a512e8cbb6727b0b5e0191ec92aff85a

 

 

 

CHƯƠNG 1 (tiếp)

 

 

           Y biết tiếng Pháp và tiếng Đức. Y thuộc bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học. Y thuộc — dù rằng y chẳng quan tâm — phần lớn cuốn Thánh kinh trong trí nhớ. Y biết cách đỡ đẻ cho bò và làm thế nào để mắc lại dây đèn và thông tắc ống nước và cách hữu hiệu nhất để thu hoạch quả hồ đào từ trên cây và loại nấm nào là độc và không độc và làm cách nào để đóng các kiện hàng và cách kiểm tra xem một quả dưa hấu, một quả táo, một quả bí, một quả dưa vàng còn tươi hay không bằng cách vỗ vào đúng chỗ của nó. (Và rồi y biết những điều mà y ước gì mình không biết, những điều mà y hi vọng rằng sẽ không bao giờ phải dùng đến chúng nữa, những điều mà, khi nghĩ về chúng hay mơ về chúng vào ban đêm, khiến cho y co mình lại cùng với sự căm hận và nhục nhã.)

            Vậy mà dường như y thường chẳng biết gì về những giá trị hay mục đích của thực tại. Những ngôn ngữ và toán học, cũng tốt thôi. Nhưng hàng ngày y đều được nhắc nhớ về việc y không biết nhiều đến nhường nào. Y chưa bao giờ nghe tới những bộ phim truyền hình mà các tập của chúng luôn được nhắc đến. Y chưa bao giờ đi xem phim. Y chưa bao giờ đi nghỉ mát. Y chưa bao giờ tham dự trại hè. Y chưa bao giờ ăn pizza hay kem que hay macaroni và phô mai (và y chắc chắn chưa bao giờ thử — như cả Malcolm và JB đều đã từng — món gan ngỗng hay sushi?). Y chưa bao giờ sở hữu một chiếc máy vi tính hay một cái điện thoại, y hiếm khi nào được phép lên mạng. Y chẳng bao giờ sở hữu một vật gì, y nhận ra, không thực sự sở hữu: những quyển sách của y mà y vô cùng tự hào về chúng, những chiếc áo sơ mi mà y cứ sửa đi sửa lại hết lần này tới lần khác, chúng chẳng là gì cả, chúng chỉ là rác rưởi mà thôi, niềm kiêu hãnh mà y có được từ chúng còn đáng hổ thẹn hơn cả việc không sở hữu bất cứ thứ gì trong số đó. Lớp học là nơi an toàn nhất và là nơi duy nhất mà y cảm thấy có đầy đủ tự tin: mọi nơi khác là một trận tuyết lở liên miên không dứt của của những lần tự vấn, mỗi một lần lại khó khăn hơn so với lần trước, mỗi một lần lại gợi nhớ đến sự ngu dốt vô tận của y. Y nhận thấy bản thân mình duy trì trong tâm trí một cái danh sách của những điều mới mẻ mà y nghe được hoặc bắt gặp. Nhưng y không bao giờ có thể hỏi một ai về câu trả lời. Để làm được như vậy sẽ là một sự thừa nhận về sự khác biệt tuyệt đối và sẽ mời chào những câu hỏi xa hơn và sẽ khiến y bị phơi bày ra, và sẽ không thể tránh khỏi việc dẫn đến những cuộc trò chuyện mà y chắc chắn không chuẩn bị để tham gia. Y cảm thấy, thường xuyên, không quá mức lạc lõng — bởi vì thậm chí là sinh viên nước ngoài (thậm chí là Odval, đến từ.một ngôi làng bên ngoài Ulaanbaatar[1]) dường như cũng hiểu những thông tin này — như là đến từ một thời đại khác: tuổi thơ của y có lẽ thuộc về thế kỷ mười chín, chứ không phải thế kỷ hai mươi mốt, vì tất cả những gì mà y hình như đã bỏ lỡ, và vì những điều y biết dường như mơ hồ và đơn thuần chỉ để làm cảnh đến nhường nào. Làm thế nào mà hình như tất cả những người bạn của y, dù cho họ có sinh ra ở Lagos[2] hay Los Angeles, đều có ít hoặc nhiều hơn cùng một trải nghiệm, đều có cùng một nền tảng văn hóa? Chắc là phải có một ai đó hiểu biết ít ỏi như y chứ? Và nếu như là không, thì y làm thế nào để bắt kịp bây giờ?

        Vào các buổi tối, khi một nhóm người bọn họ tràn vào phòng của một ai đó (một ngọn nến cháy, cái boong hút cần cũng cháy nốt), câu chuyện thường xoay qua tuổi thơ của các bạn cùng lớp với y, mà họ hầu như không rời bỏ và họ đặc biệt thấy nhớ hoài và hiển nhiên mang nhiều ám ảnh. Họ thuật lại gần như mọi chi tiết về chúng, dù rằng y chẳng bao giờ biết chắc rằng liệu mục đích là để so sánh sự tương đồng với những người khác hay là để khoe khoang về sự bất đồng của mình, bởi vì dường như họ đều tìm thấy niềm vui thú ngang nhau trong cả hai điều ấy. Họ nói về những lệnh giới nghiêm, và những cuộc nổi loạn, và những vụ trừng phạt (bố mẹ của vài người có đánh họ, và họ liên hệ những câu chuyện như thế với một thứ gần như là niềm tự hào, mà cũng khiến y cảm thấy ngạc nhiên không kém) và những con vật nuôi và anh chị em ruột, và những thứ họ khoác lên người khiến cho cha mẹ họ phát điên, và về những hội nhóm mà họ giao du ở trường và về những người đã cùng họ đã đánh mất trinh tiết của mình, và ở nơi nào, và như thế nào, và về những chiếc xe hơi mà họ đã đâm hỏng và những khớp xương mà họ đã làm gãy, và những môn thể thao mà họ đã chơi và những ban nhạc mà họ đã thành lập. Họ kể về những kỳ nghỉ thảm họa của gia đình và những người họ hàng kỳ lạ, lòe loẹt và những người hàng xóm và giáo viên kỳ quặc, vừa được yêu quý vừa bị căm ghét. Y thích thú trước những lời thổ lộ này nhiều hơn so với mức mà y kỳ vọng — đó là những thanh thiếu niên thực thụ với những cuộc đời thực, giản đơn mà y vẫn luôn thấy thắc mắc về — và y nhận ra việc ngồi đó vào tối muộn và lắng nghe họ nói vừa thư thái lại vừa giúp y học hỏi được nhiều điều. Sự yên lặng của y vừa là một sự sự bắt buộc vừa là một sự tự bảo vệ, và có thêm lợi thế của việc khiến y có vẻ bí ẩn và hấp dẫn hơn so với những gì y biết về bản thân mình. “Thế còn cậu thì sao, Jude?” một vài người hỏi y, ngay lúc đầu, và y biết đủ ngay sau đó — y là một kẻ tiếp thu nhanh — rằng chỉ cần đơn giản nhún vai và trả lời, với một nụ cười, “Chuyện của tôi tẻ nhạt lắm.” Y đã thấy ngạc nhiên và nhẹ nhõm bởi vì họ dễ dàng chấp nhận câu trả lời đó ra sao, và cả biết ơn nữa vì việc chỉ biết đến bản thân mình của họ. Dù sao đi nữa không ai trong số họ thực sự muốn nghe câu chuyện của người khác; họ chỉ muốn kể câu chuyện của mình mà thôi.

        Và dầu vậy sự yên lặng của y không phải là không được tất cả mọi người để ý đến, và chính sự yên lặng ấy đã khiến y mang một biệt danh. Đó là vào năm mà Malcolm khám phá ra chủ nghĩa hậu hiện đại, và JB nhặng xị cả lên về việc Malcolm biết đến tư tưởng ấy muộn màng ra sao dù hắn cũng chẳng chịu thừa nhận rằng chưa từng nghe về nó.

        “Cậu chỉ không thể thừa nhận rằng cậu là hậu-da đen thôi, Malcolm ạ,” JB nói. “Và đồng thời: cậu phải thực sự là người da đen trước đã để có thể đi xa hơn sắc màu đen.”

            “Cậu là đồ khốn, JB,” Malcolm nói.

            “Hoặc là,” JB tiếp tục, “cậu phải thật sự không thể phân loại được nên những khái niệm thông thường đó không thể áp dụng với cậu.” Rồi sau đó, JB quay sang y, và y cảm thấy ớn lạnh với một nỗi sợ hãi thoáng qua. “Giống như Judy đây: chúng ta chưa bao giờ thấy cậu ấy cùng với ai, ta không biết chủng tộc của cậu ấy là gì, ta chẳng biết gì về cậu ấy cả. Hậu-giới tính, hậu-chủng tộc, hậu-bản sắc, hậu-quá khứ.” JB mỉm cười với y, có lẽ để thể hiện rằng ít nhất có một phần là cậu ta đang đùa. “Hậu-đàn ông. Jude Hậu-đàn ông.”

          “Hậu-đàn ông,” Malcolm nhắc lại: cậu chưa từng lợi dụng sự không thoải mái của người khác để chuyển hướng sự chú ý khỏi bản thân mình. Và mặc dù cái tên ấy không gắn với y  — khi Willem quay trở lại căn phòng và nghe thấy nó, anh chỉ trợn mắt lên, mà dường như đã loại bỏ bớt một phần cơn xúc động khỏi JB — y được nhắc nhớ rằng dù y tự thuyết phục bản thân mình là y hoàn toàn hòa hợp với mọi người, dù y có cố gắng che đậy những phần kỳ cục về bản thân mình bao nhiêu, y vẫn chẳng thể lừa ai cả. Họ đều biết rằng y thật kỳ lạ, và giờ đây sự xuẩn ngốc của y đã mở rộng đến mức y phải tự thuyết phục mình rằng y phải thuyết phục họ là y không như vậy. Cho dù là như thế, y vẫn tiếp tục tham gia những cuộc chuyện phiếm vào tối muộn, vẫn tiếp tục tụ tập với những người bạn cùng lớp trong phòng họ: y bị lôi cuốn về phía họ, dù cho lúc này y biết rằng y đang đặt mình vào nguy hiểm mỗi khi tham gia cùng họ.

          Đôi khi trong những cuộc trò chuyện ấy (y bắt đầu nghĩ về chúng theo cách này, như là những buổi phụ đạo chuyên sâu mà từ đó y có thể điều chỉnh lại sự khuyết thiếu về kiến thức văn hóa của mình) y sẽ bắt gặp Willem đang nhìn y với một biểu cảm không thể đọc được trên khuôn mặt anh, và sẽ băn khoăn rằng liệu Willem có thể đoán ra được bao nhiêu về y. Đôi khi y phải ngăn bản thân khỏi việc tiết lộ điều gì đó với anh. Có thể là y đã sai, đôi khi y nghĩ vậy. Có lẽ sẽ tốt hơn nếu thừa nhận với ai đó rằng trong hầu hết thời gian y khó có thể liên hệ bản thân mình với những gì đã được nhắc đến, rằng y không thể tham gia vào thứ ngôn ngữ chung của mọi người về những sai lầm và thất vọng thời thơ ấu. Nhưng rồi y tự ngăn mình lại, vì thừa nhận sự dốt nát về thứ ngôn ngữ ấy cũng có nghĩa là phải giải thích về thứ ngôn ngữ mà y từng sử dụng.  

        Nếu như y có kể với ai đó, y biết đấy sẽ là Willem. Y ngưỡng mộ cả ba người bạn cùng phòng của mình, nhưng Willem là người duy nhất mà y tin tưởng. Trong trại mồ côi, y nhanh chóng hiểu ra rằng có ba loại con trai: Loại đầu tiên có thể gây ra đánh nhau (đó chính là JB). Loại thứ hai không tham dự vào, nhưng cũng chẳng chạy đến giúp (đấy chính là Malcolm). Và loại thứ ba thực sự sẽ cố gắng giúp đỡ anh (là loại hiếm nhất, và đó dĩ nhiên là Willem). Có lẽ điều đó cũng đúng với bọn con gái, nhưng y không có nhiều thời gian ở bên bọn con gái nên y không chắc.

        Và càng ngày y càng chắc rằng Willem đã biết được điều gì đó. (Biết gì? y tranh luận với chính mình, trong những thời điểm tỉnh táo. Mày chỉ đang tìm kiếm lý do để nói với cậu ấy, và rồi cậu ấy sẽ nghĩ gì về mày đây? Hãy thông minh lên. Đừng nói gì hết cả. Hãy bình tĩnh lại đi.) Nhưng điều này dĩ nhiên chẳng hề logic gì cả. Y biết thậm chí là từ trước khi y vào đại học rằng tuổi thơ của y là một trường hợp đặc biệt – anh chỉ cần đọc một vài cuốn sách để có thể đi tới kết luận đó – nhưng chỉ cho tới gần đây y mới nhận ra rằng nó thực sự đặc biết thế nào. Sự khác thường của nó vừa cách ly vừa cô lập y: nó gần như là không thể tưởng tượng nổi nên không một ai có thể đoán ra hình dạng và những chi tiết về nó, mà có nghĩa là nếu như họ làm vậy, đó là bởi vì y để lộ ra các đầu mối như là một kẻ đáng khinh vậy, những lời cầu xin sự chú ý vô cùng xấu xí và không thể tha thứ.

        Dầu vậy. Sự nghi ngờ vẫn tiếp tục tồn tại, đôi khi với một mức độ không mấy thoải mái, như thể đó là điều không thể tránh được rằng y nên nói ra điều gì đó và được nhận các thông điệp mà phải cần tới nhiều năng lượng để bỏ qua hơn là để tuân theo.

        Vào một đêm nọ chỉ có bốn người bọn họ. Đó là vào đầu năm học thứ ba, và thật bất thường khi nhường ấy cũng đủ cho tất cả bọn họ để cảm thấy ấm áp và có một chút ủy mị về nhóm của mình. Và họ là một nhóm, và trước sự ngạc nhiên của y, y là một phần trong đó: tòa nhà mà họ đang ở được gọi là Nhà Hood, và họ được biết đến trong trường như là Các chàng trai ở nhà Hood. Tất cả bọn họ đều có những người bạn khác (JB và Willem có nhiều bạn nhất), nhưng đã trở thành một sự mặc định (hoặc ít nhất cũng là một giả định, mà cũng không kém phần tốt đẹp) rằng sự trung thành của họ trước hết là được giành cho nhau. Không một ai trong số họ từng nói về sự hiển nhiên này, nhưng họ đều biết rằng họ thích cái sự giả định ấy, rằng họ thích cái mã số ấy của tình bạn đã được đóng dấu lên mình.  

        Tối đó họ ăn pizza, do JB đặt hàng và thanh toán bởi Malcolm. Còn có cả cần sa, do JB kiếm được, và ngoài trời đang mưa và rồi có mưa đá, tiếng những viên đá đập lách cách vào mặt kính và gió làm cho các ô cửa sổ cũ kỹ rung lên lạch cạch là những yếu tố cuối cùng tạo nên cảm giác hạnh phúc trong họ. Chiếc tẩu được chuyền tay theo vòng tròn, và mặc dầu y không hề hút lấy một hơi — y không bao giờ hút cần cả; y quá đỗi sợ hãi về những điều y có thể làm hay nói ra nếu như y mất đi sự kiểm soát của bản thân — y có thể cảm thấy khói thuốc cuộn lên trong mắt y, vây chặt lấy đôi mắt y như một con quái thú xù xì. Y đã cẩn trọng, như là y vẫn luôn vậy mỗi khi một người trong số họ trả tiền thức ăn, để ăn ít nhất có thể, và mặc dầu y vẫn thấy đói (vẫn còn lại hai miếng, và y nhìn vào chúng, chằm chằm, trước khi y kịp nhận ra và cương quyết quay mặt đi), y cũng cực kỳ mãn nguyện. Mình có thể ngủ, y nghĩ, và duỗi người ra trên chiếc tràng kỷ, đắp chiếc chăn của Malcolm lên người mình. Y cảm thấy mệt lử đầy dễ chịu, như y vẫn luôn cảm thấy mệt mỏi vào những ngày đó: như thể nỗ lực hàng ngày của việc tỏ ra bình thường đã lấy đi hầu hết năng lượng có trong con người y. (Y được xem là, đôi khi, có vẻ như cứng nhắc, lãnh đạm, buồn tẻ, mà y nhận ra rằng ở đây có thể được xem là sự bất hạnh lớn hơn cả so với những gì y đã từng trải qua.) Phía sau, như thể là từ một nơi nào xa lắm, y có thể nghe thấy tiếng Malcolm và JB đang tranh cãi về sự độc ác.

        “Tôi chỉ nói là, ta sẽ tranh luận như thế này nếu mà cậu chịu đọc Plato[3].”

        “Ừ, nhưng Plato gì?”

        “Cậu đã đọc Plato chưa?”

        “Tôi không thấy—”

        “Có chưa?”

        “Chưa, nhưng—”

        “Thấy chưa! Thấy chưa, thấy chưa?” Hẳn đó phải là Malcolm, nhảy tưng tưng và chỉ vào JB, trong khi Willem thì cười phá lên. Phê cần, Malcolm sẽ trở nên ngốc nghếch và ra vẻ mô phạm hơn, và ba người bọn họ rất thích tham gia vào những cuộc tranh luận ngớ ngẩn và mô phạm về triết học với cậu, những câu chuyện mà Malcolm không tài nào nhớ nổi vào buổi sáng hôm sau.  

        Rồi có một quãng nghỉ giải lao mà Willem và JB nói về một chuyện gì đó — y quá buồn ngủ để thực sự lắng nghe, chỉ đủ tỉnh táo để phân biệt giọng nói của họ — và rồi giọng của JB vang lên trên cái ly của hắn: “Jude!”

        “Gì thế?” y trả lời, mắt vẫn nhắm.

        “Tôi muốn hỏi cậu một điều.”

        Ngay lập tức y cảm thấy có thứ gì đó bên trong mình trở nên cảnh giác. Khi phê, JB có cái khả năng kỳ lạ trong việc hỏi những câu hỏi hoặc thực hiện những sự quan sát mà vừa gây bối rối lại vừa mang tính phá hoại. Y không nghĩ rằng có sự âm hiểm nào đằng sau đó, nhưng điều ấy sẽ khiến y băn khoăn về những gì có trong tiềm thức của JB. JB thật sự là, kẻ từng hỏi người bạn chung ký túc xá với họ, Tricia Park, rằng cảm giác như thế nào khi lớn lên như là một người em song sinh xấu xí (Tricia tội nghiệp đã đứng dậy và chạy khỏi căn phòng), hay đó là cái người, sau khi JB chứng kiến y trải qua một cơn đau dữ dội, một trong những lần mà y có thể cảm thấy mình lúc tỉnh lúc mê, cảm giác cơn buồn nôn dâng trào như khi trò chơi tàu lượn cao tốc đột ngột dốc lên, đã trốn đi vào đêm đó với gã bạn trai nghiện ma túy của hắn và chỉ trở lại vào rạng sáng ngày hôm sau với một bó hoa mộc lan đỏ thắm trong tay, mà rõ ràng là được hái trộm trong sân trường?

        “Gì vậy?” y hỏi lại lần nữa, đầy lo lắng.

        “À,” JB nói, dừng lại và hít thêm một hơi cần nữa, “bọn mình đã quen biết nhau được một thời gian—”

        “Thật ư?” Willem hỏi giả vờ ngạc nhiên.

        “Im đi, Willem,” JB tiếp tục. “Và tất cả chúng tôi đều muốn biết tại sao cậu lại chưa bao giờ kể cho chúng tôi về điều gì đã xảy ra đối với đôi chân của cậu.”

        “Ôi, JB, chúng ta không—” Willem bắt đầu, nhưng Malcolm, người có thói quen ồn ã về phe với JB mỗi khi phê thuốc, cắt ngang lời anh: “Bọn tôi thực sự hơi bị tổn thương đấy, Jude. Cậu không tin chúng tôi à?”

        “Chúa ơi, Malcolm,” Willem thốt lên, và rồi, bắt chiếc giọng nam cao the thé của Malcolm, “ ‘Bọn tôi thực sự hơi bị tổn thương đấy.’ Cậu ăn nói như đàn bà ý. Đấy là việc riêng của Jude.”

        Và điều này còn tệ hơn nữa, theo một cách nào đó, khi có Willem, vẫn luôn là Willem, bảo vệ y. Chống lại Malcolm và JB! Và vào thời điểm ấy, y ghét tất cả bọn họ, nhưng dĩ nhiên là y không hề ghét họ. Họ là bạn của y, những người bạn đầu tiên, và y hiểu rằng tình bạn là một cơ số những sự trao đổi: về sự yêu thích, về thời gian, đôi khi là tiền bạc, luôn luôn là thông tin. Và y thì không có tiền bạc. Y chẳng có gì để trao cho họ cả, y chẳng có gì để cho họ. Y không thể cho Willem mượn một cái áo len, cái cách mà Willem để cho y mượn áo của anh, hay trả lại cho Malcolm hàng trăm đô la mà cậu từng dúi vào tay y, hay thậm chí là giúp đỡ JB trong ngày hắn chuyển ra, như là JB đã từng giúp đỡ y.  

        “À,” y bắt đầu, và nhận ra tất cả mọi người đều im lặng, thậm chí là cả Willem. “Chuyện chẳng có gì hay ho đâu.” Y vẫn nhắm mắt lại, bởi vì điều ấy sẽ khiến cho việc kể ra câu chuyện dễ dàng hơn khi mà y không phải nhìn vào họ, và cũng bởi vì đơn giản y không cho rằng y có thể chịu đựng nổi cái khoảnh khắc này. “Đó là một vụ đâm xe. Khi ấy tôi mười lăm tuổi. Một năm trước khi tôi tới đây.”  

        “Ôi,” JB lên tiếng. Sau đó là yên lặng; y có thể cảm thấy có thứ gì đó trong căn phòng đang xẹp xuống, có thể cảm thấy sự tiết lộ của y đã khiến những người khác tỉnh táo lại đôi chút. “Tôi rất tiếc, người anh em. Thật kinh khủng.”  

        “Trước đó cậu có thể đi được không?” Malcolm hỏi, như thể giờ đây y chẳng thể bước đi vậy. Và điều này khiến y thấy buồn và xấu hổ: điều mà y xem như là bước đi, đối với họ dường như không phải vậy.  

        “Có,” y trả lời, và rồi, bởi vì điều đó là đúng, cho dù đó không phải là cái cách mà họ hiểu về nó, y thêm vào, “Tôi từng chạy dọc đất nước này.”

        “Ồ, ôi,” Malcolm nói. JB thốt lên một tiếng rên đầy thông cảm.

        Chỉ có Willem, y nhận thấy, là không nói gì. Nhưng y không dám mở mắt ra để nhìn vào biểu cảm trên gương mặt anh.

        Rốt cuộc, lời đồn thổi cũng được truyền đi, như là y vẫn biết vậy. (Có lẽ mọi người thật sự lo lắng về cái chân của y. Tricia Park sau đó đã tới gặp y và bảo với y rằng cô vẫn cứ luôn cho là y bị bại não. Y có thể nói gì về điều đó đây?) Dù vậy, theo một cách nào đó, khi câu chuyện được kể đi kể lại, nó trở thành vụ tai nạn xe hơi, và rồi một vụ tai nạn xe hơi do tài xế say rượu.

        “Những lời giải dễ dàng nhất thường là những cách đúng đắn nhất,” giáo sư toán của y, Tiến sĩ Li, vẫn thường nói vậy, và có lẽ nguyên lý ấy cũng đúng với cả điều này nữa. Ngoại trừ việc y biết rằng không phải vậy. Toán học là một việc hoàn toàn khác. Chẳng có gì lại tối giản được như thế cả.

        Nhưng điều lạ lùng là: bởi việc câu chuyện của y bị sửa đổi thành vụ tai nạn xe hơi, y đã được trao cho cơ hội để tạo ra một phiên bản mới; tất cả những gì mà y cần phải làm là công nhận điều đó. Nhưng y không bao giờ làm vậy. Y chẳng bao giờ có thể gọi đó là một vụ tai nạn, bởi vì nó không phải như vậy. Và vậy là do kiêu hãnh hay ngu xuẩn mà y không nhận lấy con đường lui đã được bày ra cho mình? Y không biết nữa.

        Và rồi y nhận ra một điều khác nữa. Y rơi vào một cơn đau đớn khác — một cơn đau cực kỳ đáng xấu hổ, nó diễn ra khi y chuẩn bị quay về sau ca làm thêm tại thư viện, và Willem chỉ vừa mới có mặt trước đó vài phút, chuẩn bị bắt đầu ca làm của anh — khi anh nghe thấy người thủ thư, một phụ nữ tử tế, hiểu biết mà y rất quý, hỏi y rằng tại sao y lại bị đau như vậy. Họ đưa y, cô Eakeley và Willem, tới phòng nghỉ ở phía sau, và y có thể ngửi thấy mùi đường cháy của thứ cà phê cũ đặc quánh trong không khí, một mùi hương mà y rất ghét, quá dữ dội và mãnh liệt khiến y gần như nôn mửa.

        “Chấn thương do xe cộ,” y nghe thấy tiếng Willem trả lời, như thể vọng lại từ phía bờ bên kia của một cái hồ đen ngòm.

        Nhưng phải đến tận tối hôm đó y mới hiểu được lời Willem nói, và những từ mà anh sử dụng: chấn thương, mà không phải là tai nạn. Liệu điều đó có chủ ý hay không, y tự hỏi? Willem đã biết được những gì? Y rối trí đến mức y có lẽ nên hỏi lại anh, nếu Willem có ở đây, nhưng không — anh đang ở với bạn gái của mình.

        Không có ai ở đó, y nhận ra. Căn phòng là của mình y. Y cảm thấy cái sinh vật ở bên trong mình — mà y hình dung là một thứ gì đó gầy gò và tơi tả và nom giống như là loài vượn cáo, phản xạ nhanh và sẵn sàng chạy nước rút, đôi mắt đen ướt át của nó luôn nhìn quanh đầy cảnh giác trước những nguy hiểm trong tương lai — đang thư giãn và nằm dưới mặt đất. Vào những thời điểm như thế y nhận thấy cuộc sống ở trường đại học thật tuyệt vời: y ở trong một căn phòng ấm áp, và ngày hôm sau y sẽ có ba bữa ăn trong ngày và ăn nhiều hết mức mà y có thể, và giữa những bữa ăn đó y sẽ lên lớp, và không một ai cố làm tổn thương y hay bắt y làm những điều mà y không muốn. Đâu đó ở giữa là những người bạn cùng phòng với y – những người bạn của y – và y đã vượt qua được thêm một ngày nữa mà không để lộ ra bất kỳ bí mật nào về bản thân, và một ngày nữa được thêm vào giữa cái con người mà y từng là với con người mà y hiện trở thành. Có vẻ như, luôn luôn, là một sự trọn vẹn xứng đáng cùng với giấc ngủ, và vì thế mà y nhắm mắt lại và sẵn sàng cho một ngày khác trên cõi đời này.   

 

***

 


[1] Ulaanbaatar (còn có tên Việt hóa là Khố Luân; tiếng Nga: Улан-Батор, Ulan Bator; tiếng Mông Cổ: Улаанбаатар, ᠤᠯᠠᠭᠠᠨᠪᠠᠭᠠᠲᠤᠷ, [ʊɮɑːŋ.bɑːtʰɑ̆r], Ulaγanbaγatur; nghĩa là “Anh hùng Đỏ”) là thủ đô và cũng là thành phố lớn nhất của Mông Cổ. Với vị thế là một đô thị trực thuộc trung ương, thành phố không thuộc bất kỳ một tỉnh nào, và có dân số trên một triệu người vào năm 2008.

Nằm tại phía bắc của miền trung Mông Cổ, thành phố có độ cao 1.310 mét (4.300 ft) trên một thung lũng nằm bên sông Tuul. Ulaanbaatar là trung tâm văn hóa, kinh tế và tài chính của toàn bộ đất nước Mông Cổ. Thành phố cũng là trung tâm của mạng lưới đường bộ tại Mông Cổ, và có thể kết nối với cả Đường sắt xuyên Siberi của Nga và hệ thống đường sắt Trung Quốc.

Thành phố được hình thành từ năm 1639 với vai trò là một trung tâm tu viện Phật giáo và di chuyển dần cùng với những người dân du mục. Năm 1778 thành phố được hình thành một cách cố định tại địa điểm hiện nay, nơi hợp lưu của hai dòng sông Tuul và Selbe. Trước đó thành phố đã thay đổi vị trí 28 lần, mỗi địa điểm trước đó đều được chọn lựa một cách kỹ lưỡng.

[2] Lagos là thành phố lớn nhất Nigeria và là một trong những thành phố đông dân nhất châu Phi với số dân 21 triệu người theo thống kê năm 2012. Lagos là thành phố phát triển nhanh thứ 2 ở châu Phi và thứ 7 trên thế giới. Từ năm 1991 trở về trước, Lagos là thủ đô của Nigeria (nay là thành phố Abuja).

 

[3] Platon (tiếng Hy Lạp: Πλάτων, Platōn, “Vai Rộng”), hay còn được Anh hóa là Plato, khoảng 427-347 TCN, là một nhà triết học cổ đại Hy Lạp được xem là thiên tài trên nhiều lĩnh vực, có nhiều người coi ông là triết gia vĩ đại nhất mọi thời đại cùng với Socrates là thầy ông.

Sinh ra ở Athen, ông được hấp thụ một nền giáo dục tuyệt vời từ gia đình, ông tỏ ra nổi bật trên mọi lĩnh vực nghệ thuật và đặc biệt là triết học, ngành học mà ông chuyên tâm theo đuổi từ khi gặp Socrates.

Ông đã từng bị bán làm nô lệ và được giải thoát bởi một người bạn, sau đó, ông đã trở về Athena khoảng năm 387 TCN và sáng lập ra Akademia (tên lấy theo khu vườn nơi ông ở). Đây có thể được coi là trường đại học đầu tiên trong lịch sử nhân loại, nơi dành cho nghiên cứu, giảng dạy khoa học và triết học. Aristoteles đã theo học tại đây khi 20 tuổi và sau này lập ra một trường khác là Lyceum.

Khi Socrates chết vào năm 399 TCN thì Platon mới khoảng 31 tuổi. Trong suốt phiên tòa xử thầy mình, ông ngồi dự ở phòng xử án. Toàn bộ chuỗi biến cố đó dường như đã ăn sâu vào tâm hồn ông thành một kinh nghiệm chấn động, vì ông đánh giá Socrates là người giỏi nhất, minh triết nhất và chính trực nhất trong tất cả mọi người.

Từ đó Platon bắt đầu cho phổ biến một loạt các đối thoại triết học trong đó nhân vật chính luôn luôn là Socrates, căn vặn những kẻ đối thoại của ông về những khái niệm căn bản về đạo đức và chính trị, làm cho họ mắc mâu thuẫn trước những câu hỏi của ông.

Có lẽ Platon có hai động cơ chính để làm việc này. Một là để thách thức và tái khẳng định những lời giáo huấn của Socrates bất chấp chúng đã bị kết án một cách công khai; hai là để phục hồi danh dự người thầy yêu quý của mình, cho mọi người thấy ông không phải là một kẻ hủy hoại giới trẻ mà là một bậc thầy danh giá nhất của họ.