2bf86481eb01da269e8abe0fb65b4add

 

 

CHƯƠNG 3 (tiếp)

 

 

       Khi Willem thức dậy đã gần hai giờ chiều, và điều đầu tiên anh nhớ ra là quyết định của anh vào sáng sớm. Tất nhiên sự việc đã được sắp xếp lại để làm chùn bước quyết tâm của anh: giường của Jude thật gọn gàng. Jude không có ở đó. Phòng tắm, khi anh ghé qua, có mùi thuốc tẩy. Bên bàn trà, là Jude, đang dập những hình tròn lên lớp bột với một vẻ khắc khổ khiến Willem vừa cảm thấy khó chịu vừa nhẹ nhõm. Nếu như anh buộc phải đối mặt với Jude, có vẻ như, đó sẽ không phải bởi vì một sự hỗn loạn, là bằng chứng về một thảm họa.

        Anh ngồi xuống chiếc ghế đối diện Jude. “Cậu đang làm gì thế?”

        Jude chẳng hề ngước lên. “Làm thêm gougères,” y trả lời, điềm tĩnh. “Một mẻ bánh tôi làm ngày hôm qua không được ổn cho lắm.”

        “Chẳng có ai quan tâm đếch đâu, Jude ạ,” anh nói đầy ác ý, và rồi, rướn người về phía trước một cách bất lực, “Chúng ta có thể chỉ cần đưa cho họ phô mai que và nó cũng như nhau cả ấy mà.”

        Jude nhún vai, và Willem cảm thấy sự khó chịu trong anh nhanh chóng trở thành giận dữ. Jude ngồi đây sau những gì đã xảy ra, lúc này anh có thể thừa nhận, một đêm kinh khủng, hành động như thể không có việc gì, dù cho cái băng tay của Jude nằm vô dụng trên mặt bàn. Anh chuẩn bị lên tiếng khi Jude đặt ly nước mà y sử dụng để cắt bột xuống mặt bàn và nhìn anh. “Tôi thực sự xin lỗi, Willem,” y nói, khẽ đến mức Willem gần như không thể nghe thấy lời y. Y thấy Willem nhìn vào tay mình và đặt nó lên trên đùi. “Tôi không bao giờ nên —” Y ngừng lại. “Tôi xin lỗi. Đừng giận tôi.”

        Cơn giận của anh tan biến. “Jude,” anh hỏi, “cậu đã làm gì vậy?”

        “Không phải như cậu nghĩ đâu. Tôi hứa với cậu đấy, Willem.”

        Nhiều năm về sau khi Willem kể lại cuộc nói chuyện này — những diễn biến của nó, nếu không phải là nội dung thực tế, theo nghĩa đen — cho Malcolm như là bằng chứng về sự kém cỏi của anh, sự thất bại của chính anh. Làm sao mà sự việc lại có thể khác đi nếu như anh nói chỉ một câu thôi? Và câu nói ấy hẳn phải là “Jude, tại sao cậu lại cố tự sát?” hay “Jude, cậu cần phải nói cho tôi biết về việc gì đang diễn ra,” hay “Jude, tại sao cậu lại làm như thế với bản thân mình?” Bất kỳ câu hỏi nào trong số đó đều có thể chấp nhận được; bất kỳ câu hỏi nào trong số đó cũng sẽ dẫn tới một cuộc nói chuyện sâu hơn mà sẽ có thể sửa chữa được mọi chuyện, hay ít nhất là phòng tránh được những gì sẽ xảy ra.

        Không phải vậy hay sao?

        Nhưng tại đó, trong khoảnh khắc này, thay vì thế anh chỉ lắp bắp, “Được rồi.”

        Họ ngồi đó trong yên lặng suốt một thời gian dài, lắng nghe tiếng rì rầm từ chiếc TV của nhà hàng xóm, và chỉ rất lâu sau đó Willem mới băn khoăn tự hỏi liệu Jude có cảm thấy buồn hay nhẹ nhõm vì anh dễ tin tưởng đến vậy hay không.

        “Cậu có giận tôi không?”

        “Không.” Anh hắng giọng. Và anh không hề giận. Hay, ít nhất, giận không phải là từ mà anh sẽ lựa chọn, nhưng rồi anh chẳng thể nói rõ từ nào mới là chính xác. “Nhưng rõ ràng là chúng ta phải hủy buổi tiệc thôi.”

        Lúc này, Jude trông hoảng hốt. “Tại sao kia chứ?”

        “Tại sao á? Cậu đang đùa tôi đấy à?”

        “Willem,” Jude nói, với tông giọng mà Willem cho là giọng nói khi lên tòa của y, “mình không thể hủy được. Mọi người sẽ có mặt trong bảy giờ nữa — hoặc sớm hơn. Và chúng ta thực sự không biết được JB đã mời những ai. Họ đằng nào cũng sẽ tới, dù ta có thông báo cho mọi người đi chăng nữa. Và ngoài ra” — y hít vào thật mạnh, như thể y bị nhiễm chứng viêm phổi và đang cố gắng chứng tỏ rằng nó đã tự khỏi — “tôi hoàn toàn ổn. Việc ta hủy buổi tiệc sẽ khó khăn hơn so với việc tiếp tục tiến hành.”

        Ôi, làm thế nào mà và tại sao lại anh cứ luôn nghe theo lời của Jude? Nhưng anh quả đã làm như vậy, thêm một lần nữa, và chẳng mấy chốc mà đã đến tám giờ, và những ô cửa sổ lại được mở ra, và căn bếp một lần nữa lại nóng ấm với những chiếc bánh nướng — như thể đêm trước đó chưa từng diễn ra, như thể những giờ phút đó chỉ là ảo giác — và Malcolm và JB xuất hiện. Willem đứng nơi ngưỡng cửa căn phòng ngủ của họ, cài nút áo sơ mi và nghe Jude kể với các bạn rằng y làm bỏng tay mình trong lúc nướng mẻ bánh gougères, và rằng Andy đã phải bôi thuốc mỡ lên đó.

        “Tôi đã bảo cậu là đừng làm mấy cái bánh gougères chết tiệt này rồi mà,” anh có thể nghe thấy tiếng nói của JB, đầy vui vẻ. Hắn mê tít những chiếc bánh do Jude nướng.

        Và rồi anh trải qua một cơn xúc động mạnh mẽ: anh có thể đóng cửa lại, và đi ngủ, và khi anh thức dậy, sẽ là năm mới, và mọi thứ sẽ bị xóa sạch, và anh sẽ chẳng còn cảm thấy sự dằn vặt khó chịu, sâu sắc trong lòng mình nữa. Cái ý nghĩ gặp gỡ Malcolm và JB, việc tiếp xúc với họ và mỉm cười và đùa cợt, bỗng nhiên có vẻ như không thể nào chịu đựng nổi.

        Nhưng, dĩ nhiên, anh vẫn cứ gặp họ, và khi JB đòi tất cả bọn họ cùng lên sân thượng để hắn có thể hít thở một chút khí trời và hút một điếu thuốc, anh để cho Malcolm phàn nàn một cách vô nghĩa và nửa vời về việc sẽ thật lạnh lùng làm sao nếu không cùng tham gia cùng với họ, trước khi cam chịu đi theo ba người leo lên chiếc cầu thang hẹp dẫn lên mái nhà được lợp bằng giấy dầu.

        Anh biết rằng anh đang hờn dỗi, và anh lùi về sau và dựa vào tường, để cho những người khác nói chuyện mà không có sự góp mặt của anh. Trên đầu anh, bầu trời đã hoàn toàn tối đen, bóng tối lúc nửa đêm. Nếu như anh nhìn về phương bắc, anh có thể nhìn thấy ngay bên dưới mình là cửa hàng họa phẩm nơi JB từng làm việc bán thời gian kể từ khi bỏ việc tại tòa soạn báo vào một tháng trước, và đằng xa, là hình dáng lòe loẹt, bất nhã của tòa nhà Empire State, tòa nhà sáng rực lên với thứ ánh sáng xanh chói mắt khiến anh nghĩ đến những trạm xăng, và chuyến đi dài trở về nhà của bố mẹ anh từ giường bệnh của Hemming trong bệnh viện nhiều năm về trước.   

        “Các cậu,” anh gọi những người còn lại, “lạnh rồi.” Anh không mang theo áo khoác; và mọi người cũng vậy. “Xuống thôi.” Nhưng khi anh đi tới cánh cửa mở ra tới cầu thang của tòa nhà, tay cầm không xoay được. Anh thử lại lần nữa — nó không hề nhúc nhích. Họ đã bị nhốt. “Mẹ kiếp!” anh chửi thề. “Mẹ kiếp, mẹ kiếp, mẹ kiếp!”

        “Chúa ơi, Willem,” Malcolm thốt lên, hoảng hốt, bởi vì Willem hiếm khi nào lại tức giận. “Jude? Cậu có chìa khóa không?”

        Nhưng Jude không mang theo chìa khóa. “Mẹ kiếp!” Anh không ngăn được mình lại. Mọi thứ đều có vẻ sai lầm. Anh không thể nhìn vào Jude. Anh đổ lỗi cho Jude, mà thật chẳng công bằng chút nào. Anh tự buộc tội mình, dường như có công bằng hơn đôi chút nhưng lại khiến anh cảm thấy tồi tệ hơn. “Có ai mang theo điện thoại không?” Nhưng thật ngớ ngẩn làm sao, không một ai có điện thoại bên mình: chúng đều ở dưới nhà, nơi mà chúng nên ở, hay không phải bởi vì JB chết tiệt, hay vì Malcolm chết tiệt, người vẫn luôn nghe theo mọi điều JB nói, mọi ý tưởng ngu ngốc, nửa vời mà không hề thắc mắc lấy một lần, và vì Jude chết tiệt nữa, vì đêm qua, vì suốt chín năm qua, đã tự gây tổn thương cho chính mình, vì không để cho anh được giúp đỡ, vì đã làm anh hoảng sợ và mất bình tĩnh, vì đã khiến anh cảm thấy thật vô dụng: vì mọi thứ.   

        Mất một lúc họ la hét; họ dậm chân lên mái nhà với hi vọng rằng có ai đó ở bên dưới họ, một trong ba người hàng xóm mà họ vẫn chưa bao giờ gặp, có thể nghe thấy họ. Malcolm gợi ý rằng hãy ném một thứ gì đó vào cửa sổ của một khu nhà chung quanh, nhưng họ chẳng có gì để ném cả (thậm chí ví của họ cũng đã để ở dưới nhà, nằm trong túi áo khoác ấm áp), và ngoài ra tất cả các ô của sổ đều tối om.

        “Nghe này,” cuối cùng Jude lên tiếng, cho dù điều cuối cùng mà Willem muốn làm là nghe theo lời Jude, “Tôi có một ý tưởng. Các cậu hãy thả tôi xuống cầu thang thoát hiểm và tôi sẽ đập vỡ cửa sổ phòng ngủ.”

        Cái ý tưởng nghe thật ngớ ngẩn nên lúc đầu anh chẳng thể phản ứng lại: nó giống như là thứ mà JB sẽ hình dung ra, chứ không phải Jude. “Không,” anh nói, dứt khoát. “Thật điên rồ.”

        “Tại sao?” JB hỏi. “Tôi nghĩ rằng đó là một kế hoạch tuyệt vời.” Cầu thang thoát hiểm là một vật không đáng tin cậy, một thứ phát minh kém cỏi, và gần như vô dụng, một khung xương bằng sắt gỉ được thêm vào mặt trước của tòa nhà giữa tầng thứ năm và tầng ba như là một vật trang trí xấu xí – từ mái nhà, nó dốc đứng khoảng chín phút ở đầu cầu thang, và chạy dọc theo một nửa chiều rộng của phòng khách của họ; cho dù họ có thể thả Jude an toàn xuống đó mà không làm y bị đau chân lại hay khiến chân y bị gẫy đi chăng nữa, thì y vẫn phải nhoài người qua để chạm tới cửa sổ phòng ngủ.

        “Dĩ nhiên là không,” anh nói với JB, và hai người họ tranh cãi một chút cho tới khi Willem nhận ra, với một cảm giác thất vọng ngày một tăng, rằng đó là giải pháp khả thi duy nhất. “Nhưng không phải là Jude,” anh nói. “Tôi sẽ làm.”

        “Cậu không thể.”

        “Tại sao? Dù sao thì chúng ta cũng không cần phải phá vỡ cửa sổ phòng ngủ; tôi sẽ đi vào qua một trong những ô cửa sổ phòng khách.” Cửa sổ phòng khách được lắp chấn song sắt, nhưng một ô của sổ đã bị mất, và Willem nghĩ rằng anh có thể chui người qua hai thanh sắt còn lại. Dù sao thì, anh cũng phải làm vậy.

        “Tôi đã đóng cửa sổ lại trước khi chúng ta lên đây,” Jude khẽ khàng thú nhận, và Willem biết rằng điều đó có nghĩa là y cũng đã khóa chúng lại, bởi vì y sẽ khóa lại mọi thứ có thể: các cửa ra vào, các cửa sổ, các cánh tủ. Đó là một phản xạ của y. Tuy nhiên, ô khóa của cái cửa sổ phòng ngủ đã bị hỏng, vì thế mà Jude đã tạo ra một cơ chế — một vật phức tạp, hình khối được tạo ra từ bu lông và dây điện — mà y chắc chắn rằng nó tuyệt đối an toàn.

        Anh vẫn luôn bối rối trước sự cẩn thận quá đà của Jude, sự cống hiến của y trong việc tìm kiếm tai họa ở khắp mọi nơi – từ lâu anh đã nhận ra thói quen của Jude về việc, khi bước vào bất kỳ một căn phòng hay không gian mới nào, tìm kiếm lối ra gần nhất và rồi đứng cạnh đó, mà lúc đầu là thấy buồn cười và rồi, theo một cách nào đó, trở nên ít như vậy hơn – và sự cống hiến không kém của y trong việc thực hiện các biện pháp phòng ngừa vào bất cứ khi nào mà y có thể. Một đêm nọ, hai người họ vẫn còn thức muộn trong phòng ngủ, nói chuyện, và Jude đã kể cho anh nghe (lặng lẽ, như thể y đang thú nhận một điều gì đó quý giá) rằng cơ chế khóa cửa sổ phòng ngủ thực ra có thể mở được từ bên ngoài, nhưng y là người duy nhất biết được cách mở nó ra.

        “Tại sao cậu lại nói với tôi điều này?” anh hỏi.

        “Bởi vì,” Jude trả lời, “tôi nghĩ rằng ta nên sửa lại nó, có lẽ vậy.”

        “Nhưng nếu như cậu là người duy nhất biết cách mở nó, thì tại sao nó lại quan trọng?” Họ không có thêm tiền cho thợ sửa khóa, không phải để sửa chữa một vấn đề không phải là vấn đề. Họ không thể yêu cầu người quản lý tòa nhà: Sau khi họ chuyển đến, Annika đã thừa nhận rằng về mặt kỹ thuật cô không được phép cho thuê lại căn hộ, nhưng miễn là họ không gây ra vấn đề gì, cô nghĩ chủ đất sẽ không làm phiền họ. Và vì vậy mà họ cố gắng không gây rắc rối: họ tự thực hiện lấy việc sửa chữa, họ tự vá lấy những bức tường, họ tự sửa chữa đường ống nước

        “Chỉ phòng khi,” Jude nói. “Tôi chỉ muốn biết rằng chúng ta được an toàn.”

        “Jude,” anh nói. “Chúng ta sẽ được an toàn. Không có gì sẽ xảy ra hết cả. Không có ai đột nhập vào đây hết.” Và rồi, khi Jude im lặng, anh thở dài, chịu thua. “Ngày mai tôi sẽ gọi thợ sửa khóa,” anh nói.

        “Cảm ơn cậu, Willem,” Jude nói với anh.

        Nhưng rốt cuộc, anh chẳng bao giờ gọi.

        Đó là chuyện của hai tháng trước, và giờ đây họ đang đứng trong giá lạnh trên sân thượng nhà mình, và cái cửa sổ là niềm hi vọng duy nhất của họ. “Mẹ kiếp, mẹ kiếp,” anh rên lên. Đầu anh đau nhức. “Chỉ cần nói cho tôi biết cách làm, tôi sẽ mở nó ra.”

        “Khó lắm,” Jude trả lời. Lúc này họ đã quên mất rằng Malcolm và JB cũng đang đứng ở đó, nhìn họ, JB lặng im. “Tôi không thể giải thích được.”

        “Vâng, tôi biết là cậu nghĩ rằng tôi là một thằng ngốc chết tiệt, nhưng tôi có thể luận ra nếu cậu chỉ sử dụng những từ ngữ đơn giản,” anh độp lại.   

       

        “Willem,” Jude kêu lên, ngạc nhiên, và rồi lặng im. “Đó không phải là điều tôi muốn nói.”

        “Tôi biết,” anh trả lời. “Xin lỗi. Tôi biết mà.” Anh hít một hơi thật sâu. “Cho dù chúng ta làm điều này – và tôi không nghĩ rằng chúng ta nên làm vậy – làm thế nào mà bọn tôi có thể đưa cậu xuống dưới được?”

        Jude bước tới bên mép sân thượng, được bao quanh bởi những bức tường vuông vức bằng phẳng, và nhìn chăm chú vào đó. “Tôi sẽ ngồi xuống bức tường nhìn ra ngoài, ngay phía trên cầu thang thoát hiểm,” y nói. “Rồi cậu và JB cũng cùng ngồi xuống đó. Mỗi người các cậu sẽ giữ lấy tay tôi bằng tay mình, và rồi các cậu hạ tôi xuống. Khi mà các cậu không thể cúi thêm được nữa, các cậu sẽ buông tay tôi ra và tôi sẽ rơi người xuống dưới.”

        Anh bật cười, như thế thật là nguy hiểm và ngu ngốc. “Và nếu như chúng ta làm như vậy, cậu tiếp cận cửa sổ phòng ngủ bằng cách nào đây?”

        Jude nhìn anh. “Cậu sẽ phải tin tưởng rằng tôi có thể làm được điều đó.”

        “Chuyện này thật ngu ngốc.”

        JB ngăn anh lại. “Đấy là cách duy nhất, Willem ạ. Ở trên này lạnh chết mẹ.”  

        Và đúng là như vậy; chỉ có cơn giận dữ trong anh mới giữ cho anh được ấm. “Cậu có để ý thấy rằng toàn bộ cánh tay chết tiệt của cậu ta đang bị băng bó không hả, JB?”

       

        “Nhưng tôi ổn mà, Willem,” Jude nói, trước khi JB kịp trả lời.

        Hai người bọn họ gây lộn thêm mười phút nữa cho tới khi Jude cuối cùng cũng bước về mép sân thượng. “Nếu như cậu không giúp tôi, Willem, Malcolm sẽ làm điều đó,” y nói, cho dù Malcolm nom cũng sợ hãi không kém.

        “Không,” anh nói, “tôi sẽ làm.” Và rồi anh và JB quỳ xuống và ép mình vào tường, mỗi người cầm lấy một tay Jude bằng cả hai tay của mình. Vào lúc này trời lạnh đến mức anh hầu như không còn cảm nhận được những ngón tay mình bao quanh lòng bàn tay của Jude. Anh cầm lấy tay trái của Jude, và tất cả những gì mà anh có thể cảm thấy được là lớp băng gạc dày. Khi anh siết chặt nó, hình ảnh của gương mặt Andy thoáng hiện lên trong đầu anh, và anh cảm thấy thật tội lỗi.  

        Jude rời khỏi gờ tường, và Malcolm rên lên khe khẽ. Willem và JB nghiêng người xa hết mức có thể, cho tới khi họ có nguy cơ bị lật nhào qua bờ tường, và khi Jude bảo họ buông tay ra, họ làm theo lời y, và nhìn y đáp ồn ã xuống sàn cầu thang thoát hiểm nằm bên dưới họ.  

        JB reo lên, và Willem muốn tát cho hắn một cái. “Tôi không sao!” Jude hét lên với họ, và vẫy cái tay bị băng bó của mình trong không trung như thể một lá cờ, trước khi di chuyển tới mép của cầu thang thoát hiểm, nơi mà y sẽ leo lên lan can để có thể bắt đầu mở khóa cửa sổ. Y ngoắc chân quanh một trong những cái cọc sắt của lan can, nhưng vị trí của y quá bấp bênh, và Willem nhìn y lắc lư đôi chút, cố gắng giữ thăng bằng, những ngón tay y di chuyển chậm chạp khỏi sự tê cóng và lạnh buốt.

        “Thả tôi xuống dưới,” anh nói với Malcolm và JB, phớt lờ sự lúng túng phản đối của Malcolm, và rồi anh tự mình đi tới gờ tường, gọi Jude trước khi xuống dưới để cho sự xuất hiện của anh không ảnh hưởng tới việc giữ thăng bằng của y.

        Sự đi xuống đáng sợ hơn, và việc hạ cánh khó khăn hơn, so với anh tưởng, nhưng anh nhanh chóng hồi lại và đi tới chỗ Jude và vòng tay quanh thắt lưng y, móc chân mình quanh một cái cọc sắt để tự giữ lấy mình. “Tôi giữ được cậu rồi,” anh nói, và Jude chúi người qua thành lan can của chiếc thang, xa hơn so với mức mà y có thể tự mình vươn tới, và Willem giữ y chặt đến mức mà anh có thể cảm thấy các đốt xương cột sống của Jude bên dưới lớp áo len của y, có thể cảm thấy bụng y xẹp xuống rồi phồng lên khi y hít thở, có thể cảm thấy sự dội lại của các chuyển động của ngón tay y qua những khớp cơ khi mà y vặn và gỡ nút dây điện đang buộc cái cửa sổ lại. Và khi việc này đã được làm xong, Willem trèo lên cái thang và leo vào phòng ngủ trước tiên, và rồi vươn người ra để kéo Jude vào theo, cẩn thận tránh chạm vào cái tay bị băng bó của y.

       

        Họ đứng lại trong phòng ngủ, thở hổn hển vì nỗ lực vừa rồi, và nhìn nhau. Bên trong căn phòng thật ấm áp, dù có gió lạnh ùa vào, thì cuối cùng anh cũng có thể để cho bản thân mình được cảm thấy yếu đuối với một sự nhẹ nhõm. Họ đã an toàn, họ đã thoát ra. Jude cười toe toét với anh, và anh cười toe toét với y — nếu trước mặt anh lúc này là JB, anh sẽ ôm lấy hắn trong sự choáng váng ngớ ngẩn này, nhưng Jude không phải là người thích ôm nên anh không làm vậy. Nhưng rồi Jude nâng tay lên để phủi một vài vụn rỉ sắt ra khỏi tóc anh, và Willem nhìn thấy bên trong cổ tay y cái băng gạc bị nhiễm bẩn với một vết màu đỏ sẫm, và nhận ra, muộn màng, rằng nhịp thở gấp gáp của Jude không chỉ bởi vì sự gắng sức mà còn bởi vì cơn đau. Anh nhìn Jude nặng nề ngồi xuống giường mình, cái tay được băng bó đến trắng muốt của y vươn ra phía sau để đảm bảo rằng y đang ngồi xuống một thứ gì đó vững chắc.

        Willem ngồi xuống bên cạnh y. Sự phấn chấn trong anh đã biến mất, thay vào đó là một thứ gì đó khác. Anh cảm thấy mình gần như rơi nước mắt, dù cho anh chẳng thể nói được vì sao.

        “Jude,” anh bắt đầu, nhưng anh không biết làm thế nào để tiếp tục.

        “Cậu nên đi đón họ thôi,” Jude nói, và mặc dù mỗi một từ được phát ra như một tiếng thở hổn hển, y vẫn mỉm cười với Willem.

        “Kệ mẹ bọn họ,” anh nói, “tôi sẽ ở đây cùng cậu,” và Jude cười một chút, dù y cau mày khi làm thế, và cẩn thận nghiêng người về phía sau cho đến khi y nằm xuống giường, và Willem giúp nâng chân y lên giường. Chiếc áo len của y dính đầy rỉ sắt, và Willem nhặt một ít ra cho y. Anh ngồi xuống giường bên cạnh y, không chắc phải bắt đầu từ đâu. “Jude,” anh thử lại.

        “Đi đi,” Jude giục, và nhắm mắt lại, mặc dù y vẫn còn mỉm cười, và Willem miễn cưỡng đứng dậy, đóng cửa sổ lại và tắt đèn trước khi anh rời khỏi phòng, đóng cánh cửa lại sau lưng anh, đi về phía cầu thang để giải cứu Malcolm và JB, trong khi dưới kia, anh có thể nghe thấy tiếng chuông cửa vang lên từ cầu thang, báo hiệu vị khách đầu tiên của bữa tiệc đã xuất hiện.