã là một sự chế nhạo[3].

        Vào tháng trước, ông Baker yêu cầu được nói chuyện với y sau giờ học, và y chào tạm biệt Felix và đi theo người giúp việc tới thư phòng. Dáng đi khập khiễng của y có thể thấy rõ được vào ngày hôm ấy, và y lúng túng, cảm thấy — như y vẫn thường cảm thấy — như thể y đang sắm vai một nữ gia sư nghèo khổ trong một tác phẩm của Dicken.

        Y những tưởng sẽ trông thấy sự sự khó chịu nơi ông Baker, có thể là giận dữ, mặc dù Felix đã đạt được tiến bộ đáng kể ở trường, và y đã sẵn sàng để tự biện hộ cho mình nếu cần thiết — ông Baker trả lương cho y nhiều hơn mức mà y dự đoán, và y đã có kế hoạch cho số tiền mà y kiếm được ở đây — nhưng thay vì vậy ông gật đầu ra hiệu cho y ngồi xuống chiếc ghế trước bàn.

        “Theo cậu thì có vấn đề gì không ổn với Felix vậy?” ông Baker hỏi y.

        Y không trông chờ một câu hỏi như vậy, vì thế y buộc phải suy nghĩ trước khi trả lời. “Cháu không nghĩ là có vấn đề gì đối với cậu bé cả, thưa bác,” y nói, một cách thận trọng. “Cháu chỉ nghĩ là cậu bé không—” Hạnh phúc, y gần như nói ra. Nhưng hạnh phúc là gì nếu không phải là một sự xa xỉ, một trạng thái không thể duy trì, một phần là bởi vì nó thật khó để có thể định nghĩa rõ ràng? Y chẳng thể nhớ được việc từng là một đứa trẻ và có thể định nghĩa được hạnh phúc: chỉ có mỗi khổ đau, hay sợ hãi, và sự vắng mặt của khổ đau hay sợ hãi, và trạng thái sau là tất cả những gì mà y hằng mong muốn hay cần tới. “Cháu nghĩ rằng cậu bé có phần nhút nhát,” y nói nốt.

  

        Ông Baker cằn nhằn (đó dĩ nhiên đây không phải là câu trả lời mà ông mong đợi). “Nhưng cậu thích thằng bé, đúng không?” ông hỏi y, với một sự yếu ớt vô vọng đến lạ lùng mà khiến y cảm thấy buồn sâu sắc, cho cả Felix và ông Baker. Đây có phải là điều sẽ xảy ra khi là cha mẹ? Đây có phải phải là điều sẽ xảy ra khi là một đứa trẻ có cha có mẹ? Nhường này không hạnh phúc, nhường này thất vọng, nhường này mong đợi để rồi thành ra không thể bày tỏ và không thể thỏa mãn!

        “Dĩ nhiên rồi ạ,” y trả lời, và ông Baker thở dài và đưa cho y tấm chi phiếu, mà vẫn thường được trao tận tay y bởi người giúp việc khi y ra về.

        Tuần sau đó, Felix không muốn tập bài nhạc của mình. Cậu bé nom lờ phờ hơn mọi khi. “Chúng ta có nên chơi thứ gì khác không?” y hỏi. Felix nhún vai. Y suy nghĩ. “Con có muốn thầy chơi cho con thứ gì đó hay không?” Felix lại nhún vai. Nhưng y vẫn làm vậy, bởi vì đó là một chiếc dương cầm tuyệt đẹp và đôi khi, khi y nhìn Felix chầm chậm di chuyển những ngón tay của mình dọc theo những phím đàn xinh đẹp, y những mong được ở một mình cùng với thứ nhạc cụ này và để cho tay mình lướt trên bề mặt của nó nhanh hết mức có thể.

                    Y chơi bản Sonata số 50 của Haydn ở cung D trưởng, một trong những bản nhạc yêu thích của y và nó thật sáng sủa và dễ thương mà y nghĩ rằng nó sẽ làm cho cả hai vui lên. Nhưng khi y kết thúc bản nhạc, và chỉ có cậu nhóc trầm lặng ngồi bên y, y cảm thấy xấu hổ, bởi vì sự huênh hoang, lạc quan mạnh mẽ của Haydn và cả bởi lạc thú đam mê bùng lên trong y nữa.

        “Felix,” y bắt đầu, và rồi dừng lại. Ngồi bên y, Felix chờ đợi. “Có chuyện gì vậy?”

        Và rồi, trước sự ngạc nhiên của y, Felix bắt đầu khóc, và y cố gắng an ủi cậu bé.  “Felix,” y nói, lúng túng choàng tay quanh người cậu bé. Y giả vờ như thể mình là Willem, người sẽ biết chính xác cần phải làm gì và nói gì mà chẳng cần phải suy nghĩ. “Rồi sẽ ổn thôi mà. Thầy hứa với con, rồi sẽ ổn thôi.” Nhưng Felix chỉ càng khóc dữ hơn.

        “Con không có một người bạn nào cả,” Felix thút thít.

        “Ôi, Felix,” y nói, và sự cảm thông của y, mà cho tới tận sau này tự nó trở thành sự tử tế, khách quan, và tự nó trở nên rõ ràng. “Thầy rất tiếc.” Rồi y cảm thấy, một cách rõ ràng, sự cô độc trong cuộc đời Felix, của một ngày thứ Bảy ngồi bên gã luật sư què quặt đã gần ba mươi tuổi, người chỉ có mặt ở đó để kiếm tiền, và là người sẽ ra ngoài vào tối đó với những con người mà gã yêu quý và những người, cũng, yêu quý gã, trong khi Felix chỉ có một mình, mẹ cậu bé — người vợ thứ ba của ông Baker — thường xuyên ở một nơi nào đó khác, cha cậu thì tin rằng có điều gì đó không ổn đối với cậu, có điều gì đó cần phải sửa chữa. Lúc sau, trên đường đi bộ về nhà (nếu như tiết trời dễ chịu, y sẽ từ chối ngồi xe của ông Baker và đi bộ), y sẽ tự vấn về sự bất công phi lý của tất cả những điều này: Felix, theo định nghĩa là một đứa trẻ tốt hơn rất nhiều so với y hồi nhỏ, mà vẫn chẳng có một người bạn nào, và y, kẻ chẳng là gì hết cả, lại có bạn bè.

        “Felix, rốt cuộc điều này sẽ xảy ra,” y nói, và Felix bật khóc nức nở. “Nhưng khi nào cơ ạ?” với một nỗi khát khao khiến nỗi đau hiện lên trên khuôn mặt cậu bé.

        “Sẽ sớm, sớm thôi,” y bảo với cậu bé, vỗ lên tấm lưng gầy gò của cậu, “Thầy hứa đấy,” và Felix gật đầu, mặc dù sau đó, khi tiễn y ra cửa, khuôn mặt giống con tắc kè của cậu bé nom còn giống loài bò sát hơn nữa bởi vì nước mắt, y có cảm giác rõ ràng rằng Felix biết là y nói dối. Ai mà biết được rằng liệu Felix có bao giờ có được những người bạn hay không? Tình bạn, tình bằng hữu: đó thường là thứ bất chấp logic, thường vượt quá sự xứng đáng, thường ngự trị trong những điều kỳ quặc, tồi tệ, lạ lùng, thương tổn. Y vẫy tay chào tạm biệt với tấm lưng nhỏ bé của Felix, lúc này đã lui vào nhà,và mặc dù y không bao giờ nói như vậy với Felix, theo một cách nào đó y tưởng tượng ra đấy là lý do vì sao mà Felix lúc nào cũng uể oải: đó là bởi vì Felix vốn đã luận ra điều này, từ  lâu rồi; đó là bởi vì cậu bé vốn dĩ đã biết.

 

***

 


[1] The Malamud Theorem: tạm dịch Định lý Malamud

 

[2] “Salve, Felix, quid agis?” “Um … bene?”: (tiếng Latin) – “Chào, Felix, con đang làm gì thế?” – “Ưm … vâng?”

[3] Felix là tên có nguồn gốc La Mã. Felix có nghĩa là may mắn, thành công trong tiếng Latin. Nó được sử dụng như là một tên hiệu, biệt danh của vị tướng người La Mã có tên là Sulla vào thế kỷ thứ nhất trước công nguyên. Nó cũng xuất hiện trong Tân ước, thuộc về đốc xứ Judea, người đã bắt giam thánh Paul.

Dựa vào ý nghĩa của mình, cái tên được yêu thích và sử dụng phổ biến trong thời kỳ đầu hình thành nên đạo Thiên chúa. Nó được sử dụng ở Anh kể từ thời Trung cổ, mặc dù cái tên này được sử dụng phổ biến hơn ở các quốc gia Âu châu.