BKx2Cw0ggD-

 

 

CHƯƠNG 1 (tiếp)

 

 

            Chính Ana, nhân viên xã hội đầu tiên và duy nhất của y, là người đầu tiên không bao giờ phản bội y, đã nói chuyện nghiêm túc với y về đại học — ngôi trường mà cuối cùng y quyết định ghi danh — và là người thuyết phục y rằng y sẽ vào được đó. Cô không phải là người đầu tiên gợi ý về điều này, nhưng cô là người kiên định nhất.

        “Cô không thấy được là tại sao lại không,” cô nói vậy. Đó là câu cửa miệng của cô. Hai người họ đang ngồi bên hàng hiên ở nhà Ana, ở sân sau của Ana, ăn bánh mỳ chuối mà bạn gái Ana vừa mới nướng. Ana không quá thích thiên nhiên (quá nhiều côn trùng, quá nhiều dây leo, cô luôn nói vậy), nhưng khi y đưa ra lời đề nghị rằng họ sẽ ra ngoài trời — một cách đầy chủ ý, bởi vì khi đó y vẫn chưa chắc về giới hạn của sự kiên nhẫn mà cô có thể dành cho y — cô vỗ tay vào tay vịn của chiếc ghế bành mà cô đang ngồi và ráng sức đứng lên. “Cô không thấy được là tại sao lại không. Leslie!” cô gọi với vào trong bếp, nơi mà Leslie lúc này đang bận pha nước chanh. “Em mang nước ra ngoài sân nhé!”  

        Cô là gương mặt đầu tiên mà y nhìn thấy khi vừa tỉnh dậy trong bệnh viện. Mất một lúc lâu, y không thể nhớ được y đang ở đâu, hay y là ai, hay chuyện gì đã xảy ra, và rồi, bỗng nhiên, khuôn mặt của cô bao trùm lấy y, nhìn vào y. “Ô, ô,” cô nói. “Thằng bé tỉnh rồi.” 

        Cô luôn có mặt ở đó, dường như là vậy, dù thời điểm y tỉnh dậy có là lúc nào đi nữa. Đôi khi là vào ban ngày, và y nghe thấy những âm thanh của bệnh viện — tiếng rin rít phát ra từ đôi giày của y tá, tiếng lanh canh của một chiếc xe đẩy, và tiếng o o của hệ thống loa — trong những lúc mơ hồ, nửa tỉnh nửa mê y trải qua trước khi thực sự thức tỉnh. Nhưng đôi khi đó là vào ban đêm, khi mà mọi thứ trở nên yên lặng quanh y, và y phải mất nhiều thời gian hơn mới luận ra được rằng y đang ở đâu, và tại sao y lại ở đó, mặc dù nó lại quay trở về với y, vẫn luôn là vậy, và không giống như một vài sự nhận thức, nó không bao giờ có thể trở nên dễ dàng hơn hay quen thuộc hơn sau mỗi lần nhớ lại. Và đôi khi không phải là ngày hay đêm mà ở vào một thời điểm nào đó nằm ở giữa, và có gì đó kỳ lạ và ám bụi của ánh sáng khiến y tưởng rằng rốt cuộc cũng tồn tại một thứ gọi là thiên đường, và rằng y cuối cùng cũng có thể đến được nơi đó. Và rồi y sẽ nghe thấy tiếng nói của Ana, và một lần nữa nhớ ra tại sao y lại nằm đó, và muốn khép lại đôi mắt của mình thêm một lần nữa.

        Họ không nói gì về những thời điểm kia. Cô sẽ hỏi y rằng liệu y có thấy đói không, và dù câu trả lời của y có là thế nào đi nữa, thì cô sẽ có sẵn một chiếc bánh mỳ kẹp thịt dành cho y. Cô sẽ hỏi y rằng y có còn đau không, và nếu như y còn đau, thì đau đến mức nào. Chính trong sự hiện diện của cô mà y nếm trải cơn đau đầu tiên của mình, và cơn đau ấy thật là khủng khiếp — không thể chịu nổi, gần như là vậy, như thể có ai đó thò tay vào và tóm lấy xương sống của y như tóm một con rắn và cố gắng lôi nó ra khỏi bọc bằng cách lắc nó thật mạnh — rồi sau đó, khi bác sĩ bảo với y rằng vết thương của y là một sự “chấn thương” đối với toàn cơ thể, và là một chấn thương mà cơ thể không bao giờ có thể hồi phục hoàn toàn, y hiểu những điều ấy có nghĩa là gì và nhận ra rằng những từ ấy mới thật chính xác và được lựa chọn cẩn thận đến nhường nào.   

        “Ý của ông là cậu ấy sẽ bị như vậy suốt đời?” Ana đặt câu hỏi, và y thấy biết ơn trước sự phẫn nộ của cô, đặc biệt là bởi vì y quá đỗi mệt mỏi và kinh hoàng để hiệu triệu bất cứ thứ gì trong y.  

        “Tôi ước gì tôi có thể nói không,” vị bác sĩ trả lời. Và rồi, với y, “Nhưng chúng sẽ không nghiêm trọng như thế này trong tương lai. Giờ cháu còn rất trẻ. Cột sống có cái khả năng tự hồi phục rất thần kỳ.”

        “Jude,” cô nói với y khi cơn đau tiếp theo ập tới, hai ngày sau cơn đau đầu tiên. Y có thể nghe thấy giọng cô, nhưng nó ở một nơi nào xa lắm, và rồi, bỗng nhiên, về gần khủng khiếp, lấp đầy tâm trí y như một vụ nổ. “Cầm lấy tay cô này,” cô nói, và một lần nữa, giọng nói của cô vang lên và xa dần, nhưng cô nắm lấy bàn tay y và giữ nó thật chặt nên y có thể cảm thấy ngón trỏ của cô trượt kỳ lạ trên ngón tay đeo nhẫn của cô, có thể gần như cảm thấy từng đốt xương nhỏ trong lòng bàn tay cô di chuyển dưới cái xiết của y, mà khiến cô dường như trở thành một thứ gì đó mỏng manh và phức tạp, mặc dù chẳng có gì là mong manh về con người cô ở cả vẻ bề ngoài lẫn tính cách. “Đếm đi,” cô ra lệnh cho y vào lần thứ ba cơn đau diễn ra, và y làm theo, đếm đến một trăm và rồi đếm lại từ đầu, phân chia sự đau đớn thành những gia số có thể vượt qua được. Trong những ngày ấy, trước khi y học được rằng tốt hơn hết là nên bất động, y sẽ lăn lộn trên giường như một con cá trên khoang thuyền, cái tay rảnh của y quờ quạng cái dây cột buồm để bám víu vào cho an toàn, tấm đệm giường bệnh cứng rắn và lạnh lẽo, tìm kiếm một vị trí mà từ đó sự khó chịu có thể vơi bớt phần nào. Y cố gắng im lặng, nhưng y có thể nghe thấy mình tạo ra những âm thanh lạ kỳ như của loài thú, đến mức mà đôi khi một cánh rừng sẽ hiện ra bên dưới mống mắt y, đầy rẫy những tiếng rít của loài cú và hươu và gấu, và y sẽ tưởng tượng rằng mình là một trong số chúng, và rằng tiếng ồn mà y tạo ra là hoàn toàn bình thường, là một phần của thứ nhạc điệu không bao giờ kết thúc của rừng cây.  

        Khi mà nó kết thúc, cô sẽ đưa cho y ít nước, một cái ống hút trong một chiếc ly để y không phải nhấc đầu lên. Bên dưới y, sàn nhà nghiêng ngả và xoay vòng, và y thường buồn nôn. Y chưa bao giờ đi biển, nhưng y hình dung rằng nó có thể cũng giống như những gì y cảm thấy lúc này, hình dung những con sóng cồn sẽ biến lớp vải sơn lót nền nhà thành từng đụm run rẩy. “Bé ngoan,” cô sẽ nói vậy khi y uống nước. “Thêm một ngụm nữa nhé.”

        “Rồi sẽ khá hơn thôi,” cô sẽ nói vậy, và y sẽ gật đầu, bởi vì y không thể tưởng tượng nổi cuộc đời mình sẽ ra sao nếu sự việc chẳng thể tiến triển. Những ngày trong cuộc đời y giờ trở thành những giờ: những giờ không bị đau và những giờ đau đớn, và một lịch trình không thể dự đoán của những điều này — và cơ thể y, mặc dù nó nằm dưới tên y, y chẳng thể điều khiển nổi nó — khiến y kiệt sức, và y cứ ngủ li bì, những ngày tháng cứ thế trôi đi.

        Về sau này, sẽ là dễ dàng hơn nhiều nếu chỉ đơn giản nói với mọi người rằng chân của y bị đau, nhưng điều ấy không thật sự đúng: lưng y đau mới phải. Đôi khi y có thể dự đoán được điều gì gây ra cơn đau thắt, cơn đau sẽ lan từ cột sống của y xuống một chân này hoặc chân kia, như là một cây cọc gỗ bắt lửa và đâm vào cơ thể y: một chuyển động nào đó, nâng lên một vật gì quá nặng hoặc quá cao, hay chỉ đơn giản là sự mệt mỏi. Và đôi khi cơn đau sẽ xảy ra trong tình trạng tê liệt, hay một cơn nhức nhối mà gần như là một sự dễ chịu, nó rất nhẹ nhàng và sống động, chỉ là cảm giác như có một dòng điện đang chạy dọc sống lưng y, và y sẽ biết rằng cần phải nằm xuống và đợi cho nó kết thúc chu kỳ của mình, một sự trừng phạt mà y không bao giờ có thể trốn thoát hay tránh được. Nhưng đôi khi nó ập tới, và đó là những cơn đau tệ nhất: y ngày càng lo sợ rằng nó sẽ xuất hiện vào những thời điểm không thích hợp, và trước mỗi một cuộc họp quan trọng, mỗi một buổi phỏng vấn quan trọng, mỗi một phiên tòa, y sẽ cầu nguyện rằng cái lưng của y vẫn vững vàng, sẽ giúp y vượt qua được vài giờ tiếp theo mà không gặp phải vấn đề gì. Nhưng tất cả những điều này đều là chuyện của tương lai, và với mỗi bài học mà y học được là sự từng trải qua hết giờ này tới giờ khác vật lộn với những cơn đau, kéo dài qua những ngày và những tháng và những năm.

        Và các tuần lễ trôi qua, cô mang sách tới cho y, và bảo y rằng hãy viết ra tên những cuốn sách mà y quan tâm và cô sẽ tới thư viện để mượn chúng — nhưng y rất ngại phải làm vậy. Y biết rằng cô là nhân viên xã hội của y, và rằng cô được phân công để chăm sóc cho y, nhưng phải sau một tháng, và các bác sĩ bắt đầu nói về việc tháo bột cho y, mà cô mới hỏi y lần đầu tiên về chuyện đã xảy ra. 

        “Cháu không nhớ,” y nói. Đó là câu trả lời mặc định của y trước mọi điều kể từ hồi đó. Đó cũng là một lời nói dối; trong những thời điểm không mong đợi, y có thể nhìn thấy ánh đèn pha của chiếc xe, hai đốm sáng màu trắng, lao về phía y, và nhớ lại việc y đã nhắm mắt lại và quay đầu sang một bên, như thể sẽ giúp ngăn cản điều không thể tránh được.

        Cô chờ đợi. “Không sao đâu, Jude ạ,” cô nói. “Về cơ bản, bọn cô đã biết được điều gì xảy ra. Nhưng cô cần cháu nói ra với cô, để chúng ta có thể nói tới điều đó.” Cô đã phỏng vấn y trước đó, y có còn nhớ không? Đó là ngay sau thời điểm y vừa tỉnh dậy sau cuộc phẫu thuật đầu tiên, tỉnh táo, và trả lời tất cả các câu hỏi của cô, không chỉ là về những gì xảy ra vào đêm đó mà cả về những năm trước đó nữa — nhưng y quả thực không nhớ gì về chuyện đó, và y lo lắng về những gì, chính xác, y đã nói, và Ana có biểu hiện gì khi nghe những điều mà y kể cho cô.

        Y đã nói với cô bao nhiêu? có lần y hỏi.

        “Vừa đủ,” cô nói, “để thuyết phục cô rằng trên đời này có địa ngục và những kẻ ấy xứng đáng được đưa tới đó.” Cô không có vẻ gì là giận dữ, nhưng những lời cô nói thì có, và y nhắm mắt lại, cảm động và có đôi chút sợ hãi rằng những gì xảy ra với y — với y! — có thể khơi gợi một thứ cảm xúc mạnh mẽ nhường ấy, lời nói cay độc nhường ấy.

        Cô giám sát việc y chuyển vào ngôi nhà mới của mình: nhà Douglass. Họ còn có hai đứa con nuôi khác, đều là con gái, đều nhỏ — Rosie tám tuổi và bị mắc hội chứng Down[1], Agnes chín tuổi với tật nứt đốt sống[2]. Ngôi nhà là một mê cung của những con dốc, không đẹp nhưng chắc chắn và thoai thoải, và không như ở Agnes, y có thể tự đẩy xe lăn mà không cần đến sự giúp đỡ.

        Gia đình Douglass là những người theo đạo Tin lành, nhưng họ không buộc y đi nhà thờ cùng họ. “Họ là những người tốt,” Ana nhận xét. “Họ sẽ không làm phiền cháu, và cháu sẽ an toàn khi ở đấy. Cháu có nghĩ rằng cháu có thể duy trì sự duyên dáng bên bàn ăn vì một chút riêng tư và sự đảm bảo an toàn hay không?” Cô nhìn y và mỉm cười. Y gật đầu. “Ngoài ra,” cô tiếp tục, “cháu luôn có thể gọi cho cô nếu như cháu muốn xưng tội.”  

        Và quả thực, y ở nhà của Ana nhiều hơn so với ở nhà Douglass. Y ngủ trong nhà họ, ăn ở đó, và khi y lần đầu tiên học cách di chuyển với cái nạng của mình, chính ông Douglass là người ngồi trên cái ghế ở bên ngoài phòng tắm, sẵn sàng bước vào nếu y có trượt chân và ngã xuống sàn khi bước vào hoặc bước ra khỏi bồn tắm (y vẫn chưa thể giữ được thăng bằng để có thể tắm vòi hoa sen, dù là với một cái khung tập đi). Nhưng chính Ana là người đưa y tới hầu hết các cuộc hẹn với bác sĩ, và Ana là người đợi ở cuối sân sau nhà cô, với một điếu thuốc trên miệng, khi y thực hiện bước đi chậm chạp đầu tiên về phía cô, và Ana là người đã khiến y viết ra những gì đã diễn ra với Bác sĩ Traylor, và giúp y không phải đứng ra làm chứng trước tòa. Y nói rằng y có thể làm được điều đó, nhưng cô bảo y rằng y vẫn chưa sẵn sàng, và rằng họ có rất nhiều bằng chứng để phạt tù Bác sĩ Traylor nhiều năm mà không cần tới lời chứng của y, và khi nghe được điều đó, y có thể thừa nhận sự nhẹ nhõm của bản thân: nhẹ nhõm vì không phải nói ra những điều mà y không biết phải làm sao để nói ra, và hơn hết, nhẹ nhõm vì y không phải gặp lại Bác sĩ Traylor nữa. Khi y cuối cùng cũng đưa cho cô lời tố cáo của mình — mà y cố gắng viết nó ra một cách đơn giản nhất có thể, và tưởng tượng trong lúc viết ra nó rằng y đang viết về một ai đó khác, một người mà y từng biết nhưng chưa bao giờ nói chuyện cùng — cô đọc qua nó một lần, bình thản, trước khi gật đầu với y. “Tốt,” cô nói dứt khoát, rồi gập tờ giấy lại và nhét nó vào trong phong bì. “Làm tốt lắm,” cô nói thêm, và rồi, bỗng dưng, cô bắt đầu khóc, gần như là nức nở, không thể ngừng lại. Cô nói gì đó với y, nhưng giọng cô nghẹn ngào quá nên y chẳng nghe ra, và cô cuối cùng cũng rời đi, dù cô có gọi cho y vào tối đó để xin lỗi.  

        “Cô xin lỗi, Jude,” cô nói. “Cô thật là thiếu chuyên nghiệp. Cô chỉ đọc những gì cháu viết và cô chỉ—” Cô yên lặng mất một lúc, và rồi hít thở thật sâu. “Điều ấy sẽ không bao giờ xảy ra nữa.”

        Cũng chính Ana là người, sau khi bác sĩ kết luận rằng y không đủ khỏe để đi đến trường, đã tìm cho y một gia sư để y có thể hoàn tất chương trình phổ thông, và chính cô là người đã nói chuyện với y về đại học. “Cháu thông minh lắm, cháu có biết không?” cô hỏi y. “Cháu có thể theo học ở bất kỳ nơi nào, thật đấy. Cô đã nói chuyện với một vài giáo viên của cháu ở Montana, và họ cũng cho là vậy. Cháu đã nghĩ đến điều đó chưa? Có chưa? Cháu muốn học ở đâu?” Và khi y nói với cô, sẵn sàng để bị cô cười nhạo, thay vì vậy cô chỉ gật đầu: “Cô không thấy là tại sao lại không.”

        “Nhưng mà,” y bắt đầu, “cô có cho là họ sẽ nhận một đứa như cháu không?”

        Một lần nữa, cô không hề cười. “Đúng là, cháu không có được sự giáo dục theo kiểu truyền thống nhất,” — cô mỉm cười với y — “nhưng kết quả thi của cháu rất tốt, và mặc dù cháu có thể không cho là vậy, cô đảm bảo là cháu biết nhiều hơn hẳn những bạn, nếu không nói là tất cả, ở độ tuổi của cháu.” Cô thở dài. “Rốt cuộc cháu cũng có thứ để mà cảm ơn Tu huynh Luke.” Cô nhìn vào gương mặt y. “Vì thế cô không thấy được là tại sao lại không.”

        Cô giúp y mọi thứ: cô viết một trong những bức thư giới thiệu của y, cô để y sử dụng máy tính của mình để viết bài luận (y không viết về năm vừa qua; y viết về Montana, và làm thế nào mà y học được cách tìm kiếm mù tạt và nấm ở đó), cô thậm chí còn trả phí nộp đơn cho y nữa.

        Khi y được nhận – với học bổng toàn phần, như Ana đã dự đoán – y bảo với cô rằng tất cả là vì công lao của cô.

        “Nhảm nhí,” cô nói. Vào thời điểm đó cô yếu đến mức chỉ có thể nói thì thào. “Cháu đã tự mình làm điều đó.” Sau này khi y nhớ lại những tháng trước đó và thấy, như là sự soi chiếu, dấu hiệu về căn bệnh của cô, và làm thế nào mà, trong sự ngu ngốc và chỉ biết có mình của y, y đã bỏ lỡ hết dấu hiệu này đến dấu hiệu khác: việc cô bị sụt cân, màu vàng trong mắt cô, sự mệt mỏi của cô, mà tất cả những điều đó y đều quy cho — điều gì? “Cô không nên hút thuốc,” y nói vậy với cô vào hai tháng trước, đủ tự tin để đưa ra các yêu cầu đối với cô; người lớn đầu tiên mà y làm vậy. “Cháu nói đúng,” cô nói, và nheo mắt lại nhìn y trong khi cố hít thở, cười tươi với y khi y thở dài với cô.

        Rồi sau đó, cô không thể rời khỏi giường nữa. “Jude, chúng ta cần nói chuyện,” cô nói vậy cứ sau vài ngày, và khi y lắc đầu, cô lại lặng im. “Vậy thì, ngày mai vậy,” cô nói. “Cháu hứa với cô nhé? Ngày mai chúng ta sẽ nói về chuyện đó.”

        “Cháu không thấy được tại sao ta lại cần phải nói về chuyện đó,” y càu nhàu với cô một lần. Y biết rằng cô đã đọc lời khai của y về việc xảy ra ở Montana; y biết rằng cô biết y là loại người gì.

        Cô lặng im. “Có một điều này mà cô từng học được,” cô nói, “cháu cần phải nói về sự việc khi mà chúng vừa mới diễn ra. Hoặc là cháu sẽ không bao giờ có thể nói về chúng nữa. Cô sẽ dạy cháu cách làm thế nào để nói về chuyện đó, bởi vì sẽ ngày một khó khăn hơn để mà làm vậy nếu như cháu cứ đợi, và nó sẽ chất chồng trong lòng cháu, và cháu sẽ luôn nghĩ rằng mọi tội lỗi đều là của cháu. Như thế là sai, dĩ nhiên rồi, nhưng cháu sẽ luôn cho là vậy.” Y không biết phải đáp lại lời cô như thế nào, nhưng ngày hôm sau, khi cô đề cập tới chuyện này, y lại lắc đầu và quay đi, dù cho cô có gọi với theo. “Jude,” cô nói, vào một lần nọ, “cô đã để cháu lờ chuyện này đi quá lâu rồi. Đấy là lỗi của cô.”

        “Hãy làm điều này vì cô, Jude,” cô nói vào một lần khác. Nhưng mà y không thể; y không thể tìm ra lời nào để nói về điều đó, dù là với cô. Ngoài ra, y không muốn phải nhớ lại những năm tháng đó. Y muốn quên đi, muốn giả vờ rằng chúng thuộc về một ai đó khác.

        Vào tháng Sáu cô ốm đến nỗi cô không thể ngồi dậy. Mười bốn tháng sau khi họ gặp mặt, cô là người duy nhất nằm ở trên giường, và y là người ngồi bên cô. Leslie làm ca ngày ở bệnh viện, và vì thế, thường chỉ có hai người bọn họ ở nhà. “Nghe này,” cô nói. Cổ họng cô khô khốc vì một trong những loại thuốc mà cô sử dụng, và cô nhăn mặt khi cô nói. Y với lấy cái gối chườm, nhưng cô xua tay đi, mất kiên nhẫn. “Leslie sẽ đưa cháu đi mua sắm trước khi cháu về; cô đã ghi lại danh sách những thứ cháu cần cho cô ấy.” Y bắt đầu phản đối, nhưng cô ngăn y lại. “Đừng cãi, Jude. Cô không có sức đâu.”

        Cô nuốt khan. Y chờ đợi. “Cháu sẽ tỏa sáng ở trường đại học,” cô nói. Cô nhắm mắt lại. “Những đứa trẻ khác sẽ hỏi cháu về hoàn cảnh mà cháu lớn lên, cháu đã nghĩ tới điều đó chưa?”

        “Có đôi chút ạ,” y trả lời. Đó là tất cả những gì mà y nghĩ đến.

        “Ừm,” cô lẩm bẩm. Cô cũng chẳng tin y. “Cháu sẽ nói gì với họ?” Và rồi cô mở mắt ra và nhìn y.

        “Cháu không biết nữa,” y thừa nhận.

        “À, ừ,” cô nói. Rồi họ yên lặng. “Jude này,” cô bắt đầu, và rồi dừng lại. “Cháu sẽ tìm thấy cách của riêng mình để nói về những gì từng xảy ra với cháu. Cháu sẽ phải làm vậy, nếu như cháu muốn thân cận với một ai đó. Nhưng cuộc đời cháu — dù cháu có nghĩ gì đi nữa, cháu không việc gì phải xấu hổ về nó, và không một điều nào trong đó là lỗi của cháu. Cháu sẽ ghi nhớ lấy điều này chứ?”

        Đó là sự đề cập gần nhất của họ không chỉ về năm trước mà còn cả về những năm tháng trước đó nữa. “Vâng,” y trả lời cô.

        Cô nhìn y chằm chằm. “Hứa với cô đi.”

        “Cháu hứa.”

        Nhưng thậm chí là vậy, y vẫn chẳng thể tin cô.

        Cô thở dài. “Cô nên bắt cháu nói nhiều hơn,” cô nói. Đó là điều cuối cùng cô nói với y. Hai tuần sau đó — ngày 3 tháng 7 — cô mất. Đám tang của cô diễn ra sau đó một tuần. Khi ấy y có một công việc làm thêm vào mùa hè ở một tiệm bánh địa phương, nơi mà y ngồi ở căn phòng sau cửa tiệm và trang trí những chiếc bánh kem với fondant, và vào những ngày sau đám tang y ngồi lại đó cho tới khuya, phết lớp kem màu hồng cẩm chướng lên hết chiếc bánh này tới chiếc bánh khác, cố gắng không nghĩ về cô. 

        Vào cuối tháng Bảy, nhà Douglass chuyển đi: ông Douglass nhận được một công việc mới ở San Jose, và họ sẽ đưa Agnes đi cùng với họ; Rosie được đưa tới một gia đình khác. Y thích gia đình Douglass, nhưng khi họ bảo với y rằng hãy giữ liên lạc, y biết mình sẽ không làm vậy — y khao khát được rời khỏi cái cuộc sống mà y từng trải qua, cuộc đời mà y đã từng sống; y muốn trở thành một ai đó mà không một ai biết đến và không biết tới một ai. 

        Y được đưa tới trung tâm cứu trợ khẩn cấp. Đó là từ mà nhà nước dùng để gọi nơi đó: trung tâm cứu trợ khẩn cấp. Y cự lại rằng y đã đủ lớn để có thể tự lo cho mình (y tưởng tượng, cũng theo một cách thiếu logic, rằng y sẽ ngủ lại ở căn phòng phía sau tiệm bánh), và rằng chỉ trong vòng hai tháng nữa y sẽ rời đi, hoàn toàn rời khỏi cái hệ thống này, nhưng không một ai đồng ý với y. Trung tâm cứu trợ là một cái ký túc xá, một tổ ong xập xệ màu xám chật ních những đứa trẻ khác – bởi vì điều chúng từng làm hoặc từng bị thực hiện với chúng hoặc chỉ đơn giản là vì tuổi tác của chúng – mà chính quyền không dễ dàng gì trong việc tìm cho chúng một gia đình.

        Vào lúc y rời đi, họ đưa cho y một ít tiền để mua sắm vài đồ dùng học tập. Họ, y nhận ra, dường như tự hào về y; dù y không ở lại đó lâu, nhưng y sẽ vào đại học, và vào một ngôi trường danh giá mà — y sẽ mãi được nêu danh như là một sự thành công của họ. Leslie đưa y tới cửa hàng Army Navy Store. Y băn khoăn, khi y chọn những món đồ mà y cho rằng sẽ cần tới — hai cái áo len, quần, một chiếc chăn màu xám giống với chiếc chăn lông vũ đã từng bị nôn lên trên chiếc sofa ở tiền sảnh của trung tâm cứu trợ — rằng y có đang chọn đúng những món đồ cần thiết hay không, những món đồ có thể nằm trong danh sách của Ana. Y không thể ngăn mình đừng nghĩ đến việc vẫn còn có những thứ khác nằm trong danh sách, những thứ cần thiết mà Ana nghĩ rằng y cần tới và giờ đây y không bao giờ được biết. Vào ban đêm, y cầu nguyện cái danh sách ấy, đôi khi nhiều hơn so với sự khẩn cầu của y về cô; y có thể hình dung được điều đó ở trong đầu mình, những chữ cái viết hoa không đều nhau đến mức buồn cười mà cô viết ra trong một từ đơn, chiếc bút chì kim mà cô vẫn luôn sử dụng, tập giấy viết màu vàng của văn phòng luật, thứ còn sót lại sau những năm cô từng làm luật sư, mà cô vẫn viết các ghi chú của mình lên đó. Đôi khi những con chữ cô đọng lại thành những từ ngữ, và trong cuộc sống trong mơ y cảm thấy hân hoan; a, y nghĩ, dĩ nhiên là vậy! Dĩ nhiên đó là những gì mình cần đến! Dĩ nhiên là Ana sẽ biết! Nhưng vào buổi sáng, y chẳng bao giờ có thể nhớ ra chúng. Vào những lúc ấy y ước gì, đầy ngang bướng, rằng y chưa từng gặp cô, rằng quả thực là việc được quen biết cô trong một thời gian ngắn tệ hơn rất nhiều so với việc chưa từng gặp gỡ.   

        Họ đưa cho y một chiếc vé xe buýt để đi về phương bắc; Leslie tới bến xe tiễn y. Y gói ghém các vật dụng của mình vào trong hai lớp túi đựng rác màu đen, và rồi cho nó vào một chiếc ba lô mà y mua được ở cửa hàng Army Navy Store: mọi thứ mà y sở hữu đều nằm trong một cái bọc nhỏ. Trên xe y nhìn ra ngoài cửa sổ và cố không nghĩ đến điều gì. Y hi vọng rằng cái lưng sẽ không phản bội lại y trong suốt chuyến đi, và quả thực nó đã không làm như vậy.

        Y là người đầu tiên có mặt tại phòng của bọn họ, và khi chàng trai thứ hai xuất hiện — chính là Malcolm — cùng với ba mẹ cậu và những chiếc va li và những cuốn sách và chiếc loa cùng chiếc TV và điện thoại và máy vi tính và tủ lạnh và đội tàu mô hình nhỏ, đầu tiên y cảm thấy một sự sợ hãi đến phát ốm, và rồi sau đó là tức giận, một cách phi lý dành cho Ana: Làm sao mà cô lại có thể để cho y tin rằng y có thể sẵn sàng trước điều này? Ai mà lại có thể nói với y như vây? Tại sao cô không bao giờ nói với y rằng thực ra cuộc đời y nghèo khổ, xấu xí, như một miếng vải bẩn thỉu đầy bùn đất và nhuốm máu ra sao? Tại sao cô lại để y tin rằng y có thể thuộc về nơi này?  

        Sau nhiều tháng, cái cảm giác ấy phai dần đi, nhưng nó không bao giờ biến mất; nó sống trong lòng y như một lớp mốc mỏng. Nhưng khi sự nhận biết ấy trở nên dễ chấp nhận hơn, một phần khác cũng trở nên ít ỏi hơn: y bắt đầu nhận ra rằng cô là người đầu tiên và là người cuối cùng mà y có thể trình bày bất cứ điều gì. Cô biết rằng y mang cuộc đời ở trên da mình, lý lịch của y được viết trên thịt xương y. Cô không bao giờ hỏi y rằng tại sao y lại không mặc áo ngắn tay, dù là trong tiết trời oi bức nhất, hay tại sao y lại không thích bị chạm vào người, hay, quan trọng hơn hết, điều gì đã xảy ra với chân và lưng của y: cô đều đã biết hết rồi. Ở bên cô y không hề cảm thấy lo lắng, hay cần phải cảnh giác, mà dường như y luôn cảm thấy trước bất kỳ ai khác; sự đề phòng ấy thực vô cùng mệt mỏi, nhưng nó rốt cuộc lại đơn giản trở thành một phần của cuộc sống, một thói quen như là việc giữ tư thế ngồi cho đúng. Một lần kia, cô vươn tới (sau này y mới nhận ra) để ôm y, nhưng y ngay lập tức đưa tay ôm lấy đầu mình theo phản xạ, và mặc dù y cảm thấy thật hổ thẹn, cô không hề khiến y cảm thấy mình thật ngớ ngẩn hay phản ứng thái quá. “Cô thật là ngốc, Jude ạ,” thay vì vậy cô nói. “Cô xin lỗi. Sẽ không có động tác đường đột nào nữa, cô xin hứa.”   

        Nhưng giờ đây cô đã ra đi, và không một ai còn biết tới y nữa. Hồ sơ của y đã đóng lại. Giáng sinh đầu tiên của y ở trường đại học, Leslie gửi cho y một tấm thiệp, gửi đến y qua văn phòng sinh viên, và y giữ nó lại trong nhiều ngày, sợi dây nối cuối cùng giữa y và Ana, trước khi cuối cùng cũng vứt tấm thiệp đi. Y không bao giờ hồi âm lại cho Leslie, và không bao giờ còn nghe thấy tin tức nào về Leslie nữa. Đây là một cuộc đời mới. Y quyết định rằng tự y sẽ không làm hỏng nó.

        Dầu vậy, đôi khi, y nhớ đến những cuộc nói chuyện của họ, nói to chúng lên. Đó là vào buổi đêm, khi mà những người bạn cùng phòng của y — trong những sự kết hợp đa dạng, phụ thuộc vào việc ai ở lại trong phòng vào thời điểm đó — nằm phía trên và bên cạnh y. “Đừng để cho sự yên lặng này trở thành một thói quen,” cô từng cảnh cáo y trước khi cô mất. Và: “Không có gì sai khi tức giận cả, Jude ạ; cháu không cần phải che giấu điều đó.” Cô đã sai về y, y luôn nghĩ; y không phải là những gì mà cô nghĩ về. “Cháu được sinh ra để trở nên vĩ đại, con trai,” cô từng nói vậy, và y những muốn tin lời cô, cho dù là y không thể. Nhưng cô đã đúng về một điều: nó thực sự ngày một trở nên khó khăn hơn. Y thực sự đã buộc tội chính mình. Và mặc dù y cố gắng mỗi ngày để nhớ về lời hứa mà y từng thực hiện với cô, mỗi ngày nó lại càng trở nên xa vời hơn, cho tới khi nó chỉ còn là một ký ức, và rồi cả cô cũng vậy, một nhân vật yêu thích trong một cuốn sách mà y đã đọc từ lâu.  

 

***

 


[1] Hội chứng Down là một hội chứng bệnh do đột biến số lượng nhiễm sắc thể, mà cụ thể là thừa một nhiễm sắc thể 21. Tên hội chứng được đặt theo John Langdon Down, một thầy thuốc đã mô tả hội chứng này vào năm 1866. Hội chứng này thường gặp nhất trong số các bệnh do rối loạn nhiễm sắc thể. Cứ 800 – 1.000 trẻ mới sinh thì có 1 trẻ bị hội chứng Down.

[2] Nứt đốt sống là một khuyết tật của ống thần kinh (neural tube defect – NTD). Thuật ngữ này mô tả gai xương bị hở hay cột sống có phần không kín hoàn toàn. Hình thức nghiêm trọng nhất của nứt đốt sống có thể bao gồm cơ suy yếu hoặc liệt ở phần hở, mất cảm giác dưới phần hở và mất khả năng kiểm soát bàng quang và đại tràng.

Nhìn chung, nứt đốt sống có ba dạng chính (từ nhẹ tới nặng): 1. Nứt đốt sống ẩn: xuất hiện khoảng hở ở một hoặc nhiều đốt sống (xương) trên cột sống mà không gây tác hại rõ ràng tới tủy sống; 2.Thoát vị màng não: Màng não, nghĩa là phần bao bọc bảo vệ xung quanh tủy sống, đẩy ra ngoài qua khoảng hở trên đốt sống trong một túi bao gọi là thoát vị màng não. Phần tủy sống vẫn không bị ảnh hưởng gì; điều này có thể được sửa chữa mà không ảnh hưởng hoặc ảnh hưởng rất ít tới đường thần kinh; 3.Thoát vị tủy-màng tủy: Đây là dạng nghiêm trọng nhất của nứt đốt sống, trong đó một phần của chính tủy sống hở ra qua lưng. Trong một số trường hợp, các túi được da bao bọc; trong những trường hợp khác, mô và dây thần kinh hở ra. https://www.christopherreeve.org/vi/international/top-paralysis-topics-in-vietnamese/spina-bifida

 

 

 

Advertisements