8d9b7f421fc0a853b204beec2c5601ee

 

 

CHƯƠNG 2 (tiếp)

 

 

      Trên sân ga tàu điện ngầm có một bài thơ. Phía trên những hàng ghế nhựa, lấp đầy khoảng trống giữa những bảng quảng cáo của bác sĩ chuyên khoa gia liễu và các chương trình đại học từ xa, là một hàng dài những tờ giấy in các bài thơ: Stevens xếp thứ hai và Roethke xếp thứ ba và Lowell xếp thứ tư, làm thơ có nghĩa là không công kích ai cả, sự giận dữ và cái đẹp được chiết giảm tới sự cách ngôn trống rỗng. 

        Hoặc đó là những gì JB nói. Hắn là kẻ phản đối thơ ca. Chúng xuất hiện trong đời hắn kể từ thời trung học cơ sở, và trong suốt mười lăm năm qua hắn cứ ca thán về chúng mãi. “Thay vì tài trợ cho nghệ thuật chân chính và nghệ sĩ chân chính, họ lại đưa tiền cho mấy bà cô thủ thư và mấy kẻ ái nam ái nữ mặc áo len đan để chọn ra cái thứ tệ hại này,” hắn hét lên với Willem qua tiếng kêu chói tai ở cung độ F khi tàu hãm phanh. “Và toàn bộ thứ này là mấy dòng đánh máy nhảm nhí theo phong cách của Edna St. Vincent Millay[1]. Hoặc đó thực sự là những người tốt mà họ đã biến thành vô tính. Và tất cả bọn họ đều là người da trắng, cậu có để ý thấy không? Cái quái này là sao chứ?”

        Vào tuần tiếp theo, Willem nhìn thấy một tấm áp phích của Langston Hughes[2] và gọi cho JB để kể cho hắn nghe. “Langston Hughes?!” JB rên lên. “Để tớ đoán nhé — ‘Một giấc mơ bị trì hoãn,’ đúng không? Tớ biết mà! Cái thứ ấy không tính. Và dù sao thì, nếu có thứ gì đó thực sự mang tính bùng nổ, thì thứ nhảm nhí ấy sẽ biến mất trong vòng một giây.”

        Đối diện với Willem buổi chiều hôm đó là bài thơ của Thom Gunn[3]: “Mối tình của họ cốt tại/ Trong sự thảo luận liệu nó có tồn tại.” Ngay bên dưới, một ai đó đã viết bằng bút mực đen, “Đừng lo, anh bạn, tôi cũng không có được cái l*n nào cả.” Anh nhắm mắt lại. 

        Chẳng thể nào ngờ rằng anh lại thấy mệt mỏi thế này và giờ chỉ mới có bốn giờ chiều, ca làm của anh còn chưa bắt đầu. Đáng lý ra anh không nên lên Brooklyn với JB vào đêm trước, nhưng sẽ chẳng có ai đi cùng với cậu ấy cả, và JB thì tuyên bố rằng anh mắc nợ cậu ta, bởi vì chẳng phải là JB đã hộ tống Willem tới buổi độc diễn dở tệ vào tháng trước đó ư?

        Vì thế mà anh đã tới, dĩ nhiên rồi. “Ban nhạc của ai đây?” anh hỏi khi họ chờ tàu trên sân ga. Chiếc áo khoác của Willem quá mỏng, và anh vừa làm mất một chiếc găng tay, và kết quả là anh bắt đầu bày ra một tư thế nhằm giữ thân nhiệt — vòng tay quanh ngực, bàn tay kẹp nách, giậm giậm chân — bất cứ khi nào anh buộc phải đứng giữa trời lạnh.

        “Của Joseph,” JB trả lời.

        “Ồ,” anh đáp. Anh không biết Joseph là ai. Anh thấy ngưỡng mộ cái sự tinh thông theo kiểu Felliniesque[4] của JB trong vòng tròn xã hội rộng lớn của mình, mà tại đó mỗi một người là bộ trang phục diện ngoài đầy màu sắc, và anh và Malcolm và Jude là cốt yếu nhưng vẫn chỉ là những món phụ kiện tầm thường trong mắt JB — những người am hiểu then chốt hoặc giám đốc nghệ thuật thứ hai mới là những người mà hắn sẽ xem như là có trách nhiệm trong việc giữ cho toàn bộ sự hoạt động có chủ hướng này chạy trơn tru. 

        “Họ chơi nhạc hard-core[5],” JB vui vẻ nói, như thể điều ấy sẽ giúp anh đánh giá được Joseph.

        “Tên của ban nhạc này là gì?”

        “Được rồi, chuyện là thế này,” JB trả lời, nhe răng cười. “Tên của nó là Smegma Cake 2[6].”

        “Gì cơ?” anh hỏi lại, bật cười. “Smegma Cake 2 á? Tại sao? Thế có chuyện gì xảy ra với Smegma Cake 1 rồi?”

        “Bị nhiễm cầu khuẩn rồi,” JB hét lên để át tiếng đoàn tàu lách cách đang chạy vào ga. Một người phụ nữ lớn tuổi đứng gần đấy quắc mắt nhìn về phía họ. 

        Chẳng hề ngạc nhiên, Smegma Cake 2 không quá xuất sắc. Còn chẳng phải là thể loại hard-core nữa, thực vậy; gần giống như là điệu nhạc ska[7] hơn, hoạt bát và quanh co (“Có vấn đề với âm thanh của họ!” JB hét lên bên tai anh trong suốt một bài hát dài, “Phantom Snatch 3000.” “Ừ,” anh hét đáp lại, “quá tệ!”). Vào giữa buổi diễn (mỗi bài hát dường như kéo dài hai mươi phút) anh bắt đầu thấy chóng mặt, bởi cả sự ngớ ngẩn của ban nhạc này lẫn không gian chật hẹp, và bắt đầu nhảy một cách cuồng loạn với JB, hai người bọn họ xô những người đứng xung quanh và những người đứng xem ra xa cho tới khi mọi người va vào nhau, nhưng đầy vui vẻ, giống như một lũ trẻ mới biết đi đang ngà ngà say, JB nắm lấy vai anh và hai người bọn họ phá lên cười vào mặt nhau. Vào những khoảnh khắc như vậy anh thấy yêu JB trọn vẹn, cái khả năng và sự sẵn sàng của JB trong việc trở nên hoàn toàn ngớ ngẩn và phù phiếm, điều mà anh chẳng bao giờ có được cùng với Malcolm hay với Jude — Malcolm là bởi vì cậu ấy, bởi tất cả những điều mà cậu ấy nhắc tới, chỉ dừng lại ở sự đúng mực, và Jude là bởi vì y quá nghiêm túc.

        Dĩ nhiên, là vào sáng nay, anh lãnh đủ. Anh thức dậy trong góc của JB ở căn gác mái của Ezra, trên chiếc đệm luộm thuộm của JB (gần đó, trên sàn nhà, JB ngáy chảy cả nước dãi vào một đóng quần áo bẩn bốc mùi), không biết chắc làm thế nào mà, một cách chính xác, họ có thể qua cầu để quay về. Willem không phải là kẻ hay rượu chè hay say thuốc, nhưng khi ở bên JB, anh nhận thấy đôi khi mình hành xử rất khác. Quả là nhẹ nhõm khi được quay về với phố Lispenard, với sự yên tĩnh và sạch sẽ của nó, với ánh nắng xiên qua khung cửa sổ hun nóng chiếc giường của anh trong phòng ngủ trong khoảng thời gian từ mười một giờ trưa đến một giờ chiều, Jude đã đi làm từ lâu. Anh đặt đồng hò báo thức và thiếp đi ngay lập tức, thức dậy với vừa đủ thời gian chỉ để tắm táp và uống một viên aspirin trước khi vội vã ra bến tàu.

        Nhà hàng nơi anh làm việc nổi tiếng nhờ vào cả thức ăn — vì sự phức tạp tinh tế của nó — và cả sự kiên định và sự thân thiện của các nhân viên nữa. Ở Ortolan họ được dạy rằng cần phải thân thiện nhưng không suồng sã, có thể tiếp cận nhưng không thân mật. “Đây không phải là quán Những Người Bạn,” sếp của họ, Findlay, quản lý nhà hàng, vẫn thích nói vậy. “Hãy mỉm cười, nhưng đừng nói tên của cậu cho họ biết.” Có rất nhiều những quy định như vậy ở quán Ortolan: Các nhân viên nữ có thể đeo nhẫn cưới, nhưng không được đeo các loại trang sức khác. Nhân viên nam không được để tóc dài hơn dái tai của mình. Không được phép sơn móng tay. Không được để râu quá hai ngày. Ria mép sẽ được xem xét theo từng trường hợp, cũng như vậy đối với hình xăm. 

        Willem làm nhân viên phục vụ cho Ortolan đã gần hai năm. Trước Ortolan, anh từng làm ca nửa buổi vào cuối tuần và ca buổi trưa vào các ngày còn lại tại một nhà hàng ồn ào và có tiếng ở Chelsea có tên là Digits, nơi mà các thực khách (hầu như toàn là đàn ông, hầu như thường lớn tuổi hơn: bốn mươi, ít nhất là vậy) sẽ hỏi anh rằng tên anh có trong tờ thực đơn không, và rồi họ sẽ bật cười, một cách tinh nghịch và tự hài lòng với chính mình, như thể họ là người đầu tiên hỏi anh như vậy, thay vì là người thứ mười một hay mười hai chỉ trong riêng ca làm đó. Dẫu vậy, anh vẫn luôn mỉm cười và nói rằng, “Chỉ như là món khai vị thôi ạ,” và họ sẽ trả miếng, “Cơ mà tôi muốn món dạo đầu,” và anh sẽ lại mỉm cười và cuối bữa họ sẽ típ cho anh thật hậu. 

        Là một người bạn ở cao học, một diễn viên khác tên là Roman, đã giới thiệu anh với Findlay sau khi anh ấy được phân công một vai khách mời định kỳ trong một bộ phim truyền hình và xin nghỉ việc. (Anh ấy đã rất phân vân trước việc ký hợp đồng biểu diễn, anh kể với Willem, nhưng liệu anh còn có thể làm gì? Quá nhiều tiền để có thể từ chối.) Willem đã rất vui vì lời giới thiệu, bởi vì bên cạnh thức ăn và dịch vụ, điều khác nữa khiến cho Ortolan được biết đến — dù chỉ là giữa một nhóm người rất nhỏ — chính là sự linh hoạt về giờ giấc, đặc biệt là nếu như Findlay thích anh. Findlay thích loại phụ nữ ngực nhỏ tóc đen và tất cả các dạng đàn ông chỉ cần là cao và gầy và, nghe đồn, không phải người châu Á. Đôi khi Willem sẽ ngồi bên cạnh bếp và quan sát những cặp không tương xứng của nữ phục vụ bàn có mái tóc đen với vóc người nhỏ bé và nam phục vụ cao gầy đi quanh gian chính của nhà hàng, lướt qua nhau theo một sự phân phối vai diễn trong một điệu nhảy minuet[8] lạ kỳ.

        Không phải tất cả những ai làm phục vụ tại quán Ortolan cũng đều là diễn viên cả. Hoặc chính xác hơn, không phải ai ở Ortolan đều vẫn đang là diễn viên. Có những nhà hàng nhất định ở New York mà một người từ diễn viên phục vụ bàn, theo cách nào đó, trở thành bồi bàn từng là diễn viên. Và nếu như cái nhà hàng ấy đủ tốt, đủ đáng trọng, thì đó không chỉ là một bước ngoặt sự nghiệp hoàn toàn có thể chấp nhận được thôi đâu, mà nó còn được yêu thích hơn hẳn. Một người bồi bàn ở một nhà hàng xịn có thể dành được cho bạn bè mình một vé đặt chỗ luôn được thèm muốn, có thể dụ dỗ nhân viên quầy bếp đưa những món ăn miễn phí lên cho những người bạn ấy (mặc dù như Willem hiểu ra, việc thu phục nhân viên quầy bếp khó hơn so với anh tưởng). Nhưng còn một diễn viên phục vụ bàn có thể mang lại điều gì cho bạn bè mình? Những suất vé diễn tại những rạp hát nhỏ[9] mà tại đó anh phải tự chuẩn bị lấy trang phục cho mình bởi vì anh đóng vai một nhà môi giới chứng khoán có thể có hoặc không trở thành một cái xác sống, và chẳng hề có tí trợ cấp nào đối với trang phục? (Anh đã từng làm đúng như vậy vào năm ngoái, và bởi vì anh không có một bộ vest, anh đành phải mượn một bộ của Jude. Chân Jude dài hơn chân anh một in-sơ, vì thế mà trong suốt suất diễn anh phải xăn gấu quần lên và dán chúng lại bằng băng dính.)

        Thật dễ để nhận ra tại Ortolan ai từng là diễn viên và ai hiện đang là nhân viên phục vụ đợi chờ một cơ hội nghề nghiệp. Người tham danh vọng là những người lớn tuổi hơn, và câu nệ và hay quan trọng hóa về việc phải tuân theo các quy định của Findlay, và vào bữa ăn tối của nhân viên họ sẽ xoay ly rượu một cách phô trương mà phụ tá của người hầu rượu rót cho họ uống thử và nói những điều kiểu như, “Nó có chút gì đó hơi giống như món Linne Calodo Petite Sirah mà cậu pha chế vào tuần trước, José nhỉ?” hay “Vị có hơi giống như nước khoáng, nhỉ? Đây là sản phẩm của New Zealand chăng?” Điều đó được hiểu như là anh sẽ không mời họ tới buổi biểu diễn của mình — anh chỉ ngỏ lời với những người bạn diễn viên-bồi bàn của mình mà thôi, và nếu như anh được mời, thì việc ít nhất tỏ ra cố gắng tới đó cũng được xem như là một phép lịch sự — và anh chắc chắn sẽ không bàn luận gì về những buổi diễn thử, hay những người đại diện, hay bất cứ điều gì tương tự như vậy với họ. Nghiệp diễn cũng giống như là chiến tranh vậy, và họ là những cựu chiến binh: họ không muốn nghĩ về cuộc chiến, và họ chắc chắn không muốn nói về nó với những kẻ dại khờ mà vẫn còn hào hứng xông pha trên các chiến hào, những kẻ vẫn còn phấn khích với chiến trường.

        Bản thân Findlay cũng từng là diễn viên, nhưng không như những cựu diễn viên khác, ông ta thích — hoặc có thể “thích” không phải là từ thích hợp; có lẽ từ chính xác hơn ở đây chỉ đơn giản là “từng” — kể về thời quá khứ của mình, hoặc ít nhất là một phiên bản chắc chắn về nó. Theo như lời Findlay, ông ta có một lần gần như, gần như đã được đóng vai thứ chính trong vở A Bright Room Called Day (Căn phòng sáng sủa có tên là Ngày) của rạp Public Theater (sau này, một nữ phục vụ bàn đã kể với họ rằng tất cả các vai quan trọng đều dành cho nữ). Ông ta đã từng học một vai ở Broadway (cho vở nào thì không bao giờ được làm rõ). Findlay là một bóng ma sự nghiệp biết đi, một câu chuyện có tính chất cảnh báo trong bộ đồ vest màu xám, và những người vẫn đang còn là diễn viên đều tránh mặt ông ta, như thể lời nguyền đặc biệt của ông ta là một thứ gì đó có thể lây lan, hoặc quan sát ông ta thật kỹ, như thể từ việc duy trì tiếp xúc với ông ta, họ có thể tự tiêm vắc-xin phòng bệnh cho mình.

        Nhưng vào thời điểm nào mà Findlay lại quyết định từ bỏ nghiệp diễn và điều đó đã xảy ra như thế nào? Có phải đó chỉ đơn giản là vì tuổi tác? Xét cho cùng, ông ta cũng già rồi: bốn mươi lăm, năm mươi, hoặc vào tầm đó. Làm sao mà anh biết được rằng đã đến lúc từ bỏ? Liệu đó có phải là khi anh ba mươi tám tuổi mà vẫn chưa tìm được người đại diện (như điều mà họ ngờ là đã xảy ra đối với Joel)? Liệu đó có phải là khi anh bốn mươi tuổi và vẫn phải ở chung phòng với người khác và thu nhập từ việc làm một anh bồi bán thời gian lại nhiều hơn hẳn so với số tiền anh kiếm được vào cái năm mà anh quyết định trở thành diễn viên toàn thời gian (như họ biết là điều đã xảy ra với Kevin)? Liệu đó có phải là khi anh trở nên béo, hay hói, hay bị phẫu thuật thẩm mỹ hỏng và không thể che đậy nổi cái sự thật rằng anh béo và hói? Khi nào thì việc theo đuổi những tham vọng của anh vượt ra ngoài giới hạn của sự dũng cảm và trở thành liều lĩnh dại dột? Làm sao anh biết được khi nào thì nên dừng lại? Vào trước đó, những thập niên cứng nhắc, ít được khuyến khích hơn (và rốt cuộc, lại hữu ích hơn), mọi sự rõ ràng hơn nhiều: anh sẽ dừng lại khi mà anh bước sang tuổi bốn mươi, hoặc khi anh kết hôn, hoặc khi anh có con, hoặc là sau năm năm, hay mười năm, hay mười lăm năm. Và rồi anh sẽ tìm một công việc thực thụ, và nghiệp diễn và những ước mơ của anh về một sự nghiệp liên quan đến nó sẽ lui dần vào bóng tối, một sự tan chảy vào quá khứ cũng lặng lẽ như là cục nước đá chìm nghỉm trong chiếc bồn tắm nước nóng.

        Nhưng giờ là thời đại của sự hoàn thành ước nguyện của bản thân, khi mà việc dừng chân trước một điều nào đó không hẳn là lựa chọn đầu tiên của anh cho một cuộc sống có vẻ như thiếu ý chí và ti tiện. Ở đâu đó, việc đầu hàng trước những gì dường như là định mệnh của anh đã thay đổi từ việc có phẩm cách thành một dấu hiệu của sự hèn nhát. Có những thời điểm khi mà sức ép của việc đạt đến hạnh phúc có cảm giác gần như là gánh nặng, như thể hạnh phúc là một thứ gì đó mà mỗi một con người nên và có thể đạt đến, và rằng bất kỳ một dạng thỏa hiệp nào trong việc mưu cầu nó đều là lỗi của anh. Liệu Willem có làm việc ở Ortolan hết năm này qua năm khác, bắt cùng một chuyến tàu tới các buổi thử vai, đọc đi đọc lại kịch bản, một năm trôi qua như là con sâu bướm – có thể tiến tới một hoặc hai in-sơ, sự tiến bộ của anh quá đỗi nhỏ bé để có thể được xem như là tiến bộ? Liệu rồi một ngày nào đó anh có đủ dũng cảm để mà từ bỏ, và liệu anh có thể nhận ra được thời điểm ấy hay không, hay là anh sẽ thúc dậy vào một ngày và nhìn vào gương và nhận ra mình đã là một lão già, mà vẫn cố tự gọi mình là diễn viên bởi vì anh quá đỗi sợ hãi để thừa nhận rằng anh có thể không phải là vậy, có thể không bao giờ trở thành như vậy? 

        Theo JB, nguyên nhân khiến Willem vẫn chưa thể nổi tiếng là bởi vì bản thân Willem. Một trong những bài giảng yêu thích của JB dành cho anh bắt đầu với “Nếu tớ có vẻ bề ngoài giống như cậu, Willem ạ,” và kết thúc với, “Và cậu bị làm cho hư bởi vì mọi việc đến với cậu quá dễ dàng nên cậu cứ nghĩ là mọi thứ sẽ phải diễn ra theo ý mình. Và cậu biết gì không, Willem? Cậu thì đẹp mã đấy, nhưng mọi người ở đây ai cũng đều đẹp cả, và cậu sẽ cần phải cố gắng hơn.”

        Dù anh cho rằng khi nghe điều này từ JB xem ra có vẻ buồn cười (Chiều hư ấy ư? Hãy nhìn vào gia đình JB mà xem, tất cả bọn họ đều chạy quanh cậu ta, nấu riết mấy món ăn mà cậu ta yêu thích và là sẵn áo quần cho cậu ta, phủ quanh người cậu ta toàn những lời khen ngợi và sự yêu thích; anh từng nghe được JB nói với mẹ mình trong điện thoại rằng cậu ta cần bà mua thêm quần sịp cho mình, và rằng cậu ta sẽ lấy chúng khi về ăn tối vào Chủ nhật, mà, nhân tiện, cậu ta muốn món sườn nướng), anh vẫn hiểu ý của cậu ta. Anh biết rằng anh không hề lười biếng, nhưng sự thực là anh không có được cái tham vọng mà cả JB và Jude đều có, cái quyết tâm vững vàng, không gì lay chuyển được đã giữ chân họ ở lại studio hay văn phòng lâu hơn bất kỳ ai khác, điều khiến cho đôi mắt họ mang một ánh nhìn xa xăm mà làm anh nghĩ rằng một phần nào đó trong con người họ hẳn đang sống ở một tương lai tưởng tượng nào đó, những hình ảnh mù mờ chỉ rõ ràng đối với một mình họ thôi. Tham vọng của JB được đốt cháy bởi sự khao khát về tương lai đó, để nhanh chóng tiến được tới đó; còn với Jude, anh cho rằng, bị thúc đẩy bởi nỗi sợ hãi rằng nếu y không tiến về phía trước, thì theo một cách nào đó y sẽ bị thụt lùi về quá khứ, về cái cuộc sống mà y đã rời bỏ và là điều mà y sẽ không bao giờ kể với một ai trong số họ. Và không chỉ có mỗi Jude và JB mới sở hữu cái phẩm chất này: New York bị bao trùm bởi tham vọng. Thường thì đó là điểm chung duy nhất có ở tất cả mọi người.  

        Tham vọng và vô thần: “Tham vọng là tín ngưỡng duy nhất của tớ,” JB từng nói với anh như vậy trong một chầu bia, và mặc dù với Willem điều này nghe có vẻ như đang diễn tập, như thể hắn đang nhắc lại điều đó, cố hoàn thiện cái giọng điệu bâng quơ, bất cần trước khi hắn có thể thực sự nói ra điều này với một nhà báo vào một ngày nào đó ở một nơi nào đó, anh cũng biết rằng JB đang nói thật. Chỉ có ở đây anh mới cảm thấy buộc phải giải thích cho sự thiếu lửa đối với sự nghiệp của mình; chỉ có ở đây anh mới phải xin lỗi vì có niềm tin vào một thứ gì đó khác ngoài bản thân mình. 

        Thành phố này thường khiến anh cảm thấy rằng anh lỡ mất một điều gì đó quan trọng, và rằng sự không biết ấy sẽ mãi mãi đọa đày anh với một cuộc đời ở Ortolan. (Anh cũng cảm thấy như vậy hồi còn học đại học, nơi mà anh biết chắc rằng anh là kẻ ngu ngốc nhất trong lớp học, được thừa nhận như là một sự điển hình không chính thức cho gã-nông-thôn-da-trắng-nghèo-kỳ-cục.) Những người khác, anh nghĩ, cũng cảm thấy được điều đó, mặc dù điều ấy có vẻ như chỉ khiến mỗi JB bận tâm.

        “Đôi khi tớ không hiểu được cậu, Willem ạ,” JB từng nói với anh như vậy, theo cái giọng cho thấy rằng điều mà hắn không hiểu về Willem chẳng tốt đẹp gì. Đó là vào cuối năm ngoái, ngay sau khi Merritt, bạn cùng phòng cũ của Willem, giành được một trong hai vai chính trong vở diễn True West về thời phục hưng của một nhà hát không chuyên. Vai chính khác thuộc về một diễn viên gần đây đóng chính trong một bộ phim độc lập được hoan nghênh và tận hưởng cái giây phút ngắn ngủi của việc sở hữu cả sự nổi tiếng nơi phố thị và lời hứa hẹn về nhiều thành công chính thống hơn. Vị đạo diễn (người mà Willem vẫn mong được hợp tác) đã cam kết rằng ông sẽ tuyển chọn diễn viên chưa nổi tiếng cho vai thứ chính. Và ông quả thật đã làm vậy: chỉ là người chưa được biết đến ấy là Merritt chứ không phải Willem. Hai người bọn họ là hai ứng cứ viên cuối cùng cho vai diễn.  

        Bạn bè anh thấy bất bình thay cho anh. “Nhưng mà Merritt còn chẳng biết diễn nữa kia!” JB rên lên. “Hắn ta chỉ có đứng trên sân khấu và nhấp nháy và nghĩ rằng thế là đủ!” Ba người bọn họ bắt đầu nói về thời điểm cuối cùng mà họ thấy Merritt trên sân khấu — một vở kịch nhỏ toàn diễn viên nam tham gia có tên là La Traviata lấy bối cảnh của những năm một chín tám mươi trên hòn đảo Fire Island (Violetta — do Merritt thủ vai — đã được đổi tên thành Victor, và anh ta bị chết vì bệnh AIDS, chứ không phải vì bệnh lao) — và tất cả bọn họ đều đồng ý rằng vở kịch hầu như không thể xem nổi. 

        “Ồ, anh ta thực sự đẹp trai,” anh nói, trong một nỗ lực yếu ớt nhằm bênh vực người bạn cùng phòng cũ đang vắng mặt. 

        “Cậu ta không thực sự đẹp trai đến thế,” Malcolm nói, với một sự dữ dội làm ngạc nhiên tất cả mọi người. 

        “Willem, rồi sẽ đến lượt cậu,” Jude an ủi anh trên đường về nhà sau bữa tối. “Nếu như trên đời này còn có công lý, thì điều ấy sẽ xảy ra. Ông đạo diễn kia là một kẻ ngớ ngẩn.” Nhưng Jude không bao giờ trách cứ Willem vì sự thất bại của anh; còn JB thì vẫn luôn làm vậy. Anh không chắc điều nào thì hữu ích hơn. 

        Anh biết ơn trước sự tức giận của họ, đương nhiên là vậy, nhưng sự thực là, anh không nghĩ rằng Merritt lại tệ như họ nghĩ. Anh ta chắc chắn là không hề tệ hơn Willem; mà thực ra, anh ta còn có thể giỏi hơn kia. Sau này, khi anh nói điều đó với JB, người đã phản ứng lại với một sự im lặng dài, thể hiện ý phản đối, trước khi bắt đầu quở trách Willem. “Đôi khi tớ không hiểu nổi cậu nữa, Willem,” hắn bắt đầu. “Đôi khi tớ có cảm giác như thể cậu không hề muốn làm diễn viên.”

        “Điều đó không đúng,” anh phản bác. “Chỉ là tớ không cho rằng mọi sự từ chối đều là vô nghĩa, và tớ không nghĩ là tất cả mọi người có được phần công việc trước tớ đều chỉ bởi vì họ quá may mắn.”

        Lại thêm một lúc yên lặng nữa. “Cậu quá tử tế, Willem ạ,” JB nói, buồn bã. “Cậu sẽ chẳng đi được đến đâu nếu vẫn tiếp tục thế này.”

        “Cảm ơn cậu, JB,” anh trả lời. Anh hiếm khi nào lại cảm thấy khó chịu trước quan điểm của JB — thường thì, hắn vẫn luôn đúng — nhưng trong cái giây phút ấy, anh cảm thấy không muốn phải nghe những suy nghĩ của JB về những thiếu sót trong anh và sự đoán định đầy u ám của JB về tương lai của anh trừ khi anh hoàn toàn thay đổi tính cách của anh cho lắm. Anh cúp máy và nằm thao thức trên giường, cảm thấy bế tắc và xót xa cho chính mình. 

        Dù sao thì, việc thay đổi tính cách của anh dường như về cơ bản là không thể — chẳng phải là đã quá muộn rồi hay sao? Trước khi anh trở thành một người đàn ông tử tế, xét cho cùng, Willem đã từng là một cậu bé tử tế. Mọi người đều công nhận điều đó: các giáo viên, các bạn học, cha mẹ của các bạn học. “Willem là một đứa trẻ có lòng trắc ẩn,” cô giáo của anh từng viết như vậy trong sổ liên lạc, cuốn sổ liên lạc mà mẹ hoặc cha anh từng đọc qua một lần, nhanh chóng và không nói gì, trước khi nhét nó vào cùng với chồng báo và những chiếc phong bì trống rỗng mà họ sẽ đưa tới trung tâm tái chế phế liệu. Khi mà anh lớn hơn, anh bắt đầu nhận ra rằng mọi người đã rất ngạc nhiên, thậm chí là bực bội, với cha mẹ anh; một giáo viên ở trường trung học còn từng buột miệng nói với anh rằng theo tính cách của Willem, ông nghĩ là cha mẹ anh hẳn phải rất khác. 

        “Khác như thế nào ạ?” anh hỏi.

        “Thân thiện hơn,” thầy giáo anh trả lời.

        Anh không nghĩ về bản thân mình như một người đặc biệt rộng lượng hay nhân hậu. Hầu hết mọi thứ đều đến với anh thật dễ dàng: thể thao, trường học, bạn bè, bọn con gái. Anh không hề tử tế, như nhất thiết phải vậy; anh không cố trở thành bạn bè của tất cả mọi người, và anh không thể chịu nổi những kẻ thô lỗ, hay tính nhỏ nhen, hay sự hèn hạ. Anh là người khiêm tốn và chăm chỉ, mẫn cán, anh biết vậy, thay vì là một kẻ tài ba. “Cần phải biết mình là ai,” cha vẫn thường nói với anh như vậy. 

        Cha anh là như vậy. Willem từng nhớ có một lần, sau một mùa xuân đến muộn cái giá lạnh đã giết chết một số cừu mới sinh trong khu vực của họ, cha anh được một phóng viên của tờ báo địa phương phỏng vấn cho bài viết về tác động của việc này đến ngành nông nghiệp địa phương. 

        “Là một người chủ trang trại,” phóng viên bắt đầu, khi mà cha của Willem ngăn cô ta lại. 

        “Không phải là chủ trang trại,” ông nói, chất giọng của ông khiến những từ này, tất cả các từ, nghe cộc cằn hơn mức cần thiết, “mà là người chăn nuôi gia súc.” Ông đã nói đúng, dĩ nhiên là vậy; chủ trang trại có nghĩa là một cái gì đó cụ thể — một chủ đất — và theo nghĩa đó, ông không phải là chủ trang trại. Nhưng có rất nhiều người trong hạt cũng không có quyền tự gọi mình là chủ trang trại mà vẫn làm như vậy. Willem chưa từng nghe thấy cha anh nói rằng họ không nên làm vậy — cha anh không quan tâm tới việc những người khác làm gì hay không làm gì — nhưng mà sự thổi phồng như vậy không phải dành cho ông, hay vợ ông, mẹ của Willem. 

        Có lẽ là bởi vì thế, anh cảm thấy anh luôn biết mình là ai và là cái gì, đó là lý do vì sao mà, khi anh ngày càng rời xa khỏi trang trại và tuổi thơ của mình, anh ít cảm thấy áp lực trong việc thay đổi hay tái tạo lại bản thân. Anh là một khách nhân ở trường đại học, một vị khách ở trường cao học, và giờ anh là một vị khách của thành phố New York, một vị khách trong cuộc sống đẹp đẽ và giàu sang. Anh chưa bao giờ cố giả vờ như thể anh được sinh ra với những thứ như vậy, bởi vì anh biết rằng mình không phải thế; anh là con trai của một người nuôi gia súc ở phía tây Wyoming, và việc anh ra đi không có nghĩa là mọi điều anh từng là đều đã bị xóa sổ, được viết lại bởi thời gian và kinh nghiệm và sức mạnh của đồng tiền. 

        Anh là đứa con thứ tư của cha mẹ anh, và là đứa duy nhất còn sống. Đầu tiên là một cô con gái, Britte, đã chết vì bệnh bạch cầu, từ rất lâu trước khi Willem được sinh ra. Đấy là hồi còn ở Thụy Điển, khi mà cha anh, một người Iceland, còn làm việc ở một trang trại nuôi cá, nơi ông gặp mẹ anh, một người Đan Mạch. Rồi họ chuyển tới Mỹ, và một người con trai, Hemming, sinh ra với chứng bại não. Ba năm sau đó, là một người con trai khác, Aksel, chết trong giấc ngủ khi còn ẵm ngửa mà không vì một lý do rõ ràng nào cả. 

        Hemming được tám tuổi khi Willem ra đời. Anh ấy không thể đi lại hoặc nói chuyện, nhưng Willem vẫn yêu anh mình và chưa từng nghĩ gì khác về anh ngoài việc anh ấy là anh trai mình. Hemming có thể cười, tuy nhiên, khi anh ấy làm như vậy, anh đưa tay lên mặt mình, những ngón tay của anh co lại như cái chân vịt, đôi môi anh kéo ra khỏi cái lợi màu hồng. Willem học bò, rồi đi và chạy — Hemming vẫn ngồi trên xe lăn hết năm này đến năm khác — và khi anh đã đủ lớn và đủ khỏe, anh sẽ đẩy chiếc xe nặng nề của Hemming với những cái bánh xe dày, và nặng (đó là một chiếc ghế được dùng để ngồi một chỗ, chứ không phải để di chuyển trên cỏ hoặc xuống những con đường bụi bặm) quanh trang trại nơi mà họ sống với cha mẹ mình trong một căn nhà gỗ nhỏ. Phía trên đồi nhà họ là căn nhà chính, dài và thấp với một cổng rào bao quanh, và phía dưới đồi là chuồng ngựa nơi mà cha mẹ anh làm việc cả ngày ở đó. Anh trở thành người chăm sóc chính của Hemming, và là người bầu bạn, cho tới tận khi học trung học; vào các buổi sáng, anh sẽ là người đầu tiên thức dậy, pha cà phê cho cha mẹ và đun nước để nấu cháo yến mạch cho Hemming, và vào buổi tối, anh sẽ đợi ở bên lề đường chiếc xe chở anh trai anh về sau một ngày ở trung tâm chăm sóc cách nhà họ một giờ lái xe. Willem vẫn luôn nghĩ rằng họ rõ ràng trông giống như anh em — họ có mái tóc sáng màu của cha mẹ, và đôi mắt màu xám của cha, và cả hai đều có râu rồng, như một dấu ngoặc đơn kéo dài, nằm ở phía bên trái của khóe miệng khiến họ luôn có vẻ vui vẻ và sẵn sàng cười — nhưng hình như không có ai nhận ra điều đó. Họ chỉ thấy được rằng Hemming ngồi xe lăn, và rằng miệng anh ấy lúc nào cũng há ra, một chấm lửng màu đỏ ẩm ướt, và rằng đôi mắt của anh ấy, thường thường, nhìn lên trời, chăm chăm vào một cụm mây nào đó mà chỉ có anh ấy mới thấy. 

        “Anh thấy gì vậy, Hemming?” đôi khi anh hỏi anh trai, khi mà họ ra ngoài đi dạo vào buổi tối, nhưng dĩ nhiên Hemming chẳng bao giờ đáp lời anh cả.

        Cha mẹ họ quan tâm tới Hemming, nhưng mà anh nhận ra, không đặc biệt trìu mến. Khi mà Willem phải ở lại muộn sau giờ học vì một trận đấu bóng, hay cuộc thi đấu giao hữu điền kinh, hoặc khi anh cần phải làm thêm ca ở siêu thị, mẹ anh sẽ là người đợi để đón Hemming về nhà, là người sẽ nhấc Hemming vào và ra khỏi bồn tắm, là người sẽ cho anh ấy ăn bữa tối với món cháo gà và thay bỉm cho anh ấy trước khi đưa anh lên giường đi ngủ. Nhưng bà sẽ không đọc cho Hemming nghe, hay trò chuyện cùng anh ấy, hay đi dạo với anh như những gì Willem đã làm. Chứng kiến cái cách mà cha mẹ mình ở bên Hemming khiến anh thực buồn lòng, một phần là bởi vì dù cho họ chưa bao giờ hành xử quá đáng, anh có thể nói rằng họ xem Hemming như là một trách nhiệm của mình, không hơn. Sau này anh sẽ tự biện luận với bản thân rằng đó là tất cả những gì có thể kỳ vọng một cách hợp lý ở họ; những thứ khác sẽ phụ thuộc vào may mắn. Nhưng chỉ vậy mà thôi. Anh ước gì họ có thể yêu Hemming nhiều hơn nữa, chỉ hơn một chút mà thôi. 

        (Nhưng có lẽ yêu thương là thứ quá đỗi xa xỉ để mà đòi hỏi từ phía cha mẹ anh. Họ đã mất quá nhiều đứa con nên có lẽ họ chỉ đơn giản là sẽ không hoặc không thể yêu thương trọn vẹn những đứa mà họ hiện đang có. Thậm chí, cả anh và Hemming cũng sẽ rời xa họ, do tự lựa chọn hoặc không, và rồi sự mất mát của họ sẽ là toàn bộ. Nhưng phải mất mấy chục năm nữa anh mới có thể nhìn nhận theo cách này.)

        Vào năm anh học năm thứ hai đại học, Hemming phải làm phẫu thuật cắt bỏ ruột thừa. “Họ nói rằng họ phát hiện ra kịp thời,” mẹ anh nói với anh qua điện thoại. Giọng bà nhàn nhạt, như đang kể lại một sự việc; không hề có sự nhẹ nhõm trong đó, không đớn đau, nhưng cũng chẳng hề có một chút nào của — và anh buộc bản thân mình phải cân nhắc đến điều này, mặc dù anh không muốn, và thấy sợ khi làm vậy — sự thất vọng. Người chăm sóc cho Hemming (một phụ nữ người địa phương, được trả tiền để chăm anh ấy vào ban đêm khi Willem vắng nhà) nhận ra Hemming đập tay vào bụng mình và rên rỉ, và đã chẩn đoán đúng vết cứng lồi lên trên bụng của anh ấy là gì. Trong lúc Hemming được phẫu thuật, các bác sĩ đã phát hiện một khối u, dài và xăng-ti-mét, trong ruột anh và sinh thiết nó. Chụp X quang đã phát hiện thêm những khối u khác, và họ cũng sẽ cắt bỏ chúng.

        “Con sẽ về,” anh nói.

        “Không,” mẹ anh trả lời. “Con không làm được gì ở đây hết. Chúng ta sẽ nói với con nếu có điều nghiêm trọng xảy ra.” Bà và cha anh hẳn phải rất kinh ngạc khi biết rằng anh sẽ vào đại học — không một ai trong số họ biết rằng anh đã nộp hồ sơ đăng ký — nhưng giờ đây anh đã đến được đó, họ quyết định rằng anh nên tốt nghiệp và quên trang trại đi càng sớm càng tốt. 

        Nhưng vào ban đêm anh nghĩ về Hemming, một mình trên giường bệnh, rằng anh ấy đang sợ hãi và sẽ khóc và sẽ mong được nghe thấy lời nói của anh. Khi Hemming tròn hai mươi mốt tuổi, anh ấy phải làm phẫu thuật sa ruột, và anh ấy đã khóc cho tới khi Willem cầm lấy tay anh. Anh biết rằng mình cần phải trở về.

        Vé máy bay quá đắt, đắt hơn nhiều so với khả năng chi trả của anh. Anh tìm kiếm lộ trình xe buýt, nhưng phải mất đến ba ngày mới về được đến nhà, ba ngày để quay trở lại, và anh có một bài thi giữa kỳ cần phải tham dự và phải làm tốt nếu muốn giữ được học bổng, và còn cả việc làm thêm của anh nữa. Cuối cùng, say khướt vào tối thứ Sáu, anh thổ lộ điều này với Malcolm, người ngay lập tức lấy ra cuốn sổ séc của mình và viết cho anh một tờ séc.

        “Tôi không thể,” anh nói, ngay lập tức.

        “Tại sao lại không?” Malcolm hỏi. Họ cứ tranh cãi qua lại cho tới khi Willem cuối cùng cũng chấp nhận tấm séc.

        “Tôi sẽ trở lại tiền cho cậu, cậu biết điều đó, đúng không?”

        Malcolm nhún vai. “Tôi chẳng có cách nào nói ra điều đó nếu không nghe như một kẻ đáng ghét,” cậu nói, “nhưng chuyện ấy đối với tôi thì chẳng quan trọng đâu, Willem ạ.”

        Dẫu vậy, với Willem mà nói thì việc trả tiền cho Malcolm vẫn là điều quan trọng, dù anh biết rằng Malcolm sẽ không nhận tiền của anh. Chính Jude đã đưa ra ý tưởng rằng anh trực tiếp nhét tiền vào ví của Malcolm, và vì thế mà cứ mỗi hai tuần một lần sau khi anh lĩnh tiền mặt từ nhà hàng mà anh tới làm việc vào các cuối tuần, anh sẽ nhét hai hoặc ba tờ hai mươi đô la vào trong ví trong lúc Malcolm đang ngủ. Anh không biết liệu Malcolm có biết việc này hay không — vì Malcolm tiêu chúng quá nhanh, và thường thì tiêu hết tất cả số đó — nhưng Willem cảm thấy hài lòng và tự hào khi làm vậy. 

        Quay lại với câu chuyện, cuối cùng anh cũng được gặp Hemming. Anh thấy mừng vì đã về nhà (mẹ anh chỉ thở dài khi anh nói với bà rằng anh sẽ về), và vui vì gặp lại Hemming, dù hoảng hốt trước việc Hemming giờ đây nom gầy ra sao, rằng anh ấy rên rỉ và khóc lóc ra sao khi y tá chọc vào khu vực xung quanh miệng vết thương của mình; anh phải nắm lấy tay vịn của chiếc ghế để không quát lên với họ. Vào buổi tối, anh và cha mẹ mình sẽ dùng bữa trong yên lặng; anh có thể gần như cảm thấy họ đang xa cách anh hơn, như thể họ lột bỏ cuộc sống làm những ông bố bà mẹ của mình và đã sẵn sàng để trôi dạt tới một cuộc đời mới.

        Vào đêm thứ ba, anh lấy chìa khóa chiếc xe tải và lái tới bệnh viện. Ở miền đông, khi ấy là vào đầu xuân, nhưng ở đây bóng đêm dường như tráng lệ hơn cùng với băng giá, và vào buổi sáng mặt cỏ như được bao phủ bởi một lớp pha lê mỏng. 

        Cha anh bước vào hàng hiên khi anh leo xuống bậc thang. “Thằng bé sẽ ngủ,” ông nói. 

        “Con chỉ nghĩ rằng con sẽ đến thăm anh,” Willem nói với ông. 

        Cha anh nhìn anh. “Willem,” ông nói, “nó sẽ không biết đấy có phải là con hay không.”

        Anh cảm thấy mặt mình nóng lên. “Con biết là cha đếch quan tâm đến anh ấy,” anh độp lại, “nhưng còn con thì có.” Đấy là lần đầu tiên anh nói hỗn trước cha mình, và anh không thể cử động trong một lát, vừa sợ hãi lại vừa hưng phấn trước việc cha anh có thể phản ứng lại, rằng họ có thể sẽ có một trận cãi vã. Nhưng cha anh chỉ nhấp một ngụm cà phê và rồi quay người lại và đi vào nhà, cánh cửa đóng lại nhẹ nhàng sau lưng ông. 

        Phần còn lại của chuyến về thăm nhà của anh, tất cả bọn họ đều như họ vẫn là; họ tới ngồi với Hemming theo ca, và khi anh không có ở bệnh viện, Willem sẽ giúp mẹ làm sổ sách, hoặc là phụ giúp cha anh khi ông giám sát việc đóng móng ngựa. Vào các buổi tối anh quay trở lại bệnh viện và làm bài tập của trường. Anh đọc to tác phẩm Decameron[10] cho Hemming nghe, người cứ nhìn lên trần nhà và chớp mắt, và vật lộn với các phép tính của mình, mà anh cuối cùng cũng hoàn thành với một sự không vui vì chắc chắn rằng anh đã sai hết rồi. Ba người bọn họ đã quen với việc Jude làm công việc tính toán cho mình, giải quyết các vấn đề cũng nhanh chóng như khi y chơi hợp âm rải[11]. Vào năm học đầu tiên của họ, Willem thực sự muốn hiểu rõ về nó, và Jude đã ngồi cùng anh suốt một đêm với một dây đàn, giải thích đi giải thích lại, nhưng anh chẳng thể nào lĩnh hội được. 

        “Tôi quá đỗi ngu ngốc cho việc này,” anh nói sau một lần luyện tập có cảm giác như kéo dài hàng giờ, mà về cuối anh chỉ muốn được ra ngoài và chạy hàng dặm, anh cũng dễ nổi cáu khi mất kiên nhẫn và tuyệt vọng. 

        Jude cúi gằm mặt xuống. “Cậu không hề ngốc,” y nói, lặng lẽ. “Chẳng qua là tôi giảng chưa đủ hay.” Jude từng tham gia các buổi hội thảo về toán học thuần túy[12] mà tại đó anh phải được mời mới có thể tham dự; những người còn lại thậm chí còn không thể hiểu nổi, thực ra, y làm gì với cái môn đó.

        Hồi tưởng lại, anh thấy ngạc nhiên trước sự ngạc nhiên của chính mình khi mà mẹ gọi cho anh vào ba tháng sau đó để báo rằng Hemming đang được duy trì sự sống bằng thiết bị. Đó là vào cuối tháng Năm, và anh đang dở kỳ thi cuối cùng. “Đừng trở về,” mẹ bảo anh, ra lệnh cho anh, gần như là vậy. “Đừng, Willem.” Anh nói chuyện với cha mẹ mình bằng tiếng Thụy Điển, và cho tới tận nhiều năm sau này, khi mà một vị đạo diễn người Thụy Điển cùng làm việc với anh chỉ ra rằng chất giọng của anh thật vô cảm khi anh chuyển sang thứ ngôn ngữ khác, thì anh mới nhận ra rằng anh đã vô thức học theo ngữ điệu của cha mẹ mình, một chất giọng không có cảm xúc và lỗ mãng, mà điều đó có nghĩa là trở thành bản sao của họ.

        Suốt vài ngày sau đó anh cảm thấy bứt rứt, làm bài thi dở tệ: tiếng Pháp, so sánh ngôn ngữ, kịch dưới thời vua James[13], chuyện dân gian Iceland, các biến số đáng ghét cứ đua nhau xuất hiện cùng một lúc. Anh cãi nhau với bạn gái, người lớn tuổi hơn và đang làm tốt nghiệp. Nàng khóc; anh cảm thấy có lỗi nhưng cũng chẳng thể thay đổi tình hình. Anh nghĩ về Wyoming, về một cỗ máy đang thổi sự sống vào phổi của Hemming. Anh không nên quay lại ư? Anh đã quay lại rồi đấy thôi. Anh không thể ở lại lâu: vào ngày mười lăm tháng Sáu, anh và Jude chuyển tới một chỗ cho thuê lại ngoài khuôn viên trường học trong mùa hè — họ đều tìm được việc trong thành phố, Jude làm việc vào các ngày trong tuần như một thư ký của giáo sư văn học Hy-La[14] và vào cuối tuần tại tiệm bánh mà y làm việc trong suốt năm học, Willem làm trợ lý giảng viên cho một chương trình dành cho trẻ em khuyết tật — nhưng trước đó, bốn người bọn họ sẽ tới ở nhà của cha mẹ Malcolm ở Aquinnah, ở Vườn nho của Martha, sau đó Malcolm và JB sẽ lái xe về New York. Vào các buổi tối, anh gọi cho Hemming ở bệnh viện, bảo cha mẹ anh hoặc y tá đặt điện thoại bên tai anh ấy, và nói chuyện với anh mình, dù anh biết rằng anh ấy có thể không nghe được anh nói. Nhưng tại sao anh lại không thử cơ chứ? 

        Và rồi, vào một buổi sáng của tuần sau đó, mẹ anh gọi: Hemming đã chết. Anh chẳng thể nói được lời nào. Anh chẳng thể hỏi rằng tại sao bà lại không nói với anh về tình trạng nghiêm trọng của sự việc bởi vì một phần nào đó trong anh biết rằng bà sẽ không làm vậy. Anh chẳng thể nói rằng anh ước gì mình có mặt ở đó, bởi vì bà sẽ chẳng thể đáp lại lời anh. Anh chẳng thể hỏi bà cảm thấy ra sao, bởi vì bà có nói gì cũng đều không đủ. Anh những muốn hét to lên với cha mẹ mình, muốn đánh vào người họ, nhằm khơi ra từ họ một điều gì đó — một thứ gì đó hòa tan vào trong nỗi đau buồn, một sự mất mát từ trong sự điềm tĩnh, một sự nhận biết rằng có thứ gì đó to tát đã xảy ra, rằng trước cái chết của Hemming họ đã mất đi điều gì đó quan trọng và cần thiết với cuộc đời mình. Anh chẳng buồn quan tâm nếu họ thực sự cảm thấy như vậy hay không: anh chỉ cần họ nói ra điều đó, anh cần cảm thấy rằng có điều gì đó nằm bên dưới sự điềm tĩnh không chút nào bối rối của họ, rằng ở đâu đó trong lòng họ là một dòng chảy mỏng manh của thứ nước mát lành, róc rách, dồi dào với những sinh vật xinh đẹp, cá tuế và cỏ và những bông hoa trắng ngần bé xíu, tất thảy đều thật mềm mại và yếu ớt và thật mong manh đến độ anh chẳng thể nhìn thấy chúng nếu không mòn mỏi mong chờ chúng. 

        Rồi sau đó, anh đã không kể với các bạn mình về chuyện của Hemming. Họ tới nhà của Malcolm — một chốn xinh đẹp, là nơi đẹp nhất mà Willem từng được thấy, chứ đừng nói đến việc ở lại — và vào đêm muộn, khi những người khác đều đã ngủ, trên chiếc giường của riêng mình, trong căn phòng riêng với phòng tắm riêng biệt của mình (ngôi nhà rộng rãi như thế đó), anh lẻn ra ngoài và đi dạo qua những con phố bao quanh ngôi nhà trong hàng giờ, mặt trăng thật lớn và sáng như thể nó được tạo thành từ một thứ chất lỏng nào đó rồi được cô đặc lại. Trong chuyến đi bộ ấy, anh phải cố lắm mới không nghĩ về một điều gì cụ thể. Thay vì vậy, anh tập trung vào những thứ anh nhìn thấy trước mắt mình, chú ý trong đêm tối những gì đã lảng tránh anh vào lúc ban ngày: làm thế nào mà đất bụi lại mịn như là cát, và phồng lên như những cọng lông vũ khi anh giẫm chân lên đó, những con rắn mảnh như sợi chỉ có màu nâu của vỏ cây lặng lẽ quan sát từ bên dưới những bụi cây khi anh bước qua. Anh đi về phía đại dương và trên đầu anh mặt trăng biến mất, bị che khuất bởi những vụn mây, và trong một vài phút anh chỉ có thể nghe thấy âm thanh của nước mà không nhìn thấy được, và bầu trời nặng trĩu và ấm áp bởi độ ẩm, như thể không khí ở nơi này đặc hơn hẳn, đáng kể hơn hẳn. 

        Có lẽ chết là như thế đó, anh nghĩ, và nhận ra rằng rốt cuộc nó cũng chẳng tệ lắm và cảm thấy khá hơn. 

        Anh trông đợi rằng sẽ thật kinh khủng khi dành trọn mùa hè quanh những con người sẽ gợi anh nhớ về Hemming, nhưng thực ra điều đó thậm chí lại là dễ chịu, hữu ích. Lớp học của anh có bảy học viên, khoảng chừng tám tuổi, tất cả đều có sức khỏe rất yếu, không ai có thể hoạt động nhiều, và cho dù một phần trong ngày được dành ra để cố gắng dạy chúng về màu sắc và các hình dạng, hầu hết thời gian còn lại được dùng để chơi với chúng: đọc cho chúng nghe, đẩy chúng chạy vòng quanh sân, cù chúng bằng những chiếc lông vũ. Trong giờ nghỉ giải lao, tất cả các lớp học đều để cửa mở ra ngoài sân, và khoảng không gian đó đầy những đứa trẻ trên những chiếc xe lăn kỳ cục với những kiểu dáng khác nhau và những cái bình chậu và những phương tiện mà đôi khi nghe như thể nó được vận hành bởi những con côn trùng cơ khí, tất cả chúng đều rít lên và kêu vù vù và kêu lục cục trong cùng lúc. Có những đứa trẻ ngồi trên xe lăn, và những đứa trẻ ngồi trên những chiếc xe có bàn đạp động cơ nhỏ, gọn được đặt và di chuyển trên con đường lát đá với một tốc độ rùa bò, và lũ trẻ được buộc nằm bên trên những phiến gỗ dài và nhẵn mà giống như những tấm ván lướt đơn giản có bánh xe, và chúng đẩy những tấm ván này trên mặt đất bằng khuỷu tay mình, và một vài đứa không hề có ý định di chuyển, ngồi trong lòng của một nhân viên, gáy của chúng nằm gọn trong lòng bàn tay của họ. Đó là những đứa trẻ làm anh nhớ đến Hemming nhất. 

        Một số trẻ ngồi trên những chiếc xe có động cơ và ván trượt có thể nói, và anh sẽ ném, cực kỳ nhẹ nhàng, những quả bong bóng bọt xà phòng lớn vào chúng và tổ chức những cuộc đua vòng quanh sân. Anh sẽ luôn bắt đầu cuộc đua với vị trí dẫn đầu, nhảy cẫng lên với sự chậm chạp phóng đại (dù không phóng đại cho lắm để anh đại thể không tự biến mình thành một diễn viên hài; anh muốn chúng nghĩ rằng anh thực sự có cố gắng), nhưng vào một lúc nào đấy, thường là vòng thứ ba quanh sân, anh sẽ giả vờ như vấp phải thứ gì đó và ngã xuống, một cách đẹp mắt, mặt đất, và bọn trẻ sẽ vượt qua anh và cười nhạo. “Dậy đi nào, Willem, dậy thôi!” chúng kêu lên, và anh sẽ làm như vậy, nhưng khi ấy chúng đã về đến đích và anh là kẻ đứng bét. Đôi khi, anh tự hỏi, liệu chúng có thấy ghen tị với anh về cái khả năng vấp ngã và có thể đứng dậy rất khéo hay không, và nếu là như vậy, thì anh có nên dừng việc này lại hay không, nhưng khi anh hỏi ý kiến cấp trên của mình, ông chỉ nhìn Willem và nói rằng anh nên tiếp tục ngã. Và vì thế mà mỗi ngày anh đều ngã, và vào mỗi buổi chiều, khi anh cùng các học sinh của mình chờ đợi bố mẹ chúng đến đón, những đứa trẻ có thể nói sẽ hỏi anh rằng liệu ngày mai anh có ngã hay không. “Không đời nào,” anh trả lời đầy tự tin, và chúng thì cười khúc khích. “Mấy đứa đùa đấy à? Thế mấy đứa nghĩ anh hậu đậu lắm đấy hử?”

        Theo nhiều nghĩa, đó là một mùa hè tốt đẹp. Căn hộ của họ nằm gần MIT và thuộc về giáo sư dạy toán của Jude, người ở Leipzig vào mùa hè, và chỉ thu của họ một số tiền thuê nhà ít ỏi nên thành ra hai người thực hiện những sửa chữa nho nhỏ cho ngôi nhà nhằm bày tỏ lòng biết ơn của mình: Jude sắp xếp lại những cuốn sách được chất thành những chồng cao ngất lung lay, không chắc chắn ở khắp mọi nơi và chiếm trọn một phần của bức tường đã ngả màu vì thấm nước; Willem xiết lại nắm đấm cửa, thay thế một cái vòng đệm bị rò nước, thay phao trong hộp chứa nước của bồn cầu. Anh bắt đầu kết bạn với một trong những trợ giảng, một cô gái từng học tại Harvard, và có vài đêm cô ấy tới nhà họ và ba người sẽ làm một nồi mỳ ý nấu nghêu sốt rượu vang lớn và Jude sẽ kể cho họ nghe về những ngày đi theo giáo sư, người từng quyết định chỉ giao tiếp với Jude bằng tiếng La tinh hoặc tiếng Hi Lạp cổ, dù cho những chỉ đạo của ông là những điều như, “Tôi cần thêm kẹp bướm,” hay “Cậu nhớ cho thêm sữa đậu nành vào cốc cappuccino của tôi vào sáng mai nhé.” Vào tháng Tám, những người bạn và người quen của họ ở trường đại học (và từ Harvard, và MIT, và Wellesley, và Tufts) bắt đầu quay trở lại thành phố, và ở với họ trong một hay hai ngày cho tới khi có thể quay trở về căn hộ hoặc ký túc xá của mình. Vào một buổi tối gần cuối kỳ hạn thuê nhà của họ, họ mời năm mươi người tới sân thượng và giúp Malcolm làm một bữa tiệc hải sản nướng than hoa, phủ những khúc ngô và trai và sò bên dưới những chiếc lá chuối được làm làm ướt; vào sáng ngày hôm sau bốn người bọn họ hốt từng xẻng vỏ sò trên nền nhà, thích thú trước tiếng lạo xạo mà chúng gây nên khi bị đổ vào sọt rác.

        Nhưng đó cũng là mùa hè mà anh nhận ra rằng anh sẽ không trở về nhà nữa, rằng theo một nghĩa nào đó, khi thiếu vắng Hemming, chẳng có nghĩa lý gì mà anh và cha mẹ mình lại cần phải giả vờ như thể họ cần ở bên nhau. Anh ngờ rằng họ cũng cảm thấy như vậy; chưa bao giờ có một cuộc nói chuyện về chủ đề này, nhưng anh không cảm thấy cái nhu cầu cụ thể của việc cần gặp lại họ, và họ cũng chẳng yêu cầu điều đó từ anh. Họ vẫn nói chuyện với nhau vào lúc này hay lúc khác, và những câu chuyện, vẫn như mọi khi, lịch sự và thực tế và mang tính bổn phận. Anh hỏi họ về trang trại, họ hỏi anh về trường học. Vào năm cuối của anh tại trường đại học, anh có một vai trong vở kịch của trường The Glass Menagerie (Gánh xiếc thủy tinh) (anh vào vai một vị khách quý, dĩ nhiên rồi), nhưng anh không bao giờ nhắc tới điều này với họ, và khi anh nói với họ rằng họ không cần phải xuống miền đông để dự lễ tốt nghiệp của anh, họ cũng chẳng hề phản bác: dù sao khi ấy cũng đã gần đến cuối mùa nhân giống, và anh không chắc là liệu họ có thể tới dự nếu như anh không viện ra lý do nào đó. Anh và Jude đã được gia đình Malcolm và JB chào đón vào cuối tuần, và khi hai người bạn ấy không ở bên, còn có rất nhiều những người khác mời họ tham gia những bữa tiệc trưa và tiệc tối và các bữa ăn ngoài.

        “Nhưng họ là cha mẹ của cậu,” Malcolm nói với anh vào khoảng mỗi lần trong năm. “Cậu không thể thôi nói chuyện với họ như thế được.” Nhưng mà ta có thể, và ta toàn làm vậy: anh chính là minh chứng cho điều đó. Nó cũng giống như bất kỳ một mối quan hệ nào khác, anh cảm thấy – cần phải có sự chăm sóc liên tục, và cống hiến, và sự thận trọng, và nếu như mà không một bên nào muốn cố gắng, vậy thì tại sao nó lại không chết dần chết mòn cho được? Điều duy nhất mà anh thấy nhớ — ngoài Hemming ra — chính là vùng đất Wyoming, miền đồng bằng phì nhiêu, những tán cây xanh thẫm như mang một màu xanh dương, cái mùi ngọt và hôi của một con ngựa sau khi đã được kỳ cọ qua.

        Khi anh đang học cao học, thì họ qua đời, trong cùng một năm: cha anh lên cơn đau tim vào tháng Một, mẹ anh bị đột quỵ sau đó vào tháng Mười. Rồi anh về nhà – cha mẹ anh đã già đi, nhưng anh đã quên mất họ từng đầy sức sống, khỏe mạnh đến nhường nào, cho tới khi anh nhìn thấy họ trở nên tiều tụy ra sao. Họ để lại cho anh mọi thứ, nhưng sau khi anh đã thanh toán hết các khoản nợ của họ — và rồi anh một lần nữa lại phải bối rối, vì bấy lâu nay anh vẫn cứ đinh ninh rằng phần lớn tiền thuốc men và phí điều trị của Hemming được chi trả bởi bảo hiểm, nhưng hóa ra tận bốn năm sau cái chết của anh ấy, họ vẫn viết những tấm chi phiếu khổng lồ gửi tới bệnh viện mỗi tháng — chỉ còn lại rất ít: một chút tiền mặt, một vài trái phiếu; một chiếc cốc nặng bằng bạc của người ông đã mất từ lâu của anh; chiếc nhẫn cưới của cha anh, đã bị đeo mòn và sáng bóng lên; một bức hình đen trắng của Hemming và Aksel mà anh chưa từng trông thấy trước đó. Anh giữ lại những vật này, và thêm cả vài vật nữa. Người chủ đất thuê cha mẹ anh làm việc đã mất từ lâu, nhưng con trai của ông, người mà giờ đây sở hữu trang trại, vẫn luôn đối xử thật tốt với họ, và ông đã thuê họ suốt một thời gian dài, lâu hơn so với ông nghĩ, và ông cũng là người chi trả cho tang lễ của họ.

        Trước cái chết của họ, Willem có thể nhớ được rằng sau tất cả anh vẫn yêu họ, và rằng họ đã dạy anh những điều mà anh thấy trân trọng, và rằng họ không bao giờ đòi hỏi ở anh điều mà anh không thể thực hiện hoặc cung cấp được cho họ. Trong những thời điểm ít độ lượng hơn (những thời điểm chỉ vào vài năm trước đó), anh đã  quy cho sự mệt mỏi của họ, sự dễ dàng chấp nhận của họ trước bất cứ điều gì mà anh có thể hoặc không thể làm, là thờ ơ: có bậc cha mẹ nào, Malcolm từng hỏi anh, nửa ghen tị, nửa tỏ ra thương hại, lại không hề nói gì khi đứa con duy nhất của họ (cậu đã xin lỗi anh sau đó) bảo với họ rằng nó muốn trở thành diễn viên đây? Nhưng giờ đây, khi đã trưởng thành hơn, anh đã có thể thấy biết ơn rằng họ chưa từng bóng gió rằng anh có thể đã mắc nợ họ — không thành công, hay trung thành, hay yêu mến, hoặc thậm chí là lòng trung kiên. Cha anh, anh biết, từng vướng phải rắc rối ở Stockholm — anh không bao giờ biết được là chuyện gì — và điều đó đã thúc đẩy cha mẹ anh tới Mỹ. Họ chưa bao giờ yêu cầu anh phải giống như họ; họ hầu như còn chẳng muốn là chính mình.

        Và rồi anh bước vào thời kỳ trưởng thành của đời mình, ba năm vừa qua giống như là việc dập dềnh trôi từ bờ bên này sang bờ bên kia trong một cái ao tù, những tán cây phía trên đầu và xung quanh anh che khuất ánh sáng, khiến anh chẳng thể nào biết được cái hồ nơi anh ở có nối liền với một dòng sông hay là nó đã bị chặn lại, trong cái vũ trụ nhỏ bé của nó mà anh có thể dành ra nhiều năm, nhiều thập kỷ — cuộc đời anh — tìm kiếm một cách vụng về một lối ra không tồn tại, chưa từng tồn tại.

        Nếu như anh có một người đại diện, một ai đó hướng dẫn cho anh, cô ấy có thể chỉ cho anh thấy cách để thoát ra, cách để tìm đường cho mình ở hạ lưu. Nhưng anh không có, vẫn chưa (anh đủ lạc quan để nghĩ rằng đó vẫn là một chữ “chưa”), và rồi anh bị bỏ lại phía sau những người tìm kiếm khác, tất cả bọn họ đều tìm kiếm cùng một cái phụ lưu khó lòng mà gặp được, mà từ đó chỉ có rất ít người mới có thể rời khỏi cái hồ và rồi chẳng một ai còn muốn quay trở lại

        Anh sẵn lòng chờ đợi. Anh đã đợi. Nhưng gần đây, anh có thể cảm thấy sự kiên nhẫn của mình đã chuyển thành một thứ gì đó vỡ vụn và tơi tả, sứt mẻ thành những mảnh nhỏ khô khốc.

        Dẫu vậy — anh không phải là một người hay lo lắng, anh không hề thiên về sự tự thương hại mình. Thay vì vậy, có những lúc mà, khi trở về từ Ortolan hay từ một buổi diễn tập của một vở kịch mà anh chẳng được trả lương nhiều hơn so với một tuần làm việc, ít ỏi đến nỗi anh chẳng thể thanh toán một món ăn có giá cố định tại nhà hàng, anh sẽ bước vào căn hộ của mình với cảm giác về sự hoàn thành. Chỉ đối với anh và Jude mà phố Lispenard được xem là thành tựu — vì rất nhiều điều mà anh đã làm với ngôi nhà, và vì Jude đã lau dọn nó nhiều lần, nó vẫn nom thật buồn, theo một nghĩa nào đó, và lén lút, như thể nơi đó thật đáng xấu hổ để tự gọi nó là một căn hộ thật sự — nhưng trong những khoảnh khắc đó đôi khi anh nhận thấy bản thân mình đang suy nghĩ, Thế là đủ rồi. Điều này nhiều hơn cả những gì mình từng hi vọng. Để ở lại New York, để trở thành một người trưởng thành, để đứng trên một sân khấu và diễn tác phẩm của người khác! — đó là một cuộc sống phi lý, một thứ không-phải-cuộc đời, một cuộc đời mà cha mẹ anh và cả anh trai anh nữa chưa từng mơ tới, và là điều mà anh vẫn mơ tới mỗi ngày.

        Nhưng rồi cảm giác ấy sẽ tan biến, và anh sẽ cảm thấy bị bỏ rơi khi xem mục nghệ thuật trên báo, và đọc về những người khác đang làm những phần việc mà anh còn chưa từng được trải nghiệm, sự kiêu ngạo của sức tưởng tượng để mà mơ đến, và trong những giờ phút ấy thế giới dường như vô cùng rộng lớn, và cái hồ thì vắng tanh, và đêm thì đen tối, và anh thì ước gì mình được quay trở về với Wyoming, đợi chờ Hemming ở cuối con đường, nơi mà con đường duy nhất anh phải đi là con đường trở về ngôi nhà của cha mẹ anh, nơi mà chiếc đèn bên hiên nhà xua đi đêm tối với thứ ánh sáng ấm áp màu mật ong.

 

***

[1] Edna St. Vincent Millay (22/2/1892 – 19/10/1950) – nữ nhà thơ Mỹ, là người phụ nữ đầu tiên được trao tặng giải Pulitzer.

[2] Langston Hughes (1/2/1902 – 22/5/1967) là một nhà thơ, nhà văn, nhà viết kịch Mỹ.

 

[3] Thomson William “Thom” Gunn (29/8/ 1929 – 25/4/ 2004), là nhà thơ người Anh, được biết đến với những tác phẩm ông viết ở thời kỳ đầu sự nghiệp và cả các tác phẩm thơ về sau này khi ông đã chuyển tới Mỹ, theo đuổi phong cách thơ tự do. Sau khi chuyển từ Anh tới San Francisco, Gunn viết về các mối quan hệ đồng tính nam —tác phẩm nổi tiếng nhất của ông có tên The Man With Night Sweats được viết vào năm 1992 — cũng như là viêc sử dụng ma túy, tình dục và phong cách sống tự do phóng túng của mình. Ông đã giành được rất nhiều giải thưởng văn học.

[4] Felliniesque: ám chỉ pha trộn giữ thực tại và tưởng tượng như những tác phẩm điện ảnh của Federico Fellini (một nhà sản xuất và đạo diễn phim người Ý, phim của ông thường kết hợp ký ức, những giấc mơ và tưởng tượng)

[5] hard-core: loại nhạc rock có nhịp nhanh

[6] Smegma Cake: (tạm dịch) Bánh bựa sinh dục

[7] Ska là một thể loại nhạc có nguồn gốc ở Jamaica vào cuối những năm 1950 và là tiền thân của Rocksteady và reggae. Ska kết hợp các yếu tố của mento và calypso Caribbe với jazz và rhythm and blues Mỹ. Ska phát triển ở Jamaica vào những năm 1960 khi Prince Buster, Clement “Coxsone” Dodd, và Duke Reid bắt đầu thu âm bài hát. Trong những năm đầu thập niên 1960, ska là thể loại âm nhạc thống trị của Jamaica và đã được phổ biến ở nước Anh. Sau đó nó trở nên phổ biến với những người cạo đầu trọc.

 

[8] Minuet là một điệu nhảy có nguồn gốc từ Pháp ở nhịp 3/4. Điệu nhảy phổ biến ở Pháp từ thế kỷ 17, điệu nhảy lần đầu được giới thiệu trong opera bởi Jean-Baptiste Lully. Vào cuối thế kỷ 17, minuet đã được soạn cho các tổ khúc, đôi khi được viết ở nhịp 3/8 hoặc 6/8.

 

[9] nguyên văn: off-off-Broadway – chỉ các tác phẩm sân khấu ở thành phố New York bắt đầu như là một phần của phong trào kịch nghệ và thử nghiệm phi lợi nhuận và tiên phong. Các nhà hát Off-Off-Broadway nhỏ hơn các nhà hát Broadway và Off-Broadway (loại nhà hát không chuyên, có tính chất thí nghiệm), và thường có ít hơn 100 chỗ ngồi, mặc dù thuật ngữ này đôi khi được áp dụng cho bất kỳ chương trình nghệ thuật nào trong khu vực Thành phố New York. Off-off-Broadway sử dụng các diễn viên thuộc liên đoàn diễn viên nhưng không có hợp đồng Off-Broadway, Broadway hoặc League of Resident Theatres. Hình thức diễn này cũng thường được sử như trong các chương trình nghệ thuật thuê diễn viên không thuộc liên đoàn.

 

[10] Mười ngày (tiếng Ý: Decameron hoặc Decamerone) là một trong những tác phẩm nổi tiếng nhất của nhà văn Ý Giovanni Boccaccio. Tác phẩm này gồm 100 câu chuyện do 3 chàng kị sĩ trẻ và 7 cô gái kể cho nhau nghe để đỡ buồn trong 10 ngày về sống tại một ngôi nhà ở nông thôn để tránh nạn dịch hạch xảy ra ở Phirenxê năm 1348. Bằng lối văn châm biếm dí dỏm, các câu chuyện ấy hoặc là kể lại những truyện trong thần thoại và truyền thuyết, hoặc là những câu chuyện phương Đông, nhưng nhiều nhất là những câu chuyện khai thác trong xã hội đương thời, trong đó đề cập đến nhiều đối tượng như lái buôn, tu sĩ, giáo sĩ, quý tộc…  “Mười ngày” của Boccacio là một tác phẩm có tính chất vạch trần thời đại trong lịch sử văn học châu Âu.

[11] hợp âm rải hay arpeggio (thuật ngữ tiếng Ý trong âm nhạc): một hợp âm với những nốt được chơi liên tiếp, thay vì cùng một lúc

[12] Toán học thuần túy (pure math): là toán học nghiên cứu các khái niệm hoàn toàn trừu tượng. Đây là một loại hoạt động toán học có thể nhận biết được từ thế kỷ 19 trở đi, trái ngược với xu hướng đáp ứng nhu cầu định vị, thiên văn học, vật lý, kinh tế, kỹ thuật,…

Quan điểm khác là toán học thuần túy không phải là toán học ứng dụng: có thể nghiên cứu các thực thể trừu tượng về bản chất nội tại của chúng và không quan tâm đến cách thức chúng thể hiện trong thế giới thực. Mặc dù các quan điểm thuần túy và áp dụng là các vị trí triết học riêng biệt, trong thực tế có nhiều sự trùng lặp trong hoạt động của các nhà toán học thuần túy và áp dụng. Để phát triển các mô hình chính xác để mô tả thế giới thực, nhiều nhà toán học áp dụng các công cụ và kỹ thuật thường được coi là toán học “thuần túy”. Mặt khác, nhiều nhà toán học thuần túy rút ra những hiện tượng tự nhiên và xã hội như là nguồn cảm hứng cho nghiên cứu trừu tượng của họ.

 

[13] James VI và I (19/6/1566 – 27/3/1625) là vua Scotland với vương hiệu là James VI, và là vua Anh và vua Ireland với vương hiệu là James I. Trong những năm 1580 – 1590, James ban hành nhiều chính sách để phát triển văn học trên đất nước của ông. Luận thuyết của ông, Some Rules and Cautions to be Observed and Eschewed in Scottish Prosody, xuất bản năm 1584 khi ông 18 tuổi, được đánh giá vừa thơ mộng và vừa mô tả truyền thống thơ bằng tiếng mẹ đẻ của mình, Scotland, áp dụng nguyên tắc Renaissance. Ông cũng đã ban hành luật định để cải cách và thúc đẩy việc giảng dạy âm nhạc. Ông vừa là người bảo trợ và người đứng đầu của vòng tròn lỏng lẻo của Scotland, thơ văn và âm nhạc Jacobean. Các nhạc sĩ, trong đó bao gồm William Fowler và Alexander Montgomerie, sau này được đồn là những người tình đồng giới của nhà vua.

[14] văn học Hi-La: tên gọi chung cho nền văn học cổ đại Hi Lạp và La Mã vì sự giao thoa của hai nền văn minh này.