4462899125_290274eac9_z

 

CHƯƠNG 1 (tiếp)

 

         Ngày hôm sau, Willem gặp JB ở văn phòng của hắn. JB làm lễ tân cho một tờ tạp chí nhỏ nhưng có tầm ảnh hưởng ở khu SoHo[1] nơi nắm giữ toàn cảnh đời sống văn hóa nghệ thuật của trung tâm thành phố. Đây là một công việc mang tính chiến lược đối với hắn; kế hoạch của hắn, như là hắn từng giải thích cho Willem vào một tối nọ, là cố gắng kết bạn với các biên tập viên ở đó và thuyết phục họ đưa hắn lên tạp chí. Hắn dự đoán điều này sẽ diễn ra trong vòng sáu tháng, có nghĩa là còn khoảng ba tháng nữa.

        JB thường mang biểu cảm của sự hoài nghi trong công việc, vì rằng hắn cũng nên làm việc và rằng chưa có ai nhìn nhận tài năng đặc biệt nơi hắn. Hắn không phải là một nhân viên lễ tân giỏi. Mặc cho chuông điện thoại kêu gần như liên tục, hắn hiếm khi nào nhấc máy; khi một ai đó muốn gọi cho hắn (việc tiếp nhận điện thoại của tòa nhà không nhất quán), họ phải tuân theo một thứ mật mã đặc biệt của việc đổ chuông hai lần, dập máy, và rồi gọi lại lần nữa. Và dẫu vậy đôi khi hắn vẫn chẳng thể trả lời điện thoại – bàn tay hắn luôn bận rộn dưới mặt bàn, với việc chải và bện đống tóc rối trong một chiếc túi ni lông đựng rác màu đen mà hắn đặt dưới chân mình.  

        JB đã vượt qua, như hắn nói, giai đoạn gỡ tóc rối. Gần đây hắn quyết định sẽ nghỉ ngơi đôi chút khỏi việc vẽ vời để thực hiện những tác phẩm điêu khắc bằng tóc đen. Mỗi một người trong bọn họ đều phải bỏ ra những cuối tuần mệt nhoài theo chân JB hết từ cửa hàng cắt tóc cho tới tiệm làm đẹp ở khu Queens, Brooklyn, Bronx, và Manhattan, đợi bên ngoài trong lúc JB bước vào trong để hỏi xin chủ tiệm những phần tóc bị bỏ đi, và rồi kéo lê một chiếc túi kỳ cục chứa toàn tóc trên đường theo hắn. Những tác phẩm đầu tiên của hắn gồm có Quyền trượng, một quả bóng tennis đã bị cạo hết phần lông, chẻ làm đôi, và nhồi đầy cát vào trước khi phủ keo lên nó và lăn quanh một tấm thảm tóc sao cho phần lông tóc chuyển động như là rong biển ở dưới nước, và “Kwotidien,” là thứ mà hắn sử dụng rất nhiều vật gia dụng – một cái dập ghim; một cái xới cơm; một tách trà – trong tấm da sống có gắn tóc. Giờ thì hắn đang thực hiện một dự án có quy mô lớn mà hắn từ chối tiết lộ với bọn họ ngoại trừ những lúc ngắn ngủi, nhưng nó liên quan đến việc chải cho hết rối và tết những miếng tóc lại với nhau để tạo thành một sợi dây tóc đen thật dài. Thứ Sáu tuần trước hắn đã dụ họ tới với lời hứa về chiếc bánh pizza và một chầu bia để giúp mình bện tóc, nhưng sau nhiều giờ làm việc mệt mỏi, chuyện trở nên rõ ràng rằng không có một chiếc bánh pizza hay chầu bia nào hết cả, và họ bỏ đi, có hơi bực bội đôi chút nhưng chẳng mấy ngạc nhiên.

        Bọn họ đều đã chán ngấy với cái dự án tóc ấy, mặc dù Jude – người duy nhất trong số họ – nghĩ rằng những thứ đó thật dễ thương và một ngày nào đó chúng sẽ được xem là kiệt tác. Để cảm ơn, JB đã tặng cho Jude một chiếc lược chải tóc có gắn tóc trên đó, nhưng rồi hắn đòi lại món quà khi một người bạn của cha Ezra có vẻ muốn mua lại nó (ông ấy đã không mua, nhưng JB không bao giờ trả lại chiếc lược cho Jude). Dự án tóc cũng gặp phải khó khăn ở những khía cạnh khác; vào một tối nọ, khi ba người bọn họ theo một cách nào đó lại bị dụ đến khu Little Italy và chải thêm tóc, Malcolm đã nhận xét rằng mớ tóc bị bốc mùi. Mà đúng như thế thật: không phải là thứ mùi khó chịu gì mà chỉ đơn giản là thứ mùi như kim loại nặng của một mái đầu chưa được gội. Nhưng JB đã nổi cơn thịnh nộ, và gọi Malcolm là một kẻ tự ghét người da đen và là kẻ phán lại quyền lợi của người da đen và kẻ phản bội giống nòi, và Malcolm, người rất hiếm khi nổi giận nhưng lại giận dữ trước những lời cáo buộc thế này, đã ném ly rượu của mình vào chiếc túi đựng tóc gần nhất và đứng đậy và bỏ đi. Jude vội vã, nhanh hết mức có thể, chạy theo Malcolm, và Willem phải ở lại để đối phó với JB. Và cho dù hai người bọn họ đã giảng hòa vào ngày hôm sau, rốt cuộc Willem và Jude cảm thấy (không công bằng, họ biết vậy) hơi giận Malcolm, bởi vì tuần tiếp theo họ phải quay lại Queens, đi hết tiệm tóc này tới tiệm tóc khác, cố gắng thay thế túi tóc đã bị cậu làm hỏng.

        “Cuộc sống ở hành tin đen thế nào rồi?” Willem hỏi JB lúc này.

        “Tăm tối,” JB trả lời, nhét búi tóc mà hắn vừa gỡ ra vào lại chiếc túi. “Đi nào; tớ đã bảo với Annika là chúng ta sẽ có mặt vào lúc một rưỡi.” Điện thoại trên bàn hắn bắt đầu đổ chuông.

        “Cậu không nghe điện thoại à?”

        “Họ sẽ gọi lại thôi.”

        Khi họ đi xuống phố, JB than thở. Cho tới nay, hắn đã tập trung phần lớn năng lượng quyến rũ của mình vào một biên tập viên cấp cao tên là Dean, mà bọn họ vẫn thường gọi là DeeAnn. Họ từng tới một buổi tiệc, cả ba người bọn họ, được tổ chức tại căn hộ của bố mẹ của một biên tập viên trẻ ở Dakota, mà tại đó căn phòng treo tác phẩm hội họa này lẫn vào căn phòng treo tác phẩm nghệ thuật khác. Khi JB nói chuyện với các đồng nghiệp của mình ở trong bếp, Malcolm và Willem cùng đi khắp căn nhà (Jude đã ở đâu vào đêm đó? Làm việc, có lẽ vậy), nhìn vào một loạt tác phẩm của Edward Burtynskys[2] được treo trong phòng ngủ dành cho khách, một thác nước cao bốn hay năm tầng của Bencher[3] được đặt trên chiếc bàn trong căn phòng, một bức ảnh khổng lồ do Gursky[4] chụp được treo phía trên những chiếc kệ sách trong phòng đọc, toàn bộ bức tường còn lại treo tác phẩm của Diane Arbuses[5], bao phủ toàn bộ không gian và chỉ còn lại có vài xen-ti-mét ở phần dưới chân tường. Họ đang chiêm ngưỡng một bức hình chụp hai cô gái có khuôn mặt đáng yêu mắc hội chứng Down đang chơi đùa trước ống kính trong bộ đồ bơi quá chật, quá trẻ con của mình, khi Dean bước lại gần họ. Anh ta là một người đàn ông cao lớn, nhưng lại có khuôn mặt nhỏ, rỗ như mặt chuột khiến anh ta nom có vẻ hung dữ và không đáng tin cậy.

        Họ tự giới thiệu bản thân, giải thích rằng họ tới đây bởi vì họ là bạn của JB. Dean nói với họ rằng anh ta là một trong những biên tập viên cấp cao của tờ tạp chí, và rằng anh ta phụ trách toàn bộ các tin tức về nghệ thuật.  

        “A,” Willem nói, tránh không nhìn sang Malcolm, người mà anh không tin rằng sẽ không có một phản ứng nào. JB từng nói với họ rằng hắn đang để ý đến một biên tập viên về nghệ thuật như là mục tiêu tiềm năng của mình; hẳn phải là anh ta đây.

        “Các cậu từng gặp thứ gì như thế này chưa?” Dean hỏi họ, vung tay về phía tác phẩm của Arbus.

        “Chưa bao giờ,” Willem nói. “Tôi thích Diane Arbus.”

        Dean cứng người lại, và những đường nét nhỏ bé trên khuôn mặt anh ta dường như tụ lại thành một nút thắt ở ngay giữa khuôn mặt. “Là DeeAnn.”

        “Gì cơ?”

       

        “DeeAnn. Các cậu đọc tên bà ấy là ‘DeeAnn.’”

        Họ khó lòng có thể rời khỏi căn phòng mà không phá lên cười. “DeeAnn!” JB từng thốt lên sau đó, khi họ đem chuyện này ra kể với hắn. “Chúa ơi! Thật đúng là một gã khốn tự phụ.”

        “Nhưng anh ta là gã khốn tự phụ của cậu đấy,” Jude nói vậy. Và kể từ đấy, họ gọi Dean là “DeeAnn.”

        Tuy vậy, thật không may, dường như bất kể sự đầu tư không biết mệt mỏi của JB vào DeeAnn, hắn vẫn chẳng thể tiến gần hơn tới việc được lên mặt báo so với vào ba tháng trước đó. JB thậm chí còn để DeeAnn thổi kèn cho mình trong đám hơi nước của phòng tập gym, vậy mà vẫn chẳng có gì tiến triển. Mỗi ngày, JB lại tìm ra một lý do để đi xuống phòng biên tập và bước tới bảng ghim những kế hoạch lên bài của ba tháng tới trong những tấm thẻ ghi chú màu trắng, và mỗi ngày hắn lại nhìn vào khu vực ghi danh những nghệ sĩ sẽ được lên bao để tìm kiếm tên mình, và mỗi ngày hắn đều thất vọng. Thay vì thế hắn nhìn thấy tên của những kẻ không có tài năng và được tuyên dương quá mức, những kẻ được mang ơn hay những kẻ quen biết những người có ân huệ với ai đó.

        “Nếu mà tớ nhìn thấy tên của Ezra ở đó, tớ sẽ tự vẫn,” JB luôn nói vậy, và vì thế những người khác sẽ nói rằng: Cậu sẽ không làm vậy, JB ạ, và Đừng lo, JB – cậu sẽ có tên trên đó vào một ngày nào đó, và Cậu cần điều ấy để làm gì, JB? Cậu sẽ tìm thấy một chỗ làm khác, và khi ấy JB sẽ lần lượt trả lời: “Cậu có chắc không?,” “Tôi nghi lắm,” và “Tôi đã tốn không biết bao nhiêu thời gian – những ba tháng của cuộc đời chết tiệt của tôi – đáng lý ra tôi đã có mặt ở đó, hoặc là toàn bộ điều này là một sự lãng phí chết tiệt, giống như tất cả những thứ khác,” tất cả những thứ khác có nghĩa là, khác nhau theo từng trường hợp riêng biệt, cao học, trở về New York, dự án nghệ thuật về tóc, phụ thuộc vào việc hắn cảm thấy mình sẽ phủ nhận chân lý khách quan như thế nào vào ngày hôm đó.   

        Hắn vẫn tiếp tục than thở khi họ tới con phố Lispenard. Willem vẫn còn là tay mơ đối với thành phố này – anh mới chỉ sống ở đây có một năm – nên chưa từng nghe thấy tên con phố trước đó, một con phố chỉ rộng hơn cái ngõ có một chút, với hai tòa nhà kéo dài và một tòa nhà nằm ở phía nam của Canal, và thậm chí là JB, người từng lớn lên ở khu Brooklyn, cũng chưa từng biết đến nó.

        Họ tìm thấy toàn nhà và nhấn chuống căn hộ số 5C. Một cô gái trả lời, giọng cô nghe rè rè và vô cảm bởi hệ thống điện thoại nội bộ, và cô mời họ vào. Bên trong, hành lang thì hẹp và trần nhà thì cao và được sơn màu nâu cứt sáng bóng, đặc sệt, khiến họ có cảm giác đang ở dưới đáy của một cái bể phốt.   

        Cô gái đợi họ ngay trước cửa căn hộ. “Chào anh, JB,” cô nói, và rồi nhìn sang Willem và đỏ mặt.

        “Annika, đây là Willem bạn anh,” JB đáp lại. “Willem, Annika làm việc với tớ ở ban nghệ thuật. Cô ấy rất tuyệt.”

        Annika nhìn xuống và giơ tay ra trong một cử động. “Rất vui được gặp anh,” cô nàng nói chuyện với cái sàn nhà. JB đá vào chân Willem và cười toe toét với anh. Willem lờ hắn đi.

        “Rất vui được gặp em,” anh chào.

        “À, đây là căn hộ? Nó là của bà bác em? Bà đã sống ở đây trong năm mươi năm nhưng bà vừa mới chuyển tới nhà an dưỡng?” Annika nói rất nhanh và hình như quyết định rằng chiến thuật tốt nhất là đối xử với Willem như thể anh đã bị lu mờ và đơn giản là không hề nhìn vào anh. Cô nói chuyện ngày một nhanh hơn, về bà bác mình, và về việc bà thường kể rằng xóm giềng xung quanh đã thay đổi như thế nào, và rằng cô cũng chưa từng nghe tới tên con phố Lispenard cho tới khi cô chuyển đến phần phía nam của khu Manhattan, và cô rất xin lỗi vì ngôi nhà vẫn chưa được sơn lại, nhưng bác của cô vừa mới, theo nghĩa đen, chuyển ra khỏi đây và họ chỉ vừa mới có dịp dọn dẹp nó vào cuối tuần trước. Cô nhìn vào mọi nơi ngoại trừ Willem — lên trần nhà (bạt thiếc), xuống nền nhà (bị nứt, nhưng được lát ván sàn), vào những bức tường (mà những khung hình được treo từ rất lâu về trước đã để lại những dấu vết trên đó) – cho tới khi Willem phải cắt ngang, một cách nhẹ nhàng, và hỏi rằng liệu anh có thể xem xung quanh căn hộ hay không.

        “Ô, xin cứ tự nhiên,” Annika nói, “em sẽ để các anh đi một mình,” mặc dù cô bắt đầu đi theo họ, nói liến thoắng với JB về một ai đó có tên là Jasper và việc anh ta sử dụng phông chữ Archer cho mọi thứ như thế nào, và chẳng lẽ JB lại không nghĩ rằng nó quá tròn và kỳ lạ đối với một phông chữ? Giờ thì Willem đã quay lưng lại với cô, cô công khai ngắm nhìn anh, lời huyên thuyên của cô càng trở nên vô nghĩa hơn khi nói chuyện.  

        JB nhìn Annika ngắm Willem. Hắn chưa bao giờ thấy cô như vậy, thật e thẹn và nữ tính (bình thường cô hay gắt gỏng và im lặng và thực ra có hơi đáng sợ ở văn phòng vì đã tạo ra trên bức tường phía trên bàn làm việc của cô một bản điêu khắc phức tạp có hình trái tim được làm từ những lưỡi dao hiệu X-ACTO), nhưng hắn vẫn thường chứng kiến rất nhiều phụ nữ hành xử như vậy khi đứng trước Willem. Bọn họ đều như vậy. Người bạn Lionel của họ từng nói rằng Willem hẳn phải là một ngư dân vào kiếp trước, bởi vì anh chẳng thể làm gì khác ngoài việc quyến rũ đám đàn bà con gái. Và mặc dù hầu hết thời gian (dù không phải là luôn luôn), Willem dường như không nhận ra được sự thu hút ấy. JB có lần từng hỏi Malcolm rằng theo cậu thì tại sao lại như vậy, và Malcolm trả lời cậu cho là đó là bởi vì Willem không để ý. JB chỉ càu nhàu đáp lại, nhưng hắn nghĩ rằng: Malcolm mới là kẻ chậm tiêu nhất mà hắn biết, và nếu như ngay cả Malcolm cũng nhận ra việc phụ nữ hành xử như thế nào khi ở bên Willem, thì không thể nào mà Willem lại không không biết được. Tuy vậy, sau đó, Jude đã đưa ra một cách giải thích khác: y cho rằng Willem cố ý không phản ứng trước tất cả những người phụ nữ đó vì vậy mà những người đàn ông quanh anh không cảm thấy bị đe dọa bởi anh. Cách giải thích này là hợp lý hơn cả; Willem được yêu thích bởi tất cả mọi người và không bao giờ muốn khiến người khác thấy khó chịu một cách có chủ ý, và do đó, có thể, ít nhất là trong tiềm thức, anh giả vờ không biết. Nhưng dù vậy – quan sát điều này vẫn thật thú vị, và ba người bọn họ không bao giờ thấy mệt mỏi trước điều đó, hay là việc trêu ghẹo Willem sau đó nữa, dù rằng khi ấy anh thường chỉ cười và không nói gì.

        “Thang máy ở đây hoạt động có tốt không?” Willem đột ngột hỏi, quay người lại.

        “Gì cơ ạ?” Annika hỏi lại, giật nảy mình. “Vâng, khá ổn định.” Cô kéo đôi môi mỏng của mình thành một nụ cười nhẹ mà JB nhận ra, với một sự quặn thắt nhẹ nơi dạ dày vì thấy bối rối thay cho cô gái, có nghĩa là một dấu hiệu tán tỉnh. Ôi, Annika, hắn nghĩ. “Cụ thể là anh muốn đưa thứ gì vào căn hộ của bác em thế?”

        “Bạn của bọn anh,” hắn trả lời, trước khi Willem có thể trả lời. “Cậu ấy gặp khó khăn trong việc leo cầu thang và phải cần tới thang máy.”

        “Ôi,” cô thốt lên, lại đỏ mặt. Cô lại nhìn xuống nền nhà. “Em rất tiếc. Vâng, thang máy vẫn hoạt động tốt.”

        Căn hộ không gây ấn tượng cho lắm. Có một phòng giải trí nhỏ, lớn hơn chút xíu sơ với kích cỡ của cái thảm trải sàn, từ đó hướng sang bên phải là căn bếp (cái hình hộp nhỏ xíu, nóng nực và bóng mỡ) và khu vực đặt bàn ăn ở bên tay trái có lẽ chỉ chứa được vỏn vẹn chiếc bàn con. Một bức tường ngắn ngăn cách khoảng không gian này khỏi phòng khách, với bốn ô cửa sổ, mỗi một ô cửa sổ đều được gắn song sắt, nhìn ra phía nam của con phố nhỏ tiêu điều, và cuối một hành lang nhỏ nằm phía bên tay phải là phòng tắm với tấm kính mờ màu sữa và bồn tắm sứ tráng men đã ngả màu, và đối diện với nó là phòng ngủ, với một ô cửa sổ khác và rất hẹp và sâu; ở đó, có hai chiếc giường đơn được đặt song song với nhau, mỗi một chiếc đều kê sát tường. Một chiếc giường đã được trải sẵn nệm, một vật to lớn, vô duyên và nặng nề như một con ngựa chết.   

        “Chiếc nệm này chưa từng được sử dụng,” Annika giải thích. Cô kể một câu chuyện dài về việc cô dự định chuyển tới đây như thế nào, và đã mua sẵn một chiếc nệm, nhưng chẳng bao giờ dùng đến nó bởi vì thay vì thế cô lại chuyển tới sống với người bạn Clement của mình, mà không phải là bạn trai của cô, mà chỉ là bạn bình thường thôi, và trời ạ, cô mới thật ngớ ngẩn làm sao khi nói ra điều này. Dù sao thì, nếu như Willem muốn thuê lại căn hộ, cô sẽ tặng chiếc đệm ấy cho anh.

        Willem cảm ơn cô. “Cậu nghĩ sao, JB?” anh hỏi.

        Hắn nghĩ gì ư? Hắn nghĩ rằng nơi này tệ hại như một cái nhà xí. Dĩ nhiên, cả hắn nữa cũng đang sống ở một nơi tệ hại không kém, nhưng là hắn tự nguyện chui đầu vào đó, và hắn sống ở đó hoàn toàn miễn phí, và số tiền mà đáng lý ra hắn phải dùng để chi trả tiền nhà có thể được dùng vào việc mua màu vẽ, và các họa phẩm khác, và thuốc, và thỉnh thoảng gọi taxi. Nhưng nếu như Ezra quyết định sẽ thu của hắn tiền nhà, thì hắn chẳng đời nào lại chịu ở đó nữa. Gia đình hắn có thể không có được nhiều tiền như của Ezra, hay Malcolm, nhưng trong bất kỳ hoàn cảnh nào họ cũng sẽ không đồng ý để hắn phải bỏ tiền ra để sống ở những nơi chốn tồi tệ ấy. Họ sẽ tìm được cho hắn một chỗ tốt hơn, hay cho hắn một ít tiền mỗi tháng để trang trải cuộc sống. Nhưng Willem và Jude thì không có được lựa chọn đó: Họ phải tự mình trang trải mọi thứ, và họ không có tiền, và do đó họ buộc phải sống ở một nơi rất tệ. Và nếu là vậy, thì có thể đây là một nơi tồi tệ để sống – giá thuê rẻ, nằm ở trung tâm thành phố, và chủ nhà tiềm năng của họ đã sẵn phải lòng năm mươi phần trăm trong hai người bọn họ.

        Vì vậy “Tớ nghĩ chỗ này rất được,” hắn trả lời Willem, người cũng đồng ý với hắn. Annika hét lên. Và một cuộc trao đổi nhanh diễn ra: Annika có người thuê nhà, và Willem và Jude có một chỗ để ở — toàn bộ được thực hiện trước khi JB phải nhắc nhở Willem rằng hắn sẽ không lấy làm phiền nếu như Willem mời hắn một bát mì cho bữa trưa nay, trước khi hắn phải quay lại văn phòng.

 

***

 

          JB không hề rơi vào sự tự xem xét nội tâm, nhưng khi bắt tàu về nhà thăm mẹ vào ngày Chủ nhật, hắn không thể ngăn mình khỏi việc cảm thấy một cảm giác tự khen mơ hồ, kết hợp với một thứ gì đó gần như là lòng biết ơn, vì đã có được một cuộc sống và một gia đình như hắn hiện có.

        Cha hắn, người di cư đến New York từ Haiti, qua đời khi JB mới ba tuổi, và dù JB luôn thích nghĩ rằng hắn còn nhớ được mặt ông – hiền lành và tử tế, với hàng ria mép mỏng và đôi má phồng lên mỗi khi ông cười – hắn không bao giờ biết liệu có phải hắn chỉ nghĩ rằng mình vẫn nhớ, bởi từng lớn lên với việc ngắm nhìn bức ảnh của cha được đặt trên chiếc tủ đầu giường của mẹ, hay là hắn thực sự nhớ được điều đó. Dầu vậy, đó là nỗi buồn duy nhất của hắn khi còn nhỏ, và ngay cả điều đó cũng là một nỗi buồn bắt buộc: Hắn không có cha, và hắn biết rằng những đứa trẻ không cha đều than khóc cho sự khuyết thiếu đó trong cuộc đời mình. Tuy nhiên, hắn chưa từng trải qua nỗi khao khát ấy. Sau khi cha mất, mẹ hắn, người Mỹ gốc Haiti thuộc thế hệ thứ hai, giành được học vị tiến sĩ về giáo dục, giảng dạy toàn thời gian ở một trường công lập gần nhà mà bà cho là sẽ tốt hơn đối với JB. Vào thời điểm hắn học trung học, một trường tư thục đắt tiền cách ngôi nhà của họ ở Brooklyn gần một giờ đi lại, nơi mà hắn theo học nhờ vào học bổng, bà là hiệu trưởng của một ngôi trường khác, một chương trình hấp dẫn ở Manhattan, và là một giáo sư dự bị ở trường Cao đẳng Brooklyn. Bà từng được phỏng vấn trên tờ The New York Times vì những sáng kiến trong phương pháp dạy học của mình, và mặc dù hắn giả vờ khác hẳn trước bạn bè mình, hắn thật sự tự hào về bà.  

        Bà luôn bận rộn trong giai đoạn trưởng thành của hắn, nhưng hắn chưa bao giờ cảm thấy bị bỏ rơi, chưa bao giờ cảm thấy rằng mẹ hắn yêu các học sinh của bà nhiều hơn mình. Ở nhà, còn có bà của hắn, người luôn nấu bất kỳ món ăn nào hắn muốn, và hát cho hắn nghe bằng tiếng Pháp, và nói với hắn mỗi ngày rằng hắn là một báu vật, một thiên tài, và hắn là người đàn ông của đời bà như thế nào. Và còn có cả những người dì của hắn nữa, các em gái của mẹ hắn, một thanh tra cảnh sát của Manhattan, và bạn gái của dì, một dược sĩ và bản thân cô cũng là người Mỹ thế hệ thứ hai (dù cô có gốc Puerto Rico, chứ không phải Haiti), không có con và coi hắn như là con ruột của họ. Em gái của mẹ hắn ham mê thể thao và đã dạy hắn cách bắt và ném bóng (thứ mà, thậm chí về sau này, hắn hầu như chẳng có một chút gì hứng thú, nhưng lại chứng tỏ là một kỹ năng xã hội quan trọng), và người bạn gái của bà thì quan tâm đến nghệ thuật; một trong những kỷ ức đầu tiên của hắn là đi thăm quan Bảo tàng Nghệ thuật Đương đại với cô, nơi mà hắn nhớ rõ đang nhìn chằm chằm vào Một: Số 31, 1950, lặng câm và kính sợ, hầu như không nghe được lời của dì khi bà giải thích vì sao Pollock[6] lại vẽ bức tranh này.  

        Ở trường trung học, nơi mà một chút chủ nghĩa xét lại có vẻ như là cần thiết để phân biệt bản thân hắn và, đặc biệt là, khiến những người bạn nhà giàu da trắng cùng lớp không thoải mái, hắn làm mờ sự thật về hoàn cảnh của mình đôi chút: Hắn trở thành một thằng con trai da đen không cha khác, với một người mẹ chỉ hoàn thành chương trình giáo dục sau khi hắn ra đời (hắn bỏ qua không đề cập đến việc bà hoàn tất chương trình cao học, và vì thế mà mọi người cho rằng ý của hắn là trường trung học phổ thông), và một người dì thường đi dọc các con phố (một lần nữa, họ lại cho rằng bà là gái điếm, không nhận ra ý của hắn là cảnh sát). Bức ảnh gia đình yêu thích của hắn được chụp bởi một người bạn thân thời trung học, một cậu chàng có tên là Daniel, người mà hắn mới chỉ tiết lộ sự thật trước khi hắn để cậu tới nhà chụp ảnh cả gia đình mình. Daniel đang thực hiện một loạt ảnh, mà cậu gọi là, những gia đình “đến từ bên kia biên giới,” và JB phải nhanh chóng đính chính lại quan niệm về việc dì của hắn là một gái đứng đường nhập cư và mẹ mình hầu như không biết chữ trước khi hắn để cho bạn mình bước vào nhà. Mồm của Daniel mở to và không một âm thanh nào được phát ra, nhưng mẹ của JB đã xuất hiện bên cánh cửa và gọi cả hai vào nhà cho khỏi lạnh, và Daniel buộc phải nghe theo.

        Daniel, vẫn sửng sốt, sắp xếp vị trí của họ trong căn phòng khách: bà của JB, Yvette, ngồi trên chiếc ghế dựa lưng mà bà yêu thích, và đứng quanh bà là dì Christine cùng bạn gái, Silvia, ở một bên, và JB cùng mẹ hắn ở bên kia. Nhưng rồi, chỉ ngay trước khi Daniel có thể chụp hình, Yvette đòi rằng JB hãy ngồi vào chỗ bà. “Thằng bé là ông vua của nhà này,” bà nói với Daniel như vậy, trong khi những cô con gái của bà phản đối. “Jean-Baptiste! Ngồi xuống!” Hắn nghe theo lời bà. Trong tấm ảnh, hắn nắm lấy cả hai tay vịn bằng đôi tay mập mạp của mình (thậm chí sau đó hắn còn mập hơn nữa), trong khi ở hai bên, những người khác cúi xuống nhìn hắn và mỉm cười rạng rỡ. Bản thân hắn thì nhìn thẳng vào ống kính, cười thật tươi, ngồi trên chiếc ghế đáng lý ra phải thuộc về bà mình.  

        Niềm tin mà họ dành cho hắn, vào chiến thắng tuyệt đối của hắn, vẫn kiên định, gần như không có gì thay đổi. Họ tin chắc rằng – mặc dù chính sự tin chắc trong lòng hắn cũng đã chịu thử thách rất nhiều lần khiến cho việc tự tạo ra nó ngày càng trở nên khó khăn hơn – rằng vào một ngày nào đó hắn sẽ trở thành một nghệ sĩ vĩ đại, rằng những tác phẩm của hắn sẽ được trưng bày tại những bảo tàng lớn, rằng những người chưa trao cho hắn cơ hội đã không biết nhìn nhận đúng tài năng của hắn. Đôi khi hắn tin họ và cho phép mình dựa vào sự tin tưởng tuyệt đối của họ. Vào những lúc khác hắn tỏ ra nghi ngờ — quan điểm của họ có vẻ như hoàn toàn trái ngược với toàn bộ phần còn lại của thế giới nên hắn băn khoăn rằng liệu họ có hạ cố mà làm như vậy với mình hay không, hay đó chỉ là bởi thứ tình thương điên khùng của họ mà thôi. Hoặc cũng có thể họ có khiếu thẩm mỹ tồi. Làm sao mà sự đánh giá của bốn người phụ nữ lại khác biệt đến thế so với tất cả những người khác? Chắc chắn là tỷ lệ đặt cược của họ vào chính kiến của mình chẳng mấy khả quan.

        Tuy nhiên hắn lại thấy yên lòng khi biến mỗi ngày Chủ nhật trở thành chuyến thăm nhà bí mật của mình, nơi mà thức ăn thì dồi dào và hoàn toàn miễn phí, nơi mà bà ngoại sẽ giặt quần áo cho hắn, và là nơi mà mọi lời hắn nói và mọi bản phác họa hắn đưa ra sẽ được thưởng thức và thì thầm đón nhận. Ngôi nhà của mẹ hắn là một mảnh đất thân quen, một nơi chốn mà hắn sẽ luôn kính trọng, nơi mà mọi tục lệ và truyền thống dường như được đong ni đóng giầy dành cho hắn và những nhu cầu cụ thể của mình. Vào một lúc nào đó của buổi tối – sau bữa tối nhưng trước lúc ăn tráng miệng, trong khi mọi người đều thư giãn nơi phòng khách, xem TV, con mèo của mẹ nằm co tròn trên đùi hắn – hắn sẽ ngắm nhìn những người phụ nữ của mình và cảm thấy có chút gì đó gợn lên trong lòng mình. Sau đó hắn sẽ nghĩ về Malcolm, với người cha quá đỗi thông minh của cậu ấy và người mẹ trìu mến nhưng đãng trí của cậu, và rồi về Willem, với cha mẹ đã qua đời (JB chỉ gặp họ có một lần, trong một cuối tuần của năm đầu đại học, và thấy ngạc nhiên trước sự kiệm lời, nghiêm trang, không-giống-Willem của họ), và cuối cùng, dĩ nhiên, là Jude, với việc hoàn toàn không có sự tồn tại của người cha (một sự bí hiểm, rằng – họ đã quen biết Jude gần cả một thập kỷ và vẫn không chắc chắn rằng liệu cha mẹ y có còn sống hay không, chỉ bởi vì điều đó thật đau khổ và không nên nhắc tới), và nhận thấy cảm giác của sự hạnh phúc và biết ơn giống như một dòng nước ấm áp, như thể một đại dương vừa mới dâng lên trong lồng ngực hắn vậy. Mình thật may mắn, hắn nghĩ, và rồi, bởi vì hắn là mẫu người ưa cạnh tranh và để ý tới vị thế của của mình so với những người bạn khác trong mọi khía cạnh của cuộc sống, mình là kẻ may mắn nhất trong nhóm. Nhưng hắn không bao giờ cho rằng hắn không xứng đáng để có được điều đó, hoặc là hắn cần cố gắng hơn để thể hiện lòng biết ơn của mình; gia đình hắn hạnh phúc khi mà hắn hạnh phúc, và vì thế mà bổn phận duy nhất của hắn đối với họ là trở nên hạnh phúc, là sống đúng cái cuộc đời mà hắn mong muốn, theo những gì mà hắn mong muốn.  

        “Chúng ta không có được gia đình mà ta xứng đáng được nhận,” Willem từng nói như vậy vào một lần say thuốc. Và anh, khi ấy, dĩ nhiên, đang nói về Jude.

        “Tớ đồng ý,” JB trả lời. Và hắn thấy đúng như vậy. Không ai trong số họ — không phải Willem, không phải Jude, và thậm chí không phải là Malcolm — có được cho mình cái gia đình mà họ xứng đáng được nhận. Nhưng trong thâm tâm, hắn đưa ra ngoại lệ cho chính bản thân mình: Hắn đã có được gia đình mà hắn xứng đáng được nhận. Họ thật tuyệt, rất tuyệt, và hắn biết rõ điều đó. Và còn có điều này nữa, hắn xứng đáng với họ.

        “Cậu bé tuyệt vời của tôi đây rồi,” Yvette sẽ nói vậy mỗi khi hắn bước vào ngôi nhà.

        Và với hắn, điều bà nói lúc nào cũng đúng.

***


[1] SoHo, đôi khi được viết là Soho, một khu dân cư ở Hạ Manhattan, thành phố New York, mà từng được biết đến như là nơi sinh sống của nhiều họa sĩ và các gallery nghệ thuật, nhưng gần đây nó được biết đến nhiều hơn với những cửa hàng của hiệu thời gian xa xỉ nổi tiếng của thế giới.  Cái tên “SoHo” xuất phát từ việc đề cập đến khu vực “phía nam của phố Houston” (“South of Houston Street”), và cũng liên quan đến Soho, một khu vực ở phía tây của London.

SoHo bao gồm 26 khu và gần 500 tòa nhà, nhiều tòa nhà trong số đó được xây dựng từ cấu trúc gang. Nhều con phố phụ được lát bằng đá đá khối của Bỉ.

[2] Edward Burtynsky (sinh ngày 22 tháng 2 năm 1955) là nghệ sĩ và nhiếp ảnh gia người Canada, được biết đến với những bức ảnh khổ lớn về phong cảnh công nghiệp. Các tác phẩm của ông được trưng bày tại hơn 50 bảo tàng, bao gồm Bảo tàng Guggenheim, Bảo tàng nghệ thuật quốc gia Canada, và bảo tàng Bibliothèque Nationale tại Paris. https://www.edwardburtynsky.com/

 

[3] Bernhard “Bernd” Becher (20/8/1931 – 22/6/2007), và Hilla Becher, née Wobeser (2/9/1934 – 10/10/2015), là những nhà nghệ thuật vi niệm (conceptual art) và nhiếp ảnh gia người Đức cùng đồng sáng tác rất nhiều tác phẩm nghệ thuật. Họ được biết đến nhiều nhất với những loạt ảnh chụp, hay hình ảnh, của các tòa nhà và cấu trúc công nghiệp, thường được sắp xếp theo dạng lưới. Là những người sáng lập ra trường phái ‘Becher school’ hay ‘Düsseldorf School’ họ đã gây ảnh hưởng tới các thế hệ nghệ sĩ và nhiếp ảnh gia mảng tài liệu. Họ đã được trao tặng giải Erasmus và giải Hasselblad. https://www.tate.org.uk/art/artists/bernd-becher-and-hilla-becher-718

 

[4] Andreas Gursky (sinh ngày15 tháng 1 năm 1955) là một nhiếp ảnh gia người Đức và là giáo sư của trường Kunstakademie Düsseldorf, Đức. Ông được biết đến với những bức ảnh khổ lớn về kiến trúc và phong cảnh, thường được chụp từ trên cao. http://www.artnet.com/artists/andreas-gursky/

 

[5] Diane Arbus (/diːˈæn ˈɑːrbəs/; 14/3/1923 –26/7/1971) là nhiếp ảnh gia người Mỹ được biết đến với những tác phẩm chụp những người nằm bên xã hội – những người lùn, người khổng lồ, người chuyển giới, người theo chủ nghĩa khỏa thân, nghệ sĩ xiếc – và cả những con người mà những chuẩn tắc của họ bị xem như là xấu xí hoặc kỳ dị bởi phần đông dân chúng. Bức hình được nhắc đến trong truyện có tên gọi Girls in Matching Bikinis, được chụp vào năm 1965. Xem thêm các tác phẩm của Diane tại đây: http://www.artnet.com/artists/diane-arbus/

 

[6] Paul Jackson Pollock (28/1/1912 – 11/8/1956), được biết đến với tên Jackson Pollock, là một họa sĩ nổi tiếng người Mỹ và tác phẩm chính về chủ nghĩa trừu tượng sống động. Ông được biết nhiều đến khả năng đặc biệt là drift painting (vảy sơn). Trong suốt cuộc đời mình, Pollock rất nổi tiếng và tai tiếng. Ông là một họa sĩ lớn trong thế hệ của mình. Thay vì khiêm tốn, ông có tính cách bốc đồng và đấu tranh phần lớn với tính nghiện rượu trong suốt cuộc đời. Năm 1945, ông cưới họa sĩ Lee Krasner, bà trở thành nguồn cảm hứng quan trọng trong sự nghiệp và di sản của ông. Ông mất năm 44 tuổi trong một vụ tai nạn liên quan đến rượu khi đang lái xe một mình.

 

 

 

 

Advertisements