d9db63df7a9d7b4590bb10e86d01cf32

 

 

CHƯƠNG 2

     

 

            VÀO NĂM GIỜ CHIỀU mỗi ngày trong tuần và mười một giờ trưa mỗi cuối tuần, JB lại bước lên tàu điện ngầm và đi thẳng đến studio của mình ở Long Island City. Chuyến đi của những ngày trong tuần là điều khiến hắn yêu thích: Hắn đáp tàu tại trạm Canal và nhìn đoàn tàu chất đầy và trống không ở mỗi điểm dừng với một sự pha trộn luôn luôn thay đổi về những con người và nền văn hóa, cư dân trên chuyến tàu tự tái tổ chức lại cứ sau mỗi mười khu nhà hoặc tương đương trong một sự hợp thành đầy khiêu khích hoặc không thực của người Ba Lan, Trung Quốc, Hàn Quốc, Senegal; Senegal, Dominica, Ấn Độ, Pakistan; Pakistan, Ai-len, Salvador, Mexico; Mexico, Sri Lanka, Nigeria, và Tây Tạng – điều duy nhất liên kết họ lại với nhau nằm ở sự mới mẻ của họ trước nước Mỹ và biểu cảm mang tính cá nhân của họ về sự mệt mỏi, cái sự pha trộn của sự quyết tâm và cam chịu mà chỉ ở những người nhập cư mới có. 

        Trong những thời điểm ấy, hắn vừa cảm thấy biết ơn vì sự may mắn của bản thân vừa thấy yêu thành phố của mình, mà không một điều nào trong số đó hắn cảm thấy thường xuyên. Hắn không phải là người thích tôn vinh vẻ đẹp huy hoàng của thành phố mình đang sống, và hắn vẫn thường chế nhạo những người hay làm vậy. Nhưng mà hắn ngưỡng mộ – làm sao mà anh lại không như vậy được? – tổng khối lượng công việc, sự lao động thực sự, mà những người bạn đi chung tàu với hắn đã hoàn thành trong ngày. Tuy nhiên thay vì thấy hổ thẹn trước sự biếng nhác của bản thân, hắn lại cảm thấy yên lòng. 

        Người duy nhất mà hắn cùng đề cập đến chuyện này, dù cho có giản lược đến đâu, là Henry Young châu Á. Họ cùng đáp tàu đến Long Island City — thực ra, chính Henry là người kiếm cho hắn một chỗ ở studio — khi một người đàn ông Trung quốc, gầy gò và gân guốc và xách theo một chiếc túi ni-lông màu đỏ nặng trĩu bằng ngón tay giữa, như thể anh ta không còn sức lực hoặc không buồn mang cái túi nữa, bước lên tàu và ngồi sụp xuống chiếc ghế bên cạnh họ, vắt chân và khoanh tay và ngủ ngay lập tức. Henry, người mà hắn biết từ hồi trung học và, cũng như hắn, là một cậu nhóc giành được học bổng, và là con trai của người thợ may trong khu phố Tàu, nhìn JB và nhăn nhó, “Vì những ân điển của Chúa,” và JB ngay lập tức hiểu ra sự pha trộn đặc biệt của cảm giác tội lỗi và mãn nguyện trong lòng mình. 

        Một khía cạnh khác khiến cho hắn yêu thích chuyến đi vào mỗi tối trong tuần là bản thân ánh sáng, cái cách mà nó tỏa ra khắp con tàu như một sinh vật sống khi đoàn tàu chạy rầm rầm trên cây cầu, cái cách mà nó xua tan đi sự mệt mỏi trên khuôn mặt của những người bạn đi tàu của hắn và bộc lộ họ như là họ vẫn là những con người khi lần đầu họ đặt chân tới đất nước này, khi mà họ còn trẻ và nước Mỹ dường như là có thể chinh phục được. Hắn nhìn thứ ánh sáng ấy tràn ngập khoang tàu như một thứ nước mật đường, nhìn nó làm nhòe đi những vết nhăn trên trán, biến những mái tóc hoa râm bóng mượt thành màu vàng, làm dịu sự sáng lóa của chất vải quần áo rẻ tiền thành một thứ gì đó rực rỡ và xinh đẹp. Và rồi mặt trời sẽ trôi dạt đi, đoàn tàu xập xình vô tâm rời xa nó, và thế gian sẽ quay trở về với những hình dạng và sắc màu thông thường buồn bã, những con người quay trở về với trạng thái buồn bã thông thường của họ, một sự thay đổi tàn nhẫn và đột ngột như thể nó được thực hiện bởi chiếc đũa thần của thầy phủ thủy.

        Hắn thích giả vờ như thể hắn là một người trong số họ, nhưng hắn biết rằng không phải vậy. Đôi khi có cả những người Haiti trên tàu nữa, và — đôi tai hắn, bỗng nhiên thính như tai loài sói, phân biệt những tiếng rì rầm quanh mình với chất giọng lè nhè, như đang hát của người da đen lai — nhận ra hắn đang nhìn về phía họ, về phía hai người đàn ông có khuôn mặt tròn giống như của cha mình, hay hai người đàn bà với chiếc mũi hếch giống như của mẹ mình. Hắn vẫn luôn hi vọng rằng hắn sẽ có một lý do nào đó để được nói chuyện cùng với họ — có thể họ sẽ tranh luận về đường đi tới một nơi nào đó, và hắn có thể xen vào câu chuyện của họ và đưa ra câu trả lời — nhưng chuyện đó chưa bao giờ xảy ra. Đôi khi họ sẽ đưa mắt nhìn khắp các chỗ ngồi, vẫn nói chuyện cùng nhau, và hắn sẽ trở nên hồi hộp, sẵn sàng nở một nụ cười, nhưng họ dường như chẳng bao giờ nhận ra hắn là một người trong số họ.

        Và hắn không phải là vậy, dĩ nhiên rồi. Thậm chí hắn còn biết rằng hắn có nhiều điểm chung với Henry Young châu Á, với Malcolm, với Willem, hoặc thậm chí là với cả Jude hơn là với họ. Cứ nhìn hắn mà xem: tại Court Square hắn xuống tàu và đi bộ qua ba khu nhà để tới một nhà máy đóng chai cũ mà giờ đây là nơi hắn chia sẻ không gian làm việc cùng với ba người khác. Liệu những người Haiti chính gốc kia có một cái studio hay không? Liệu có bao giờ những người Haiti chân chính này rời khỏi căn hộ rộng lớn được thuê với giá như cho của họ, nơi mà họ có thể về mặt lý thuyết cắt ra một góc nhà để mà sơn và vẽ, chỉ để bước lên một chuyến tàu điện ngầm và di chuyển trong vòng nửa tiếng (hãy nghĩ đến điều có bao nhiêu việc có thể hoàn thành trong vòng nửa tiếng ấy!) để tới một nơi bẩn thỉu chứa chan ánh nắng hay không? Không, dĩ nhiên là không rồi. Để hình thành nên một thứ xa xỉ nhường ấy, anh cần phải có một tâm hồn Mỹ.

        Căn gác xép, nằm ở tầng ba và có thể tới được đó bằng một cái cầu thang sắt và mỗi khi anh bước chân lên đó nó sẽ kêu lên như tiếng chuông cửa, có tường màu trắng và sàn nhà trắng, mặc dù sàn nhà đã bị vỡ vụn ở một số chỗ khiến nó trông như một tấm thảm trải sàn tả tơi, cũ rích. Những ô cửa sổ hai cánh kiểu cũ ở trên mỗi mặt tường, và có ít nhất bốn cái trong số chúng được giữ sạch sẽ — mỗi một người thuê được phân cho một bức tường như là trách nhiệm quản lý của mình — bởi vì ánh sáng ở đây quá tốt để có thể lãng phí cho bụi bẩn và thật ra đó là điểm nổi bật nhất của căn nhà. Có một phòng tắm (tệ hết chỗ nói) và một gian bếp (đỡ tệ hơn một chút) và, nằm ngay giữa căn gác xép, là chiếc bàn có mặt bàn làm bằng phiến đá hoa cương lớn được đặt trên ba chiếc giá cưa. Đây là không gian chung, mà bất kỳ ai cũng có thể sử dụng để thực hiện những dự án cần phải có thêm không gian, và sau nhiều tháng mặt đá đã được phủ những vệt màu tím tử đinh hương và màu vàng cúc vạn thọ với những chấm đỏ ca-đi-mi tuyệt đẹp. Hôm nay chiếc bàn được phủ bằng những mảnh lụa ni lông nhiều màu sắc được nhuộm bằng tay, rủ xuống nơi cuối bàn và được giữ lại bằng những cuốn sách bìa mềm, phần đầu của chúng rung rinh trong làn gió thoảng phát ra từ chiếc quạt trần. Một tấm bìa được đặt ở giữa bàn, ghi: ĐANG CHỜ KHÔ. ĐỪNG DI CHUYỂN. SẼ DỌN SẠCH VÀO CHIỀU MAI. CẢM ƠN. H.Y.

        Dù không có tường ngăn cách không gian, nhưng cả căn hộ rộng năm trăm phút vuông được chia thành bốn phần như nhau bằng những dải băng dính, những đường kẻ màu xanh phân ranh giới không chỉ trên nền nhà mà còn trên cả những bức tường và phần trần nhà phía trên đầu của các nghệ sĩ nữa. Mỗi người đều chú ý đến việc tôn trọng lãnh thổ của người khác; anh giả vờ như thể anh không nghe thấy những gì diễn ra ở phần tư góc vuông của người khác, kể cả khi anh ta đang rít lên với người yêu mình qua điện thoại và anh có thể nghe thấy rõ ràng những từ cuối cùng, và khi mà anh muốn bước qua khoảng không gian của ai đó, anh sẽ dừng lại trước dải băng dính màu xanh và gọi tên người đó một lần, thật khẽ, và chỉ khi anh nhận thấy người ấy không quá mức tập trung, anh mới xin phép được bước qua. 

        Vào năm giờ rưỡi, ánh sáng ở vào độ hoàn hảo: giống như bơ và đặc quánh và béo ngậy, tràn ngập căn phòng như thể nó được gắn kết với một thứ gì đó rộng mở và đầy hi vọng. Hắn là người duy nhất có mặt ở đó. Richard, người làm việc ở phần không gian ngay bên cạnh hắn, phục vụ ở quầy bar vào buổi tối và sẽ đến studio vào các buổi sáng, cũng giống như Ali, người làm việc ở phía đối diện hắn. Còn lại là Henry, người sử dụng khoảng không gian ở hướng chéo với hắn và thường có mặt lúc bẩy giờ, sau khi anh ấy xong việc ở phòng trưng bày tranh. Hắn cởi áo khoác, và ném nó vào trong góc, dỡ tấm vải phủ bức tranh sơn dầu ra, và ngồi xuống chiếc ghế đẩu ngay phía trước nó, thở dài. 

        Đây là tháng thứ năm của JB ở studio này, và hắn yêu nó, yêu hơn so với những gì hắn nghĩ. Hắn thấy thích cái thực tế rằng những người bạn chung studio với mình đều là những nghệ sĩ thực thụ, nghiêm túc; hắn chưa bao giờ có thể làm việc ở chỗ của Ezra, không chỉ bởi vì hắn tin vào điều mà thầy của mình từng nói với hắn — rằng anh không nên vẽ ở nơi mà anh làm tình — mà bởi vì làm việc ở chỗ của Ezra sẽ luôn bị bủa vây và quấy rầy bởi những kẻ nghiệp dư. Ở đó, nghệ thuật chỉ là một thứ điểm tô cho một phong cách sống. Anh vẽ tranh hay điêu khắc hay tạo ra những tác phẩm sắp đặt dở ẹc bởi vì nó phù hợp với một chiếc tủ chứa những chiếc áo thun bạc mầu và những chiếc quần jeans bẩn thỉu và thứ bia rẻ tiền đáng mỉa mai của Mỹ và thứ thuốc lá cuộn đắt đến mỉa mai của Mỹ. Tuy nhiên, ở đây anh tạo ra nghệ thuật bởi vì đó là thứ duy nhất mà anh có khả năng làm tốt, thứ duy nhất, thực sự vậy, mà anh suy nghĩ tới giữa những đợt bùng nổ ngắn ngủi của những suy nghĩ về những điều mà những người khác vẫn thường nghĩ đến: tình dục và thức ăn và ngủ nghê và bạn bè và tiền bạc và danh vọng. Nhưng đâu đó trong tâm mình, dù là anh đang ôm ấp một ai đó bên quầy bar hay dùng bữa tối với vài người bạn, sẽ luôn là bức tranh sơn dầu của anh, những hình dạng và những khả năng cấu thành một bức tranh nổi trôi trong mống mắt anh. Có một thời điểm — hay ít nhất là anh mong như vậy — với mỗi một bức tranh hay một dự án khi mà cuộc đời của bức tranh ấy trở nên chân thật với anh hơn cả cuộc sống thường nhật của anh nữa, khi mà anh đang ngồi ở bất cứ nơi đâu và chỉ nghĩ đến việc được quay trở lại studio, khi mà anh lơ đãng đổ cả đống muối lên mặt bàn và anh phác thảo ra sơ đồ và các hình mẫu và các kế hoạch, những hạt nhỏ màu trắng di chuyển dưới đầu ngón tay anh cứ như là phù sa. 

        Hắn cũng thích cả cái nét đặc trưng và sự thân thiện đến không ngờ của chốn này. Có những lúc vào cuối tuần khi mà mọi người cùng tới đây một lúc, và tại những thời điểm đó, hắn sẽ trở về từ lớp sương mù của việc vẽ bức tranh của mình và cảm thấy tất cả bọn họ đều đang hít thở theo cùng một nhịp điệu, gần như là hổn hển, từ nỗ lực của sự tập trung. Rồi, hắn có thể cảm thấy, thứ năng lượng tập thể mà họ sử dụng tràn ngập không gian như là khí ga, bén lửa và ngọt ngào, và sẽ ước rằng hắn có thể đóng chai nó lại để lấy ra sử dụng cho những khi không còn cảm hứng, cho những ngày mà hắn ngồi đó trước bức tranh sơn dầu trong nhiều giờ liền, như thể nếu hắn nhìn vào đó đủ lâu, nó sẽ nổ tung thành một thứ gì đó sáng chói và tràn đầy cảm xúc. Hắn thích cái nghi lễ của việc chờ đợi bên mép dải băng dính màu xanh và hắng giọng về phía Richard, và rồi bước qua lằn ranh để ngắm nhìn tác phẩm của anh ấy, hai người bọn họ yên lặng đứng đó, chỉ cần trao đổi với nhau có vài từ mà vẫn hiểu rõ người kia muốn nói gì. Khi mà anh phải dành quá nhiều thời gian để giải thích về bản thân, về tác phẩm của mình, với những người khác — nó có nghĩa là gì, anh đang cố gắng đạt tới điều gì, tại sao anh lại chọn những màu sắc và chất liệu và vật liệu của đề tài và phương pháp và kỹ thuật mà anh có — thì đó là một sự nhẹ nhõm khi đơn giản được ở bên một người mà anh không cần phải giải thích gì cả: anh chỉ việc nhìn và nhìn, và khi anh đặt ra những câu hỏi, họ thường trả lời thẳng thắn và mang tính chuyên môn và không hề vòng vo. Anh có thể bàn đến máy móc, hay thuật hàn chì: một vấn đề vừa mang tính cơ khí lại vừa thẳng thắn, mà tại đó chỉ có một hoặc hai câu trả lời khả thi. 

                   

        Họ đều làm việc trên những chất liệu khác nhau, nên không có sự cạnh tranh nào cả, không cần phải sợ hãi về việc một nghệ sĩ Video art[1] tìm thấy người đại diện trước bạn chung studio với anh, và ít lo sợ hơn về việc người phụ trách nhà bảo tàng sẽ xuất hiện và nhìn vào tác phẩm của anh và thích mê tác phẩm của người khác. Và còn — và điều này mới thực quan trọng — hắn cũng tôn trọng tác phẩm của những người khác nữa. Henry tạo ra thứ mà hắn gọi là nghệ thuật điêu khắc giải cấu trúc, đó là nghệ thuật sắp đặt những bông hoa và cành cây được làm từ các loại vải lụa khác nhau theo một cách kỳ lạ và tinh vi. Sau khi hoàn thành công việc, anh sẽ gỡ bỏ trụ ốp bằng dây thép mỏng, để cho tác phẩm điêu khắc ấy tự rơi xuống đất như một vật được ép mỏng và hiện ra như một khối trừu tượng của những sắc màu — chỉ mình Henry biết nó nom ra sao dưới dạng vật thể không gian ba chiều. 

        Ali là một nhiếp ảnh gia đang thực hiện một dự án mang tên “Lịch sử của người châu Á trên đất Mỹ,” mà tại đó mỗi bức ảnh anh chụp giới thiệu một thập kỷ của người châu Á ở Mỹ kể từ năm 1890. Với mỗi bức ảnh, anh tạo nên một cảnh tầm sâu miêu tả một sự kiện lịch sử hoặc chủ đề trong một chiếc hộp gỗ thông có diện tích ba phút vuông mà Richard đã đóng cho anh, và anh đặt vào đó những hình người nhỏ xíu bằng nhựa được mua ở cửa hàng bán đồ thủ công và sơn màu lên chúng, và những cái cây và những con đường mà anh nặn ra từ đất sét, và phần phông nền được anh tạo ra với một cây cọ mà phần lông cọ có chất lượng tốt đến mức có thể lấy làm lông mi giả. Rồi sau đó anh sẽ chụp lại bức tranh 3D này và in ra. Trong số bốn người bọn họ, chỉ có Ali là có tác phẩm được trưng bày, và anh đã có một cuộc triển lãm trong vòng bảy tháng trước mà ba người còn lại biết rằng không bao giờ nên hỏi tới bởi vì bất kỳ một sự gợi nhớ nào đều sẽ khiến anh kêu lên với một sự lo lắng bất an. Ali không thực hiện các tác phẩm theo thứ tự thời gian — anh đã làm về những năm hai nghìn (một bản minh họa về khu Broadway có sự hiện diện của một vài cặp đôi, tất cả trong số đó đều là đàn ông da trắng và, đi ngay phía sau họ, là những người đàn bà châu Á), và thập niên một chín tám mươi (một người đàn ông gốc Hoa nhỏ xíu bị đánh đập đau đớn bởi hai gã côn đồ da trắng nhỏ xíu, phần đáy của chiếc hộp gỗ được đánh bóng bằng véc-ni để mô phỏng sàn bãi đỗ xe lênh láng nước mưa), và gần đây anh đang làm về những năm một chín bốn mươi, với hình ảnh năm mươi người đàn ông, đàn bà, và trẻ em là những tù binh ở trại Tule Lake[2]. Tác phẩm của Ali là tỉ mẩn nhất trong số bọn họ, và đôi khi, khi họ dừng công việc, họ sẽ ghé sang khu vực của Ali và ngồi xuống bên cạnh anh, và Ali, hiếm khi ngẩng đầu lên khỏi chiếc kính lúp giữ một hình nộm cao ba in-sơ mà anh đang tô màu cho chiếc váy vải chéo chữ chi và đôi giày Oxford, sẽ đưa cho họ nắm bùi nhùi kim loại mà anh cần xé nhỏ ra để tạo thành đám cỏ lăn, hoặc một vài sợi vải dệt mà anh nhấn nhá với những nút thắt nhỏ nên nó sẽ trông giống như dây thép gai.

        Nhưng tác phẩm của Richard mới là thứ mà JB ngưỡng mộ hơn hết thảy. Anh ấy cũng là một nhà điêu khắc, nhưng anh chỉ làm việc trên chất liệu chóng hỏng. Anh sẽ vẽ trên giấy nháp những hình dạng không tưởng, và rồi tạo ra chúng bằng nước đá, bơ, sô-cô-la, mỡ lợn, rồi quay phim chúng khi chúng tan ra. Anh thấy vui sướng khi chứng kiến cái sự tan rã ấy nơi những tác phẩm của mình, nhưng còn JB, khi nhìn thấy tác phẩm khổng lồ, cao tám phút vào tháng trước của Richard — một cánh buồm bằng nước nho đóng băng đổ sụp xuống như là thứ máu đông — nhỏ giọt và rồi sụp đổ trong cái chết của nó, hắn nhận ra mình suýt khóc, dù đó là vì sự phá hủy của một thứ gì đó thật đẹp hay chỉ là nhận thức sâu sắc về sự ra đi trong đời sống thường ngày, hắn không nói rõ được. Hiện giờ Richard ít thấy hứng thú hơn với những chất liệu tan chảy và quan tâm hơn đến những chất liệu thu hút những loài thiêu thân; anh đặc biệt thấy thích thú trước lũ bướm đêm, mà rõ ràng là thích mật ong. Anh mường tượng, anh kể với JB, về một tâc phẩm điêu khắc mà bề mặt của nó phủ kín với những con bướm đêm đến mức khiến ta không thể thấy được hình dạng của thứ mà chúng đang ăn ngấu nghiến. Khung cửa sổ của anh giăng đầy những lọ mật ong, với những sáp ong nổi lềnh phềnh như những bào thai được ngâm trong chất phoóc môn.

        JB là nghệ sĩ duy nhất theo phong cách truyền thống trong số họ. Hắn vẽ. Tệ hơn cả, hắn là một họa sĩ vẽ tranh hiện thực[3]. Hồi hắn còn học cao học, không một ai thực sự quan tâm đến lối vẽ tranh hiện thực có hình thể: bất kỳ thứ gì — video nghệ thuật, nghệ thuật trình diễn[4], nhiếp ảnh — đều hấp dẫn hơn so với việc vẽ tranh, và thực sự thì bất kỳ thứ gì cũng tốt hơn lối vẽ hiện thực có hình thể. “Sự việc vốn là như vậy kể từ những năm một chín năm mươi,” một vị giáo sư của hắn đã thở dài nói vậy khi JB than thở với ông. “Em có biết câu khẩu hiệu dành cho lính thủy đánh bộ là gì không? ‘Càng ít, càng dũng cảm… ‘? Đó chính là chúng ta, những kẻ thua cuộc cô đơn.”

        Không phải là, qua nhiều năm, hắn không cố thử nghiệm trên những thứ khác, những chất liệu khác (cái dự án tóc ngu ngốc, giả tạo, bắt nguồn từ Meret Oppenheim[5] ấy! Liệu hắn có thể thực hiện điều gì rẻ mạt hơn thế nữa không? Hắn và Malcolm đã tranh cãi với nhau một trận ra trò, một trong những trận cãi vã lớn nhất của họ, khi mà Malcolm gọi các tác phẩm này là “thế phẩm của Lorna Simpson[6],” và dĩ nhiên điều tồi tệ nhất chính là Malcolm đã hoàn toàn đúng), nhưng dù cho hắn chưa từng thừa nhận với ai rằng hắn cảm thấy có thứ gì đó gần như là lỗi thời, gần như là thích hợp với phụ nữ hơn và dù ở bất kỳ khía cạnh nào đều chắc chắn không hề lỗ mãng, về việc là một họa sĩ vẽ tranh hiện thực, gần đây hắn đã chấp nhận rằng đó chính là con người mình: hắn yêu việc vẽ vời, và hắn yêu việc vẽ chân dung, và đó là điều mà hắn sẽ thực hiện. 

        Vậy thì: Rồi sao nào? Hắn từng biết những người — hắn biết những người — những người mà, nói thẳng ra, là những nghệ sĩ hơn hẳn hắn. Họ là những người vẽ đẹp hơn hắn, họ có cảm giác tốt hơn về bố cục và màu sắc, họ có kỷ luật hơn. Nhưng họ lại không có được ý tưởng. Một người nghệ sĩ, dù là nhà văn hay nhạc sĩ, đều cần đến chủ đề, cần tới ý tưởng. Và suốt một thời gian dài, hắn đơn giản không có được một điều gì hết cả. Hắn chỉ cố vẽ người da đen, nhưng có quá nhiều người đã vẽ người da đen, và hắn cảm thấy rằng mình chẳng thể thêm được vào đó một sự mới mẻ nào hết. Cũng có một thời gian hắn từng vẽ về những con người đang khẩn trương làm việc, nhưng cả điều đó nữa cũng sớm trở nên buồn chán. Hắn vẽ về những người phụ nữ họ hàng, nhưng hắn nhận ra mình lại quay trở về với đề tài người da đen. Hắn bắt đầu vẽ một loạt các cảnh trong cuốn sách Tintin, với những nhân vật được miêu tả chân thực, giống như người thật, nhưng điều này sớm trở nên quá đỗi mỉa mai và giả dối, và hắn liền dừng lại. Vì thế hắn chuyển từ bức tranh sơn dầu này sang bức tranh sơn dầu khác, vẽ về người trên phố, người trong tàu điện ngầm, về khung cảnh trong những bữa tiệc của Ezra (đây là phần kém thành công nhất; mọi người trong những cuộc tụ họp như vậy là những người trưng diện bảnh bao và di chuyển như thể họ liên tục bị theo dõi, và rốt cuộc hắn thu được những trang giấy nghiên cứu về việc tạo dáng của các cô nàng và những anh chàng hợm hĩnh, ánh mắt của tất cả bọn họ đều cẩn thận quay đi khỏi cái nhìn chằm chằm của hắn), cho tới một đêm nọ, hắn ngồi trên chiếc tràng kỷ đáng chán trong căn hộ đáng chán của Jude và Willem, ngắm nhìn hai người bọn họ cùng nấu bữa tối, di chuyển trong căn bếp chật chội như là một cặp đồng tính nữ bận rộn. Đó là một trong những tối Chủ nhật hiếm hoi mà hắn không về nhà mẹ, bởi vì bà và bà ngoại và các dì của hắn đều đang ở trên chiếc du thuyền lòe loẹt tới Địa Trung Hải mà hắn từ chối tham gia. Nhưng hắn đã quen gặp gỡ mọi người và ăn bữa tối — một bữa tối thực sự — được nấu cho hắn vào những ngày Chủ nhật, và vì thế mà hắn tự mời mình đến nhà của Jude và Willem, những người mà hắn biết rằng sẽ có mặt ở nhà bởi vì cả hai người bọn họ đều không có tiền để mà đi ra ngoài. 

        Hắn mang theo mình quyển vở vẽ, như là hắn vẫn luôn làm vậy, và khi Jude ngồi xuống bên bàn nhỏ để thái hành (họ phải thực hiện tất cả các khâu chuẩn bị trên chiếc bàn này bởi vì căn bếp không có lấy bệ bếp), hắn bắt đầu vẽ mà gần như không suy nghĩ. Từ căn bếp vang lên tiếng đập mạnh, và mùi của dầu ô-liu tỏa ra, và khi tới gần hắn phát hiện Willem đang đập một miếng thịt gà rút xương bằng đáy của cái chảo rán trứng, cánh tay anh giơ lên khỏi miếng thịt như thể sẽ đập cho nó nát bét, biểu cảm trên khuôn mặt anh bình yên một cách kỳ lạ, hắn cũng tự khắc họa chính mình. 

        Rồi sau đó hắn cũng không thật sự chắc chắn, rằng hắn đang thực hiện một điều gì đó, nhưng vào cuối tuần tiếp theo, khi tất cả bọn họ đều ghé quán Phở Việt Hương, hắn mang theo mình một trong những chiếc máy ảnh cũ của Ali và chụp lại cảnh ba người bọn họ đang ăn và rồi, sau đó, đi bộ trên phố dưới tuyết. Họ di chuyển chậm chạp bên cạnh Jude, bởi vì vỉa hè trơn trượt. Hắn thấy họ dàn thành một hàng qua ống ngắm máy ảnh: Malcolm, Jude, và Willem, Malcolm và Willem ở hai phía bên người Jude, đủ gần (hắn biết, bởi vì hắn cũng từng ở vào vị trí đó) để đỡ lấy y nếu như y có bị trượt chân nhưng cũng không quá gần để khiến Jude nghi ngờ về việc họ liệu trước cho cú ngã của y. Họ chưa bao giờ nhắc đến việc họ sẽ làm điều này, hắn bỗng nhận ra; họ chỉ đơn giản là thực hiện điều đó mà thôi. 

        Hắn chụp lại hình ảnh ấy. “Cậu làm gì thế, JB?” Jude hỏi, cùng một lúc với lời phàn nàn của Malcolm, “Thôi đi, JB.”

        Bữa tiệc tối đó diễn ra ở phố Centre, trên căn hộ tầng gác mái của một người quen của bọn họ, một cô gái có tên là Mirasol có chị em song sinh tên là, Phaedra, mà họ biết từ hồi học đại học. Một khi đã vào trong, mọi người giải tán theo những nhóm nhỏ khác nhau, và JB, sau khi vẫy tay chào Richard ở phía bên kia phòng và gật đầu với sự bực bội rằng Mirasol đã cung cấp một bàn đầy thức ăn, có nghĩa là hắn vừa mới lãng phí mười bốn đô la ở quán Phở Việt Hương trong khi hắn có thể ăn uống miễn phí ở đây, nhận ra mình đang tha thẩn tiến về chỗ Jude nói chuyện với Phaedra và một gã béo có thể là bạn trai của Phaedra và một anh chàng gầy nhom để râu mà hắn nhận ra là một người bạn cùng làm việc với Jude. Jude ngồi dựa vào một chiếc sofa, Phaedra ngồi kế bên y, và hai người bọn họ nhìn lên anh béo và gã gầy và tất cả đều cười vì một điều gì đó: Hắn chụp lại hình bọn họ.

        Thường thì trong các bữa tiệc hắn sẽ tóm lấy hoặc bị tóm bởi một nhóm người, và cả buổi tối hắn sẽ đóng vai trò như là hạt nhân của những nhóm ba-hay-bốn người khác nhau, chuyển từ nhóm này sang nhóm kia, thu thập các câu chuyện phiếm, bắt đầu những lời đồn thổi vô hại, vờ như đang chia sẻ những điều bí mật, khiến những người khác kể cho hắn nghe về người họ ghét bằng cách tiết lộ sự căm ghét của chính mình. Nhưng đêm nay hắn đi khắp căn phòng trong trạng thái tập trung chú ý và có chủ đích và cực kỳ tỉnh táo, chụp hình ba người bạn của hắn khi họ di chuyển, không nhận thấy là hắn đang theo dõi họ. Vào một thời điểm, sau vài giờ, hắn thấy họ bên khung cửa sổ, Jude nói điều gì đó và hai người còn lại cúi gần lại để nghe y nói, và rồi trong khoảnh khắc tiếp theo, cả ba người ngả ra sau và cười phá lên, và dù cho trong một khoảnh khắc ấy hắn cảm thấy vừa thèm muốn và có đôi chút ghen tị, hắn cũng vừa cảm thấy hân hoan, vì đã chụp được cả hai bức hình. Đêm nay ta là một chiếc máy ảnh, hắn tự nhủ, và ngày mai ta sẽ lại là JB.

        Theo một cách nào đó, hắn không còn hứng thú với bữa tiệc nữa, và không một ai có vẻ nhận ra việc thong dong đi khắp nơi của hắn ngoại trừ Richard, người mà, khi bốn người bọn họ rời đi vào một giờ sau đó để lên trên phố (bố mẹ Malcolm đang về miền quê, và Malcolm nghĩ rằng cậu biết chỗ bà già mình giấu cỏ), dành cho hắn một cái vỗ vai thân thiết đầy bất ngờ của bậc trưởng bối. “Cậu đang thực hiện dự án nào à?”

       

        “Tôi nghĩ vậy.”

       

        “Tốt đấy.”

        Ngày tiếp theo hắn ngồi bên máy tính và nhìn vào những bức hình được chụp trong buổi tối hôm trước trên màn hình. Chiếc máy ảnh không phải là loại tốt nhất, và mọi bức hình đều bị mờ đi với thứ ánh sáng màu vàng ám khói, mà, cùng với kỹ năng lấy nét kém cỏi của hắn, khiến cho mọi người đều trở nên ấm áp và đẹp đẽ và mờ ảo, như thể họ được chụp lại qua một cốc rượu whiskey đầy. Hắn dừng lại trước bức hình chụp cận mặt Willem, hình anh đang cười với một ai đó (một cô gái, không còn nghi ngờ gì nữa) nằm bên ngoài khung hình, và cả bức hình của Jude và Phaedra đang ngồi trên ghế sofa: Jude mặc một chiếc áo len màu xanh nước biển nhạt mà JB không bao giờ có thể luận ra là nó thuộc về y hay Willem, vì cả hai đều mặc nó quá nhiều lần, và Phaedra thì mặc một chiếc váy len có màu rượu pooctô in hình bến cảng, và cô nghiêng đầu về phía y, và màu tóc tối màu của cô khiến y trở nên sáng hơn, và phần họa tiết mòng két của chiếc sofa bên dưới họ khiến họ đều như đang tỏa sáng và giống như đá quý, màu sắc trên cơ thể họ chỉ thoáng qua và lộng lẫy, màu da của họ thật dễ chịu. Họ là những sắc màu mà bất kỳ ai cũng muốn vẽ ra, và hắn đã làm vậy, đầu tiên phác thảo ra khung cảnh ấy bằng bút chì trong cuốn sổ vẽ, và rồi một lần nữa trên giấy bồi vơi màu nước, và cuối cùng là trên vải bạt với màu acrylic. 

        Đó là câu chuyện của bốn tháng trước, và giờ đây hắn đã hoàn thành mười một bức tranh — một kết quả đáng ngạc nhiên đối với bản thân hắn — toàn bộ đều là những khung cảnh từ cuộc sống của các bạn mình. Đây là Willem đợi đến lượt diễn thử, học kịch bản lần cuối cùng, đế của một chiếc giày đạp vào bức tường nhớp nháp màu đỏ phía sau anh; và Jude trong một buổi diễn kịch, một nửa khuôn mặt y chìm khuất trong bóng tối, vào đúng lúc ấy y mỉm cười (việc chụp lại bức hình ấy khiến JB suýt chút nữa bị đuổi khỏi nhà hát); Malcolm ngồi thẳng trên sofa cách cha cậu vài phút, lưng cậu thẳng tắp và tay cậu nắm lấy đùi mình, hai người bọn họ đang xem một bộ phim của Buñuel[7] trên một chiếc TV không có trên khuôn hình. Sau một vài thử nghiệm, hắn dừng lại ở chất liệu vải bạt có kích cỡ của kiểu in tiêu chuẩn truyền thống, hai mươi nhân hai mươi tư in-sơ, tất cả đều được đặt nằm ngang, và hắn tưởng tượng rằng vào một ngày nào đó chúng sẽ được trưng bày theo một hàng ngang dài ngoằn nghoèo, một hàng ngang kéo dài toàn bộ bức tường của một gallery nào đó, bức này nối tiếp bức kia như một dải phim vậy. Sự diễn tả chân thực, như là ảnh chụp thực tế; hắn không bao giờ thay thế chiếc máy ảnh của Ali bằng một cái tốt hơn, và hắn cố gắng khiến mỗi bức tranh đều ghi lại cái chất lượng mờ ảo dịu dàng mà chiếc máy ảnh mang đến cho mọi cảnh vật, như thể một ai đó đã lấy đi lớp trên cùng của sự sắc nét và bỏ lại thứ gì đó đẹp đẽ hơn mà chỉ riêng đôi mắt không thể nhìn thấy. 

        Trong những thời điểm bấp bênh, hắn đôi khi lo lắng rằng dự án này quá bí ẩn và kỳ lạ, quá khép kín — đó là khi mà việc có được người đại diện thực sự trở nên hữu ích, dù chỉ để nhắc nhớ anh rằng có ai đó yêu thích tác phẩm của anh, nghĩ rằng nó quan trọng hoặc ít nhất là đẹp — nhưng hắn không thể cưỡng lại sự mãn nguyện mà hắn có được từ đó, cái cảm giác về quyền sở hữu và sự thỏa mãn. Có những lúc hắn thấy tiếc về việc mình không là một phần của bức tranh; đây là toàn bộ câu chuyện kể về đời sống của các bạn hắn, sự vắng mặt của hắn là cả một sự khuyết thiếu lớn, nhưng hắn cũng thích thú với cái vai diễn như thánh thần của mình. Hắn đã thấy các bạn mình theo một cách khác, không chỉ là những phần thêm vào của cuộc đời hắn mà là những nhân vật riêng biệt trong những câu chuyện của chính họ; đôi khi hắn cảm thấy như thể hắn mới gặp họ lần đầu tiên, dù rằng đã quen biết họ từ rất nhiều năm về trước.

        Khoảng một tháng sau khi thực hiện dự án, khi hắn biết rằng đó là thứ mà hắn sẽ tập trung vào, hắn dĩ nhiên sẽ phải giải thích cho họ lý do vì sao mà hắn lại luôn đi theo họ với cái máy ảnh trên tay, chụp lại những khoảnh khắc thường ngày trong cuộc đời họ, và tại sao việc họ cho phép hắn làm vậy và cho phép hắn được tiếp cận nhiều nhất có thể lại là quan trọng. Họ đang ăn tối tại một quán phở Việt Nam trên phố Orchard mà họ hi vọng rằng sẽ thay thế cho quán Phở Việt Hương, và sau khi nghe hắn trình bày — hắn làm thế với sự lo lắng không giống với tính cách của mình — họ đều nhận ra mình đang quay sang nhìn Jude, người mà hắn biết chắc sẽ là một vấn đề. Hai người kia sẽ ưng thuận, nhưng điều đó cũng chẳng giúp được gì cho hắn. Tất cả cần phải nói có nếu không việc này sẽ chẳng thể tiến hành, và Jude cho tới nay vẫn là người ngại ngùng nhất trong số họ; hồi ở đại học, y sẽ quay mặt đi hoặc che lấy mặt mình mỗi khi có ai đó cố chụp hình y, và bất kỳ khi nào y cười, y sẽ tự động lấy tay che miệng, một thói quen mà tất cả bọn họ đều cảm thấy bực bội, và là điều mà y chỉ mới học cách từ bỏ vào vài năm trước. 

        Đúng như hắn lo sợ, Jude tỏ ra nghi ngờ. “Chuyện này là sao?” y liên tục hỏi, và JB, gom góp toàn bộ sự nhẫn nại của mình lại, phải cam đoan với y vô số lần rằng dĩ nhiên mục đích của mình không phải là để làm bẽ mặt hay lợi dụng y mà chỉ để ghi lại bằng hình ảnh những khoảnh khắc trong cuộc sống của họ mà thôi. Những người khác không nói gì, để mặc hắn tự mình xoay sở, và Jude cuối cùng cũng đồng ý, mặc dù y không mấy vui vẻ với điều đó.

        “Việc này sẽ diễn ra trong bao lâu?” Jude hỏi.

        “Mãi mãi, tôi hi vọng là vậy.” Và hắn đã làm đúng như thế. Điều duy nhất mà hắn hối tiếc là đã không thực hiện việc này sớm hơn, từ hồi mà họ còn trẻ. 

        Khi họ rời khỏi quán, hắn bước đi bên cạnh Jude. “Jude,” hắn gọi thật khẽ, để những người khác không nghe thấy lời mình nói. “Bất kỳ điều gì liên quan đến cậu — tôi sẽ để cho cậu xem trước. Nếu cậu không cho phép, thì tôi sẽ không công khai chúng.” 

        Jude nhìn hắn. “Hứa nhé?”

        “Thề có Chúa.”

        Hắn thấy hối hận ngay lúc hắn nói ra điều này, vì sự thật là Jude là đối tượng mà hắn thích vẽ nhất trong số ba người: Y là người đẹp nhất trong số họ, với khuôn mặt ấn tượng nhất và sắc thái lạ thường nhất, và y cũng là người ngại ngùng nhất, và vì thế mà những bức hình về y luôn có cảm giác quý giá hơn so với những người khác. 

        Ngày Chủ nhật tiếp theo khi hắn về nhà mẹ, hắn lục lại một vài chiếc hộp đựng đồ từ hồi còn học đại học mà hắn cất trong phòng ngủ, tìm một bức ảnh mà hắn biết là mình còn giữ. Cuối cùng hắn cũng tìm thấy nó: một bức hình chụp Jude đứng trong phòng khách, hơi quay người về ống kính. Tay trái của y vòng quanh ngực mình, vì thế anh có thể thấy được vết sẹo hình ngôi sao trên cánh tay y, và tay phải y hững hờ cầm một điếu thuốc chưa đốt. Y mặc một chiếc áo thun dài tay kẻ sọc xanh-trắng không phải của mình, bởi vì nó quá to (mặc dù nó có thể thực sự thuộc về y; hồi đó, tất cả quần áo của Jude đều quá khổ bởi vì, như sau này cho thấy, y cố tình mua chúng với kích cỡ to hơn để mà y có thể mặc chúng vào vài năm tiếp theo, khi y cao lên), và mái tóc y, được nuôi dài để y có thể giấu khuôn mặt mình sau đó, nhô ra nơi cằm y. Nhưng điều mà JB vẫn luôn nhớ nhất về tấm ảnh này là biểu cảm trên khuôn mặt Jude: sự đề phòng mà hồi đó y không bao giờ buông xuống. Hắn đã không xem lại bức hình trong nhiều năm, bởi vì nó khiến hắn cảm thấy thật trống rỗng, vì những lý do mà hắn không thể nói rõ ràng được. 

        Đó là bức hình mà hiện tại hắn đang vẽ lại, và với nó hắn đã phá vỡ khuôn hình và chuyển sang khung vải vuông kích cỡ bốn mươi in-sơ. Hắn đã thử nghiệm trong nhiều ngày để có được đúng sắc xanh lục đầy tinh tế như màu mắt rắn của Jude, và vẽ đi vẽ lại màu đỏ trên tóc Jude trước khi hắn thấy hài lòng. Đó là một bức tranh tuyệt đẹp, và hắn biết vậy, biết chắc chắn điều đó theo cái cách mà đôi khi anh vẫn biết, và hắn không hề có ý định cho Jude xem bức tranh cho tới khi nó được treo trên bức tường của một phòng tranh ở một nơi nào đó và Jude sẽ không thể làm gì trước điều này. Hắn biết Jude sẽ ghét việc trông mình mới thật mong manh, nữ tính, yếu đuối, non nớt làm sao, và hắn cũng biết rằng Jude sẽ tìm thấy vô số những điều không tưởng khác để căm ghét bức tranh này, những điều mà JB không thể đoán được bởi vì hắn khong phải là kẻ căm ghét bản thân giống như Jude. Nhưng đối với hắn mà nói, bức tranh diễn tả mọi thứ mà hắn hi vọng về điều mà dự án này mang lại: đó là một bức thư tình, đó là một sự dẫn chứng bằng tài liệu, đó là một thiên tiểu thuyết, đó là thứ thuộc về hắn. Khi hắn vẽ bức tranh này, đôi khi hắn cảm thấy như thể đang bay, như thể thế giới của những phòng trưng bày tranh và những bữa tiệc và những người nghệ sĩ khác và những tham vọng đều co lại thành một quả bóng bàn bên dưới hắn kia, một thứ gì đó thật nhỏ bé mà hắn có thể đá đi thật xa như một quả bóng đá, nhìn nó xoáy tròn theo quỹ đạo xa dần và chẳng còn liên quan gì tới hắn nữa. 

        Giờ đã gần sáu giờ. Ánh sáng sẽ sớm thay đổi. Lúc này, không gian xung quanh hắn vẫn còn yên ắng, dù từ đằng xa, hắn có thể nghe thấy tiếng đoàn tàu chạy ầm ầm trên đường ray. Trước mặt hắn, khung vải vẽ đang chờ đợi. Và vì thế mà hắn cầm cọ lên và bắt đầu vẽ. 

 

***

[1] Video art (nghệ thuật thu và phát hình ảnh động) là một phạm trù rất rộng và chỉ khác các thể loại phim truyện hay phim tài liệu, quảng cáo… là không mang tính thị trường, không có giá trị thương mại. Nghệ thuật Video, xuất hiện trong các thực hành của một số nghệ sỹ vào thập kỷ 60 – đã được khởi nguồn theo tinh thần đối nghịch lại với các chương trình truyền hình thương mại.  Về mặt niên đại, có thể coi nó được bắt đầu bằng tác phẩm của Nam Jun Park và Wolf Vostel, lần đầu tiên trưng bầy tại Gallery Parnasse ở Wuppertal vào năm 1963, và chương trình đầu tiên nhắm hướng tới các thí nghiệm về hình ảnh đã được phát sóng vào 1964 bởi đài truyền hình WGBH – TV, Boston trong chương trình “Broadcast Jazz Workshop”

Ngay từ khi bắt đầu, đã có hai hướng thực hành chính khác nhau xuất hiện trong các tác phẩm của các nghệ sỹ. Một hướng, sử dụng máy quay chỉ như một công cụ thu ghi đơn giản, còn hướng kia, nhắm tới các nghiên cứu mang tính thực nghiệm được tạo ra thông qua các yếu tố đặc trưng của các hệ thống điện tử. Những ví dụ của xu hướng đầu là các băng Video thu ghi “hành vi” của các nghệ sỹ như Vito Acconci, Gilbert and George, Gina Pane cùng những nghệ sỹ thực hành dạng “nghệ thuật thân thể” (Body Art) khác, những người chỉ muốn thu ghi lại các thực hành của họ như thể tư liệu – hạn chế chỉ trong các bản viết và hình chụp tĩnh. Với các nghệ sỹ quan tâm tới việc nghiên cứu mọi đặc tính của công nghệ Video, mọi chuyện lại hoàn toàn khác. Công cụ điện tử, với họ, không còn chỉ được coi như một máy thu ghi đơn giản, mà là một tập hợp các yếu tố mỹ học phức tạp có thể được thao tác như các chất liệu miêu tả hay điêu khắc.

[2] Trại Tule Lake là một cơ quan thuộc liên bang và trung tâm cách ly nằm ở Siskiyou County, năm dặm về phía tây Tulelake, California. Nó được thành lập bởi chính phủ Hoa Kỳ vào năm 1935 trong thời kỳ Đại suy thoái để đào tạo nghề và hỗ trợ việc làm cho thanh niên.

Trong Thế chiến II, vào năm 1942, Trung tâm di dời chiến tranh Tule Lake được xây dựng bên cạnh trại như là một trong mười trại tập trung ở nội địa Mỹ dành cho việc giam giữ người Mỹ gốc Nhật, những người đã bị buộc phải di dời khỏi bờ biển phía Tây, như một khu vực cấm bởi quân đội Mỹ. Hai phần ba trong số 120.000 người bị giam giữ là công dân Hoa Kỳ.

Được đổi tên thành Trung tâm Cách ly Tule Lake, cơ sở này đã được điều chỉnh trong những năm chiến tranh để ngăn chặn các cuộc tấn công của người Mỹ gốc Nhật chống lại những người phản đối tại trại ly khai chính, giam giữ những người bất đồng chính kiến ​​Nhật Bản và nhà tù người Ý và tù nhân chiến tranh người Đức. Bốn tòa nhà còn lại đang được khôi phục trong một dự án để trả lại cho trại khung cảnh của những năm 1940.

 

[3] Trong tiếng Anh, cụm từ figurative art có nghĩa là các tác phẩm nghệ thuật (đặc biệt là tranh và tượng) được phái sinh từ các “nguồn thực” (real object sources). Các bức tranh hội họa siêu thực (surrealist) thì không được xếp vào “figurative art”.

[4] Nghệ thuật trình diễn (performance art) là một màn trình diễn được trình bày cho công chúng do những nghệ sĩ mỹ thuật thực hiện nhằm diễn đạt ý tưởng của nghệ thuật tạo hình. Màn trình diễn có thể có từ một kịch bản hay không, ngẫu nhiên hoặc là được dàn xếp cẩn thận, tự phát hoặc lên kế hoạch kỹ lưỡng, có hoặc không có sự tham gia của khán giả. Việc thực hiện có thể được trực tiếp hoặc thông qua phương tiện truyền thông; người trình diễn có thể có mặt hoặc vắng mặt. Nó có thể xảy ra trong bất kỳ tình huống nào có liên quan đến bốn yếu tố cơ bản: thời gian, không gian, cơ thể của người trình diễn, hoặc qua sự hiện diện trong phương tiện truyền thông, và mối quan hệ tương tác giữa người diễn và người thưởng ngoạn. Nghệ thuật trình diễn có thể xảy ra ở bất cứ đâu, trong bất kỳ loại địa điểm hay bối cảnh và cho bất kỳ độ dài của thời gian. Những hành động của một cá nhân hay một nhóm tại một địa điểm riêng biệt và trong một thời gian cụ thể sẽ cấu thành tác phẩm.

[5] Meret Elisabeth Oppenheim (6/10/1913 – 15/11/1985) là họa sĩ vẽ tranh siêu thực và nhiếp ảnh gia người Đức gốc Thụy Sĩ. Oppenheim là thành viên của trào lưu Siêu thực cùng với André Breton, Luis Buñuel, Max Ernst, và các nhà văn và nghệ sĩ nghệ thuật thị giác khác. Bên cạnh việc tạo ra các tác phẩm nghệ thuật, Oppenheim cũng còn nổi tiếng như là người mẫu ảnh cho Man Ray, được biết đến với một loạt ảnh khỏa thân của bà bên chiếc máy in. Xem thêm bức ảnh do Man Ray chụp: http://www.manray.net/erotique-voilee.jsp

[6] Lorna Simpson (sinh năm 1960) là một nhiếp ảnh gia và nghệ sĩ mỹ thuật đa phương tiện người Mỹ gốc Phi, người làm nên tên tuổi mình thập niên 1980 – 1990 với những tác phẩm như là Guarded Conditions và Square Deal. Bà là một trong những nghệ sĩ hàng đầu thuộc thế hệ của mình, và các tác phẩm của bà có mặt trong vô số các cuộc triển lãm ở cả quốc gia và quốc tế. http://www.artnet.com/artists/lorna-simpson/

 

[7] Luis Buñuel Portolés (22/2/1900 – 29/7/1983) là nhà làm phim người Tây Ban Nha, từng làm việc ở TBN, Mexico và Pháp.

Khi Luis Buñuel mất ở tuổi 83, thông cáo về cái chết của ông trên tờ New York Times gọi ông là “người đả phá những tín ngưỡng lâu đời, nhà đạo đức học, nhà cách mạng mà từng là nhà lãnh đạo tiên phong cho chủ nghĩa hiện thực vào thời còn trẻ và là một đạo diễn phim điện ảnh quốc tế quan trọng trong nửa cuối Thế kỷ 20.”  Tác phẩm đầu tiên của ông, Un Chien Andalou—là một bộ phim câm—được gọi là “bộ phim ngắn nổi tiếng nhất từng được thực hiện” bởi nhà phê bình Roger Ebert, và tác phẩm cuối cùng, That Obscure Object of Desire— được thực hiện 48 năm sau đó — đã giúp ông giành giải Đạo diện suất sắc nhất của Hội đồng điện ảnh quốc gia và Cộng đồng các nhà phê bình phim quốc gia. Nhà văn Octavio Paz gọi các tác phẩm của Buñuel là “sự kết hôn giữa hình ảnh điện ảnh và hình ảnh văn thơ, đã tạo nên một hiện thực mới…gây xôn xao dư luận và mang tính đột phá.”