e6de255da084018cf336cdac2ac8109f

 

 

 

CHƯƠNG 2 (tiếp)

 

 

              Đầu tiên đó là đời sống nơi công sở mà anh nhìn thấy: bốn mươi người đàn ông trong một căn phòng, mỗi người ngồi bên chiếc bàn của mình, gian phòng kính của Rausch ở cuối văn phòng, gần với bàn của Malcolm nhất, văn phòng kính của Thomasson nằm ở phía đầu bên kia. Giữa họ: hai bức tường của những chiếc cửa sổ, một nhìn ra Đại lộ số 5, về phía Quảng trường Madison, cái còn lại nhìn ra Broadway, nơi vỉa hè buồn bã, xám xịt, dính đầy bã kẹo cao su. Cuộc sống đó tồn tại một cách chính thức từ mười giờ sáng đến bảy giờ tối, từ thứ Hai đến thứ Sáu. Trong đời sống này, họ thực hiện những gì được yêu cầu: họ xoay sở với các mô hình, họ vẽ phác thảo và vẽ lại, họ biên dịch những con chữ nguệch ngoạc khó hiểu của Rausch và những mệnh lệnh rõ ràng, được ghi bằng lối chữ in của Thomasson. Họ không hề nói chuyện với nhau. Họ không đứng túm năm tụm ba. Khi khách hàng tới văn phòng để gặp Rausch và Thomasson tại chiếc bàn thủy tinh dài được đặt ngay chính giữa văn phòng chính, họ không hề nhìn lên. Khi khách hàng là người nổi tiếng, mà ngày càng có nhiều trường hợp như vậy hơn, họ sẽ cúi thật sát mặt bàn mình và giữ yên lặng đến độ Rausch cũng bắt đầu nói thì thầm, giọng ông ta – ngay lập tức – thích nghi với âm lượng của cả văn phòng

        Rồi còn có cả cuộc sống thứ hai nơi văn phòng nữa, cái đời sống thực của nó. Thomasson ngày càng ít có mặt ở văn phòng hơn, vì thế mà sự rời khỏi của Rausch là điều mà họ chờ đợi, và đôi khi họ phải đợi suốt một thời gian dài; Rausch, bất kể những buổi tiệc tùng và phỏng vấn và các chuyến công tác, thực ra là một người ham công tiếc việc, và mặc dầu ông ta có đi ra ngoài để tham dự một sự kiện nào đó (một buổi khai trương, một buổi giảng dạy), ông ta cũng có thể trở về, và rồi mọi thứ sẽ phải vội vã quay trở lại như cũ, để cho cái văn phòng khi mà ông ta bước vào cũng giống hệt như cái văn phòng mà ông ta đã rời đi. Tốt hơn hết là đợi đến tối khi ông ta hoàn toàn biến mất, thậm chí là nếu điều đó có nghĩa là đợi đến chín hoặc mười giờ. Họ đã mua chuộc trợ lý của Rausch, mua cho cô cà phê và bánh sừng bò, và họ biết rằng họ có thể trông cậy vào trí thông minh của cô về những chuyến đến và đi vào văn phòng của Rausch.

        Nhưng một khi Rausch đã ra về, văn phòng sẽ ngay lập tức tự chuyển đổi như là những trái bí ngô được chuyển lên xe ngựa. Nhạc được bật lên (họ bốc thăm để xem ai là người chọn nhạc), và nghiên cứu những tờ thực đơn đặt món, và trên máy vi tính của mọi người, công việc của Văn phòng Kiến trúc Ratstar sẽ được xếp lại trong những tệp thư mục số, cho phép được nghỉ ngơi, bị lãng quên và không được yêu quý, trong đêm. Họ cho phép mình có một giờ lãng phí, được nhại lại âm điệu trầm vang kiểu Đức của Rausch (một vài người trong số họ nghĩ rằng ông ta đến từ Paramus và nghĩ ra cái tên — Joop Rausch, làm sao mà nó lại không phải là một cái tên giả cho được? — và giọng điệu ngông cuồng để che giấu cái thực tế rằng ông ta thật nhàm chán và đến từ Jersey và tên của ông ta có thể là Jesse Rosenberg), được bắt chước vẻ cau có của Thomasson và cách mà ông ta diễu hành từ đầu này đến đầu kia của văn phòng khi mà ông ta muốn thể hiện với cả công ty, quát tháo mà không nhằm vào ai hết cả (là họ, họ cho là vậy), “Làm ziệc đi, các cậu! Làm ziệc đi!” Họ cũng cười nhạo cả kiến trúc sư trưởng của văn phòng, Dominick Cheung, con người tài năng nhưng đã trở nên cay cú (ai cũng biết rõ ngoại trừ ông ta về việc ông ta sẽ không bao giờ trở thành một cộng sự, dù Rausch và Thomasson có thường xuyên hứa hẹn với ông ta ra sao), và thậm chí là cả những dự án mà họ đang thực hiện: nhà thờ theo phong cách kiến trúc Ai Cập hiện đại khó có thể nhận ra được chế tác và trang trí từ đá vôi ở Cappadocia; ngôi nhà không có khung ở Karuizawa mà giờ đã bị gỉ sét trên khắp bề mặt kính của nó; cái bảo tàng thực phẩm ở Seville tưởng chừng sẽ giành được giải thưởng mà lại không; bảo tàng búp bê ở Santa Catarina đáng lý ra không thể giành được giải nào mà hóa ra lại đoạt giải. Họ cười nhạo những ngôi trường mà họ từng theo học — MIT, Yale, Học viện Thiết kế Rhode Island, Columbia, Harvard — và làm sao mà dù họ dĩ nhiên đã được cảnh báo trước rằng cuộc đời mình sẽ khổ sở nhiều năm, làm sao mà tất cả bọn họ, đều như một, cho rằng mình sẽ là một trường hợp ngoại lệ (và giờ đây tất cả, đều như một, âm thầm nghĩ rằng họ sẽ vẫn là như vậy). Họ cười nhạo về số tiền ít ỏi mà họ kiếm được, về việc họ đã hai mươi bảy, ba mươi, ba mươi hai tuổi rồi, và vẫn sống cùng với cha mẹ, với một người bạn cùng phòng, một cô bạn gái làm trong ngành ngân hàng, một cậu bạn trai làm ở nhà xuất bản (một chuyện buồn, khi mà ta phải sống dựa vào anh người yêu làm ở nhà xuất bản vì lương của anh ta nhiều hơn mình). Họ ba hoa về việc họ sẽ làm gì nếu không đi vào cái ngành nghề khốn khổ này: họ sẽ là người quản lý nhà bảo tàng (có thể đó là nghề duy nhất kiếm được ít hơn so với công việc hiện tại), một người pha chế rượu (ô, đây là công việc thứ hai), chủ phòng trưng bày tranh (thứ ba), nhà văn (được rồi, thứ tư – rõ ràng là, không một ai trong số họ có khả năng kiếm tiền, dù chỉ là, trong tưởng tượng). Họ tranh luận về những tòa nhà mà họ yêu thích và những tòa nhà mà họ ghét. Họ cãi vã về một cuộc triển lãm ảnh, một cuộc trình diễn nghệ thuật video. Họ gào lên với nhau với những lời chỉ trích, và về các nhà hàng, và các triết lý, và các chất liệu. Họ thương xót với nhau về những người bạn giờ đã trở nên thành công, và hả hê về những người bạn buộc phải bỏ nghề hoàn toàn, những người mà giờ trở thành kẻ chăn nuôi lạc đà không bướu[1] ở Mendoza[2], nhân viên công tác xã hội ở Ann Arbor[3], thày giáo dạy toán ở Thành Đô[4].  

        Suốt cả ngày, họ đóng vai những kiến trúc sư. Lúc này hay lúc khác một khách hàng, ánh nhìn của ông ta chầm chậm xuyên suốt căn phòng, sẽ dừng lại ở một trong số họ, thường là Margaret hoặc Eduard, những người đẹp mã nhất trong bọn họ, và Rausch, người cực kỳ phối hợp để dịch chuyển sự chú ý khỏi bản thân, sẽ gọi người được chọn ra, như thể ra hiệu cho một đứa trẻ tại bữa tiệc tối của những người lớn. “À, vâng, đây là Margaret,” ông ta sẽ nói vậy, khi vị khách đánh giá cô gái, phải đến vài phút trước khi nhìn vào bản thiết kế của Rausch (thực ra bản thiết kế được hoàn thiện bởi Margaret). “Cô ấy sẽ sớm vượt qua tôi vào một ngày nào đó, tôi dám chắc là vậy.” Và rồi ông ta sẽ cất lên tiếng cười buồn bã, giả tạo, như tiếng hải cẩu kêu: “Ah! Ha! Ha! Ha!”

        Margaret sẽ mỉm cười và nói xin chào, và trợn mắt lên với họ ngay vào giây phút cô xoay người lại. Nhưng họ biết cô đang nghĩ điều mà tất cả bọn họ đều nghĩ: Mẹ kiếp, Rausch. Và: Khi nào? Khi nào thì tôi sẽ thay thế ông? Khi nào thì đến lượt tôi?

        Trong khi đó, tất cả những gì mà bọn họ có là chơi: sau tranh luận và hò hét và ăn uống, là sự yên lặng, và cả văn phòng chìm trong tiếng nhắp chuột và những việc cá nhân được lôi ra từ các tệp thư mục, và tiếng bút chì lạo xạo trên trang giấy. Mặc dù họ đều đang làm việc cùng lúc, sử dụng cùng nguồn lực của công ty, không một ai đòi xem thành quả của người khác; cứ như thể họ đều quyết định giả vờ rằng nó không hề tồn tại. Vì thế mà anh làm việc, vẽ ra những cấu trúc trong mơ và uốn cong những đường Pa-ra-bôn thành những hình dạng mơ ước, cho tới nửa đêm, và rồi anh rời đi, luôn với cùng một câu đùa ngu ngốc: “Gặp lại cậu sau mười tiếng nữa.” Hay là chín, hoặc tám, nếu như anh thật sự may mắn, nếu như anh có rất nhiều việc để làm vào tối đó.   

        Tối nay là một trong những tối mà Malcolm rời đi sớm, và một mình. Dù cho cậu có rời khỏi văn phòng cùng với một ai đó, cậu cũng chẳng thể nào đón tàu cùng với họ; họ đều sống ở phía nam của khu Mahattan hoặc ở Brooklyn, và cậu thì sống ở khu trên của thành phố New York. Lợi ích của việc bước ra khỏi văn phòng một mình là không có ai chứng kiến việc cậu bắt taxi. Cậu không phải là người duy nhất trong văn phòng có cha mẹ giàu có — cha mẹ của Katharine cũng rất giàu, và, cậu khá chắc chắn rằng cả cha mẹ của Margaret và Frederick cũng thế — nhưng cậu thì sống với những vị phụ huynh giàu có của mình, còn những người khác thì không.

        Cậu vẫy một chiếc taxi. “Phố 71 và Lex,” cậu nói với người lái xe. Khi mà tài xế là người da đen, cậu sẽ thành thật hơn: “Giữa phố Lex và Park, gần với Park hơn.” JB nghĩ rằng điều này thật lố bịch, là đặc biệt khó chịu. “Cậu cho là họ sẽ nghĩ cậu không phải găng-xtơ bởi vì họ nghĩ cậu sống ở phố Lex chứ không phải là Park đấy phỏng?” hắn hỏi. “Malcolm, cậu đúng là đồ ngốc.”

        Cuộc tranh cãi về những chuyến xe taxi như thế này là một trong vô số những cuộc cãi cọ giữa cậu và JB trong suốt những năm qua về màu da đen, và đặc biệt hơn, là về sự thiếu nhận thức về màu da đen của cậu. Một cuộc tranh cãi khác về taxi được bắt đầu khi Malcolm (một cách ngu ngốc; cậu nhận ra sai lầm của mình ngay sau khi nói ra lời đó) quan sát thấy rằng cậu không bao giờ gặp khó khăn gì trong việc gọi một chiếc taxi ở New York và có lẽ những kẻ than phiền về chuyện này chỉ đang phóng đại mà thôi. Đó là năm thứ ba đại học, giữa những buổi tham gia đầu tiên và cuối cùng của cậu và JB tại Hiệp hội sinh viên da đen. Đôi mắt của JB hau háu, thất kinh và vui sướng, nhưng khi một gã khác, một gã ngốc tự cho mình là đúng đến từ Atlanta, bảo với Malcolm rằng cậu, một là, không đen cho lắm, hai là, kẻ lai căng, và ba là, bởi vì người mẹ da trắng của cậu, nên cậu không thể hoàn toàn hiểu được những thách thức của việc làm một người da đen thật thụ, chính khi ấy JB đã bảo vệ cậu — JB vẫn luôn chế nhạo cậu về sự tương quan của cậu với màu da đen, nhưng hắn không thích những người khác làm như vậy, và hắn chắc chắn là không thích khi điều này được thực hiện bởi một tập thể tạp nham, mà JB xem là tất cả mọi người khác ngoại trừ Jude và Willem, và đặc biệt hơn, là những người da đen khác.

        Khi cậu trở về nhà của ba mẹ mình nằm trên phố Bảy mươi mốt (gần với đại lộ Park), cậu chịu đựng sự hỏi han hàng tối của cha mẹ, hét lên từ tầng hai (“Malcolm, con đấy à?” “Vâng!” “Con ăn chưa?” “Rồi ạ!” “Con có đói không?” “Không!”), và lê bước lên lầu tới cái ổ của mình để một lần nữa đánh giá về những khó khăn trọng tâm của cuộc đời mình.   

        Mặc dù JB không ở bên để nghe thấy lời trao đổi đêm đó với người lái xe taxi, cảm giác tội lỗi và căm ghét bản thân của Malcolm khiến cho vấn đề chủng tộc đứng đầu danh sách. Chủng tộc vẫn luôn là một thách thức đối với Malcolm, nhưng vào năm thứ hai đại học, cậu đã đánh vào những gì mà cậu coi là một sự trốn tránh trách nhiệm tài tình: cậu không phải là người da đen; cậu là hậu-da đen. (Hậu hiện đại đã đi vào khung ý thức của Malcolm muộn hơn nhiều so với những người khác, khi cậu cố gắng tránh đăng ký lớp văn học như một dạng nổi loạn chống đối lại mẹ cậu.) Thật không may, không ai bị thuyết phục bởi sự diễn giải này, ít nhất là JB, người mà Malcolm bắt đầu xem như không đen lắm mà là tiền-da đen, như thể là màu da đen, cũng giống như là cõi niết bàn, là một trạng thái vốn được lý tưởng hóa mà cậu vẫn thường cố gắng để tiến vào.   

        Và dù sao, JB cũng tìm ra được một cách khác để vượt qua Malcolm, vì ngay khi Malcolm phát hiện ra khái niệm hậu hiện đại, JB đã khám phá ra nghệ thuật trình diễn (lớp học mà hắn tham gia, Bản sắc cá nhân như là Nghệ thuật: Chuyển đổi biểu diễn và Cơ thể đương đại, được yêu thích bởi những người đồng tính nữ có ria mép khiến Malcolm phát hoảng nhưng vì một lý do nào đó lại hấp dẫn JB). Xúc động trước những tác phẩm của Lee Lozano[5] khi làm dự án giữa năm, hắn quyết định sẽ thực hiện một dự án nhằm vinh danh bà được đặt tên là Quyết định tẩy chay những người da trắng (Theo chân Lee Lozano), mà tại đó hắn ngừng nói chuyện với tất cả những người da trắng. Hắn gần như xin lỗi, nhưng hầu như tự hào, giải thích kế hoạch của mình với họ vào một ngày thứ Bảy — vào nửa đêm của tối đó, hắn cũng sẽ ngừng nói chuyện với Willem, và sẽ giảm thời lượng nói chuyện với Malcolm xuống còn một nửa. Bởi vì chủng tộc của Jude là một ẩn số, hắn sẽ vẫn tiếp tục nói chuyện với y, nhưng chỉ làm vậy với những câu đố hoặc công án thiền niệm, nhằm nhận biết những điều chưa được biết về nguồn gốc dân tộc mình.

        Malcolm có thể thấy cái nhìn mà Jude và Willem trao đổi với nhau, dù chóng vánh và không hề mỉm cười, cậu vẫn thấy được một cách tức tối, đầy đủ ý nghĩa (cậu luôn nghi ngờ rằng tình bạn của hai người bọn họ đã được củng cố thêm trong thời điểm cậu không có mặt), rằng họ cảm thấy buồn cười về điều này và chuẩn bị trêu chọc JB. Về phần mình, cậu cho rằng cậu nên biết ơn vì quãng thời gian có thể được xem như là nghỉ ngơi khỏi JB, nhưng cậu không thấy biết ơn và cậu không thấy buồn cười: cậu thấy khó chịu, bởi vì sự thiếu nghiêm túc của JB trước vấn đề chủng tộc và cả bởi việc hắn thực hiện cái dự án cường điệu, ngớ ngẩn này (mà do đó hắn có thể nhận được điểm A) để mà bình phẩm về con người của Malcolm, mà dĩ nhiên chẳng phải là việc của JB.

        Sống cùng với JB trong giai đoạn hắn ta thực hiện dự án của mình (và thực sự, có khi nào mà họ không dàn xếp cuộc sống của mình xoay quanh những ý nghĩ chợt nảy ra trong đầu JB kia chứ?) thực sự cũng gần giống như việc sống chung với JB trong những hoàn cảnh thông thường. Tối thiểu hóa những cuộc nói chuyện của mình với Malcolm không hề làm giảm số lần mà JB hỏi Malcolm rằng liệu cậu có thể mua giúp hắn thứ gì đó tại cửa hàng hay không, hay nạp lại thẻ giặt là giúp hắn bởi vì dù sao Malcolm cũng đi ra ngoài, hoặc liệu hắn có thể mượn cuốn Don Quixote của Malcolm cho lớp học tiếng Tây Ban Nha của hắn hay không bởi vì hắn đã bỏ quên cuốn sách của mình ở thư viện. Việc hắn không nói chuyện với Willem cũng không có nghĩa là sẽ không có sự giao tiếp nào hết cả, với vô số các tin nhắn và giấy ghi chú mà hắn viết ra (“Có muốn xem Bố già ở Rex kông?”) và đưa nó cho anh, mà Malcolm tin chắc đó là điều mà Lozano không hề dự định. Và sự trao đổi hạn chế của hắn – kẻ cô độc tội nghiệp với Jude bỗng nhiên được hủy bỏ khi mà hắn cần Jude làm giúp bài tập tích phân, mà tại đó kẻ cô độc đột ngột trở thành Mussolini[6], đặc biệt là sau khi kẻ cô độc nhận ra rằng còn có cả một loạt vấn đề khác mà hắn còn chưa bắt đầu xử lý bởi vì hắn còn bận ở trong phòng tư liệu về nam giới trong thư viện, và lớp học thì sẽ bắt đầu trong bốn mươi ba phút nữa (“Nhưng như thế cũng đủ thời gian với cậu rồi, đúng không, Judy?”).

        Đương nhiên, JB vẫn luôn là JB và những người bạn của họ dễ dàng bị dụ dỗ vì bất cứ điều gì phô trương và lấp lánh, cái thí nghiệm nhỏ của JB đã được xuất hiện trên tờ báo của trường, và rồi là một tạp chí nghệ thuật của người da đen, There Is Contrition, và trở nên, trong một thời gian ngắn, là chủ đề trò chuyện trong trường học. Sự chú ý đã làm hồi sinh lòng hào hứng của JB đối với dự án — hắn chỉ mới thực hiện nó được có tám ngày, và đôi khi Malcolm có thể thấy hắn phát điên lên vì muốn nói chuyện với Willem — và hắn có thể kéo dài thêm hai ngày nữa trước khi hoàn toàn kết luận rằng dự án đã thành công và tuyên bố rằng quan điểm của hắn đã được chứng minh.

        “Quan điểm nào thế?” Malcolm hỏi. “Rằng cậu cũng có thể làm phiền người da trắng dù không nói chuyện với họ như khi cậu nói chuyện với họ à?”

        “Ôi, mẹ kiếp cậu, Mal,” JB nói, nhưng theo một cách lười nhác, quá đỗi hân hoan để tiến đến tranh cãi với cậu. “Cậu không hiểu.” Và rồi hắn bỏ đi gặp bạn trai của mình, một gã da trắng với khuôn mặt như một con bọ ngựa, người luôn chào đón JB với một biểu cảm nồng nhiệt và tôn sùng khiến Malcolm cảm thấy mắc ói.

        Vào thời điểm đó, Malcolm đã bị thuyết phục rằng sự không thoải mái đối với vấn đề sắc tộc mà cậu cảm thấy chỉ là tạm thời, một cảm giác hoàn toàn dựa theo hoàn cảnh được đánh thức trong mỗi người ở trường đại học nhưng rồi sẽ tan biến khi ta bước vào đời. Cậu chưa bao giờ cảm thấy khó chịu hay tự hào về việc mang màu da đen, ngoại trừ theo những cách nhỏ nhặt nhất: cậu biết cậu nên có những cảm giác nhất định về những điều nhất định trong đời (những người lái xe taxi, là một ví dụ), nhưng theo một cách nào đó sự hiểu biết ấy chỉ mang tính lý thuyết, không phải là điều mà tự cậu đã từng trải qua. Và rồi màu da đen là một phần quan trọng trong câu chuyện của gia đình cậu, mà được kể đi kể lại cho tới khi nó sáng bóng lên: việc ba cậu là vị giám đốc điều hành da đen thứ ba trong công ty đầu tư của ông, là ủy viên quản trị da đen thứ ba ở ngôi trường trung học cơ sở nam sinh dành cho dân da trắng mà Malcolm từng theo học, vị Giám đốc tài chính da đen thứ hai của một ngân hàng thương mại lớn. (Cha của Malcolm được sinh ra quá muộn để trở thành người đầu tiên của bất cứ điều gì, nhưng trên con đường sự nghiệp mà ông đi — phía nam của phố 69 và phía bắc của phố 57; phía đông của Đại lộ số 5 và phía tây của Đại lộ Lexington — ông vẫn là trường hợp cá biệt như loài ưng đuôi lửa[7] mà đôi khi làm tổ trong những lỗ châu mai của một trong những tòa nhà đối diện với ngôi nhà của họ trên trên Đại lộ Công viên.) Khi lớn lên, thực tế là màu da đen của cha cậu (và, cậu cho là, của cả cậu nữa), đã bị những người khác đánh bại, quan trọng hơn, còn có yếu tố khác được xét đến nhiều hơn trong phân khúc của họ ở thành phố New York hơn là màu da của cha cậu: sự nổi bật của vợ ông trong bối cảnh văn học ở Manhattan, là ví dụ, và, quan trọng nhất, là sự giàu có của ông. New York mà Malcolm và gia đình cậu sinh sống từng là nơi được phân chia không phải theo chủng tộc mà là theo khung thuế, và Malcolm đã lớn lên và được cách ly khỏi mọi thứ mà tiền bạc có thể bảo vệ, bao gồm cả bản thân sự tin tưởng mù quáng — hoặc có vẻ là như vậy. Thực ra, chỉ cho tới tận khi lên đại học mà cậu mới được trải nghiệm từ những người khác, và, có lẽ là sâu sắc hơn cả, việc tiền bạc của gia đình cậu đã tách biệt cậu khỏi phần còn lại của đất nước như thế nào (mặc dù điều này giả định rằng ta có thể xem các bạn cùng lớp của cậu đại diện cho phần còn lại của đất nước, mà dĩ nhiên là ta không thể làm vậy). Thậm chí là cho tới tận hôm nay, gần một thập kỷ sau khi quen biết, cậu vẫn gặp phải khó khăn trong việc hiểu được cảnh bần cùng mà Jude đã lớn lên — sự không thể tin được của cậu khi mà cậu cuối cùng cũng nhận ra rằng chiếc ba lô mà Jude đeo khi đến trường đại học chứa đựng, theo đúng nghĩa đen, mọi thứ mà y sở hữu trên đời này gây xúc động mãnh liệt đến mức cậu đã kể lại chuyện này với cha mình, và cậu không có thói quen bộc lộ trước cha mình những bằng chứng về sự ngây thơ của cậu, vì lo sợ rằng điều này sẽ dẫn đến một bài giảng về sự ngây thơ của mình. Nhưng thậm chí là cả cha cậu, người từng lớn lên trong cảnh nghèo khổ ở quận Queens — mặc dù có cả cha lẫn mẹ đều phải làm việc và có một bộ quần áo mới mỗi năm — cũng phải kinh ngạc, Malcolm cảm thấy, mặc dù ông cố gắng che đậy điều đó bằng cách chia sẻ câu chuyện về tuổi thơ nghèo khó của mình (một chuyện gì đó về cái cây thông Noel được mua vào sau dịp lễ Giáng sinh), như thể việc không được ban đặc quyền là một cuộc cạnh tranh mà ông vẫn quyết phải giành chiến thắng, ngay cả khi đối mặt với chiến thắng rõ ràng và không thể tranh cãi của người khác.

        Tuy nhiên, vấn đề chủng tộc dường như ngày càng ít có khả năng minh định tính cách hơn khi một người đã tốt nghiệp đại học được sáu năm, và những người mà vẫn xem nó như là cốt lõi của bản sắc cá nhân mình lại có chút gì đó trẻ con và hơi đáng thương hại, như thể họ đang bám víu vào một niềm đam mê của tuổi trẻ với Tổ chức Ân xá Quốc tế[8] hay chiếc kèn tuba[9]: một mối bận tâm lạc hậu và đáng xấu hổ với một điều gì đó từng đạt được sự tán dương trong các đơn xin tại trường đại học. Ở cái tuổi của cậu, khía cạnh thực sự quan trọng duy nhất trong bản ngã của một con người là năng lực tính dục; các thành tựu về mặt chuyên môn; và tiền bạc. Và trong cả ba điều này, Malcolm đều thất bại.   

        Tiền bạc, cậu đặt sang một bên. Vào một ngày nào đó cậu sẽ thừa kế một số tiền khổng lồ. Cậu không biết là nhiều như thế nào, và cậu không bao giờ cảm thấy cần phải hỏi, và không một ai cảm thấy cần phải nói cho cậu biết, mà vì thế cậu biết rằng thực ra là rất nhiều. Không nhiều như là của Ezra, dĩ nhiên là vậy, nhưng mà — ô, có thể là cũng nhiều như khoản thừa kế của Ezra. Cha mẹ của Malcolm sống khiêm tốn hơn rất nhiều so với khả năng của họ, nhờ vào mối ác cảm của mẹ cậu đối với việc phô trương sự giàu có một cách chói mắt, vì vậy mà cậu không bao giờ biết được rằng liệu họ sống giữa đại lộ Lexington và Park là bởi vì họ không thể mua nổi một ngôi nhà nằm giữa đại lộ Madison và đại lộ số 5, hay là họ sống giữa đại lộ Lexington và Park là bởi mẹ cậu cảm thấy việc sống giữa đại lộ Madison và Đại lộ số 5 là quá phô trương. Cậu muốn tự mình làm ra tiền, và cậu sẽ làm như vậy. Nhưng cậu không phải là một trong số những đứa con nhà giàu tự hành hạ mình về điều đó. Cậu sẽ cố gắng kiếm tiền theo cách của mình, nhưng điều đó không hoàn toàn tùy thuộc vào cậu.  

        Tình dục, và sự thỏa mãn tình dục, tuy nhiên, lại là thứ mà cậu cần phải chịu trách nhiệm. Cậu không thể nào đổ lỗi cho việc cậu thiếu một cuộc sống tình dục dựa trên thực tế rằng cậu đã lựa chọn một ngành nghề có thu nhập thấp, hay vì cha mẹ cậu không mấy thúc giục cậu một cách đúng đắn. (Hay là cậu có thể làm vậy? Là một người con, Malcolm đã phải chịu đựng những cảnh âu yếm dài lê thê của cha mẹ mình — thường được thực hiện trước mặt cậu và Flora — và giờ thì cậu tự hỏi rằng có phải năng lực phô trương của họ đã mài mòn tinh thần phấn đấu trong cậu hay không.) Mối tình mới đây nhất của cậu diễn ra đã ba năm, với một người phụ nữ tên Imogene đã đá cậu để đi vào con đường đồng tính nữ. Cho tới tận bây giờ, cậu vẫn không rõ là liệu mình có bị thu hút bởi Imogene hay đó chỉ đơn giản là sự an tâm khi có một ai đó ra quyết định thay cậu và cậu sẽ vui vẻ nghe theo. Gần đây, cậu gặp Imogene (cũng là một kiến trúc sư, nhưng cô ấy làm ở một tổ chức công mà xây dựng những ngôi nhà thử nghiệm dành cho người có thu nhập thấp – đúng là loại công việc mà Malcolm cảm thấy muốn làm, ngay cả khi cậu không làm?) và đã trêu chọc cô — cậu đã đùa! — cậu không thể không cảm thấy rằng mình đã đẩy cô đến với con đường đồng tính. Nhưng Imogene nổi giận và bảo với cậu rằng cô vẫn luôn là một người đồng tính và cô đồng ý đến với cậu là bởi vì cậu có vẻ rất bối rối về tính dục nên cô nghĩ rằng cô có thể chỉ bảo cho cậu.  

        Nhưng kể từ sau Imogene, không còn ai nữa cả. Ôi, có vấn đề gì với cậu thế? Tình dục, tính dục: đây cũng là những thứ mà cậu đáng lý ra nên giải quyết ở trường đại học, nơi cuối cùng mà sự bấp bênh không chỉ là có thể chịu được mà còn được khuyến khích. Trong những năm đầu ở độ tuổi hai mươi, cậu đã cố yêu đương với nhiều người — những người bạn của Flora, những người bạn cùng lớp, một trong những khách hàng của mẹ cậu, một tiểu thuyết gia vừa xuất bản cuốn tiểu thuyết đầu tay dựa trên câu chuyện có thật về sự bối rối về tính dục của một anh lính cứu hỏa — và vẫn không biết mình bị hấp dẫn trước ai. Cậu thường suy nghĩ rằng việc là một người đồng tính nam (cũng như là việc cậu không chịu nổi cái ý nghĩ đó; theo một cách nào đó, điều này, cũng giống như là vấn đề sắc tộc, có vẻ như thuộc về phạm vi trường đại học, một bản sắc cá nhân được nuôi dưỡng trong một giai đoạn trước khi trưởng thành tới địa hạt đúng đắn và thực tế hơn) bị hấp dẫn chủ yếu bởi thứ phụ trang đi kèm, vì bộ sưu tập của những tư tưởng chính trị của nó và những căn nguyên và tính thẩm mỹ mà nó nắm giữ. Cậu đã bỏ lỡ, có vẻ như là vậy, cái cảm giác về việc bị đối xử tàn nhẫn và bị tổn thương và vĩnh viễn oán giận khi làm người da đen, nhưng cậu tin chắc rằng cậu sở hữu sự hứng thú cần thiết nếu như là một người đồng tính.   

        Cậu đã từng tưởng tượng rằng mình yêu Willem, và ở nhiều thời điểm cũng động lòng với Jude, và ở nơi làm việc đôi khi cậu nhận ra mình đang ngắm nhìn Eduard. Đôi khi cậu để ý thấy Dominick Cheung cũng đang ngắm nhìn Eduard, và rồi cậu sẽ ngăn mình lại, bởi vì con người cuối cùng mà cậu muốn trở thành là cái gã Dominick ủ ê, bốn mươi nhăm tuổi kia, cứ dòm ngó cái vị trí cộng sự ở một cái công ty mà anh ta chẳng bao giờ có được. Cách đây vài tuần, cậu đến chơi nhà của Willem và Jude, bề ngoài là thực hiện vài đo đạc để cậu có thể thiết kế cho họ một cái giá sách, và Willem cúi xuống ngay trước mặt cậu để nhặt cái thước đo từ ghế tràng kỷ, và sự gần gũi với anh bỗng nhiên trở nên không tài nào chịu nổi, và cậu phải viện ra lý do rằng cần phải đến văn phòng và đột ngột rời đi, Willem kêu tên cậu từ sau lưng.

       

        Thực ra, cậu đã đến văn phòng, lờ đi tin nhắn của Willem, và ngồi trước máy vi tính và một lần nữa tự hỏi rằng tại sao cậu lại vào làm ở Ratstar. Điều tồi tệ nhất chính là câu trả lời rõ ràng đến mức mà cậu chẳng cần phải hỏi: cậu gia nhập Ratstar để gây ấn tượng với ba mẹ cậu. Vào năm học cuối của cậu tại trường kiến trúc, Malcolm đã có một sự lựa chọn — cậu có thể lựa chọn làm việc cùng với hai người bạn học, Jason Kim và Sonal Mars, những người vừa thành lập công ty của chính mình dựa trên số vốn mà cha mẹ Sonal cung cấp, hoặc là cậu có thể đầu quân cho Ratstar.

       

        “Cậu đang đùa tôi đấy à,” Jason nói vậy khi Malcolm kể cho cậu ấy nghe về quyết định của mình. “Cậu có nhận ra cuộc đời mình sẽ ra sao khi trở thành cộng sự ở một công ty như thế hay không?”

        “Đấy là một công ty lớn,” cậu nói, quả quyết, nghe giống như là lời của mẹ cậu, và Jason trợn ngược mắt lên. “Ý của tôi là, đấy là một cái tên tuyệt vời trên bản sơ yếu lý lịch của tôi.” Nhưng dù cho cậu có nói như vậy, cậu biết rằng (và tệ hơn cả, sợ rằng cả Jason cũng biết) điều mà cậu thực sự muốn nói là: đó là một cái tên tuyệt vời để ba mẹ cậu có thể kể ra trong những bữa tiệc rượu. Và, thật vậy, ba mẹ cậu rất thích nói ra cái tên đó. “Hai đứa,” Malcolm từng nghe thấy ba cậu nói với ai đó trong một bữa tiệc tối ăn mừng một khách hàng của mẹ Malcolm. “Con gái tôi là biên tập viên của FSG, và con trai tôi làm việc tại Văn phòng Kiến trúc Ratstar.” Người phụ nữ buông ra một lời tán thưởng, và Malcolm, người thực ra đang cố tìm cách để nói với ba cậu rằng cậu muốn nghỉ việc, cảm thấy có thứ gì đó trong lòng cậu đang héo tàn đi. Vào những thời điểm như thế, cậu thấy ghen tị với bạn bè mình trước những điều mà cậu từng thấy tội nghiệp cho họ: thực tế rằng không một ai có bất cứ kỳ vọng nào đối với họ, sự tầm thường của gia đình họ (hoặc là sự thiếu thốn của họ đối với điều này), cái cách mà họ định hướng cuộc đời mình chỉ bằng tham vọng của bản thân.  

        Còn giờ đây? Giờ đây Jason và Sonal đã có hai dự án được đăng trên tờ New York và một ở tờ New York Times, trong khi cậu vẫn làm những phần công viêc mà cậu từng làm trong năm học đầu tiên ở trường kiến trúc, làm việc cho kẻ tự phụ trong một công ty có cái tên tự phụ được đặt theo một bài thơ tự phụ của Anne Sexton[10], và được nhận phần lương gần như bằng không.  

       

        Cậu vào học trường kiến trúc vì lý do tệ hại hơn cả, nó có vẻ như: bởi vì cậu yêu những tòa nhà. Đó là một niềm đam mê đáng trân trọng, và khi mà cậu còn là một đứa trẻ, ba mẹ cậu đã đưa cậu đi tham quan những ngôi nhà, các di tích cổ bất kỳ khi nào họ đi du lịch. Ngay cả khi còn là một cậu nhóc bé xíu, cậu vẫn luôn vẽ ra những tòa nhà trong tưởng tượng, xây dựng những cấu trúc tưởng tượng: đó là một sự dễ chịu và đó là một sự ký thác của điều bí mật — mọi thứ mà cậu không thể nói ra rõ ràng, mọi thứ mà cậu không thể quyết định, cậu có thể, hình như, giải quyết với một tòa nhà.

        Và theo một cách thiết yếu, đó là điều mà cậu thấy hổ thẹn nhất: không phải là vốn hiểu biết nghèo nàn của cậu về tình dục, không phải là sự bội bạc của cậu đối với vấn đề sắc tộc, không phải là sự bất lực của cậu trong việc tách biệt bản thân khỏi ba mẹ mình hay tự làm ra tiền hay hành xử như một sinh vật độc lập. Chỉ là, khi mà cậu và các đồng nghiệp ngồi lại vào tối muộn, nhóm bọn họ đào sâu vào những cấu trúc giấc mơ đầy tham vọng của mình, tất cả bọn họ đều vẽ ra và hoạch định về những tòa nhà xa vời, thì cậu lại chẳng làm gì cả. Cậu đã mất đi cái khả năng tưởng tượng ra bất cứ điều gì. Và vì thế mà vào mỗi tối, trong khi những người khác sáng tạo, cậu lại sao chép: cậu vẽ những tòa nhà mà cậu từng thấy trong các chuyến đi, những tòa nhà mà những người khác đã mơ đến và đã xây dựng, những tòa nhà mà cậu đã từng sống hoặc đã từng đi qua. Lặp đi lặp lại, cậu tạo ra những thứ mà cậu đã từng tạo ra, mà thậm chí còn chẳng buồn cải thiện chúng, chỉ sao chép lại chúng. Cậu đã hai mươi tám tuổi; trí tưởng tượng đã rời bỏ cậu; cậu là một kẻ sao chép.   

        Điều ấy khiến cho cậu sợ hãi. JB đã có loạt tranh của mình. Jude có sự nghiệp của riêng mình, cả Willem cũng vậy. Nhưng sẽ thế nào nếu Malcolm không bao giờ còn có thể sáng tạo ra một điều gì nữa? Cậu nhớ hoài những năm tháng mà việc chỉ cần ở trong phòng mình với đôi tay di chuyển trên một tờ giấy vẽ là đủ, thời điểm trước những năm tháng của việc ra quyết định và bản sắc cá nhân, khi mà cha mẹ cậu thực hiện những lựa chọn giúp cậu, và điều duy nhất mà cậu cần phải tập trung vào là nét sắc bén của một đường thẳng, cái góc cạnh hoàn hảo như một lưỡi dao của chiếc thước kẻ trong tay kia. 

 

***

[1] llama: Lạc đà không bướu hay còn gọi là Đà mã (danh pháp hai phần: Lama glama) là một loài động vật thuộc họ Camelidae ở Nam Mỹ. Lạc đà không bướu đã được nuôi lấy thịt và sức kéo bởi các nền văn hóa Andes từ thời kỳ tiền Colombo.

Một con lạc đà không bướu trưởng thành đầy đủ có thể cao 1,7 đến 1,8 m (5,5 đến 6,0 ft) và nặng 130 đến 200 kilôgam (280 đến 450 lb). Lúc mới sinh, lạc đà không bướu con (còn gọi là cria) có thể nặng từ 9 đến 14 kg (20 đến 30 lb). Lạc đà không bướu có thể sống đến 20-30 năm, tùy theo điều kiện chăm sóc.

[2] Mendoza, Argentina, thủ phủ tỉnh Mendoza, đặt theo tên của Pedro de Mendoza, người lập nên Buenos Aires

[3] Ann Arbor’ là một thành phố quận lỵ thuộc quận Washtenaw trong tiểu bang Michigan, Hoa Kỳ

[4] Thành Đô (tiếng Trung: 成都; bính âm: Chéngdu), là một thành phố tại tây nam Trung Quốc, tỉnh lỵ tỉnh Tứ Xuyên, là thành phố thuộc tỉnh, đông dân thứ năm Trung Quốc (2005). Thành Đô là một trong những trung tâm giao thông vận tải và giao thương quan trọng của Trung Quốc. Hơn 4000 năm trước, nền văn hóa Kim Sa (金沙 Jinsha) thời kỳ đồ đồng được thiết lập tại khu vực này. Đồng bằng màu mỡ Thành Đô được gọi là “Thiên Phủ Chi Quốc”, có nghĩa là “đất nước thiên đường”.

 

[5]  Lee Lozano (5/11/1930 – 2/10/1999) là một họa sĩ, nhà nghệ thuật thị giác và vi niệm người Mỹ.

 

[6] Benito Amilcare Andrea Mussolini (29/7/1883 – 28/4/1945). Được gọi là Il Duce (“The Leader”), Mussolini là người sáng lập ra chủ nghĩa phát xít Ý.

[7] Buteo jamaicensis (tên tiếng Anh: Red-tailed hawk – Ưng đuôi lửa) là một loài chim săn mồi trong họ Ưng. Đây là một trong ba loài được biết đến với tên ở Mỹ là “chickenhawk” mặc dù nó hiếm khi săn bắt gà. Nó sống ở suốt các khu vực của Bắc Mỹ, từ phía tây Alaska và miền bắc Canada tới phía nam Panama và Tây Ấn. Đây là một trong những loài Ưng phổ biến nhất ở Bắc Mỹ. Ưng đuôi lửa có thể thích nghi với tất cả các quần xã sinh vật trong phạm vi của nó. Có tất cả mười bốn phân loài được công nhận, tùy theo thay đổi về ngoại hình và phạm vi phân bố. Nó là một trong những thành viên lớn nhất của chi Buteo ở Bắc Mỹ. Chúng thường có trọng lượng từ 1,5-3,5 kg và cao 45–65 cm, với sải cánh dài 110–145 cm.

[8] Tổ chức Ân xá Quốc tế (tiếng Anh: Amnesty International, viết tắt AI) là một tổ chức phi chính phủ quốc tế, đặt ra mục đích bảo vệ tất cả quyền con người đã được trịnh trọng nêu ra trong bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền và các chuẩn mực quốc tế khác.

Đặc biệt, Ân xá Quốc tế hoạt động nhằm giải thoát tất cả tù nhân lương tâm; nhằm bảo đảm các tù nhân chính trị được xử công bằng và công khai; nhằm bãi bỏ án tử hình, tra tấn, và các hình thức đối xử khác với tù nhân mà họ cho là tàn bạo; nhằm chấm dứt các vụ ám sát chính trị và mất tích cưỡng bức; và chống lại mọi sự vi phạm nhân quyền, bất kể là do chính phủ hay tổ chức khác

[9] Tuba (từ tuba là một từ của tiếng Latin, có nghĩa là “trumpet”) là loại kèn thuộc bộ đồng, âm khu trầm, thường được biên chế trong dàn nhạc giao hưởng, tần số dao động âm thanh thấp, nhưng tiếng vang, chủ yếu đảm trách bè nền, hầu như không sử dụng để trình tấu đơn độc, khác với Pha-gốt (thuộc bộ gỗ): cũng chơi ở âm khu trầm, nhưng âm sắc khác nhau, Pha-gốt có thể trình tấu linh hoạt hơn, đã được một số nhạc sĩ cổ điển sử dụng viết cho thể loại concerto, điển hình là nhạc sĩ Mozart. Sự xuất hiện của tuba hiện nay là sự thế chỗ của ophicleide, một nhạc cụ cũng có hình dáng giống tuba.

 

[10] Anne Sexton (9/11/1928 – 4/10/1974) là nhà thơ người Mỹ, từng đoạt giải Pulitzer vào năm 1967 cho tập thơ Live or Die.