Chương này siêu dài, siêu dài – khoảng tầm 3 chục trang A4…


 

 

Untitled

 

PHẦN III

ĐIỂM MÙ

 

7 điểm mù ảnh hưởng đến cách bộ não của chúng ta xử lý thông tin và làm lu mờ nhận thức của chúng ta về thực tại. Để đảm bảo sự sống còn của chúng ta, bảy điểm mù được kết hợp với khuynh hướng của bộ não để trở nên bi quan. Điều này cản trở khả năng của chúng ta trong việc giải Phương trình hạnh phúc, do đó khiến cho ta thấy đau khổ không ngừng.

 


 

CHƯƠNG 9

LIỆU ĐIỀU NÀY CÓ ĐÚNG KHÔNG?

 

Căn nguyên của mối quan hệ đầy thách thức với bộ não của chúng ta là thực tế rằng nó là một cỗ máy được lắp ráp, chạy thử, và (gần như là) hoàn thiện hàng trăm nghìn năm trước, trong những môi trường vô cùng khác biệt cùng với những yêu cầu vô cùng khác biệt so với hiện nay. Các đặc tính đã từng là lợi thế thì giờ đây không còn phù hợp trong việc đưa ta tới hạnh phúc. Bất kể năng lực xử lý xuất sắc của mình, bộ não con người vẫn đưa ra lời giải cho những tình thế thay đổi mà chẳng mấy thích hợp với thế giới hiện đại của chúng ta – và càng kém hiệu quả hơn nữa đối với vấn đề hạnh phúc. Bởi vì nguồn gốc tiến hóa của nó, cái thế giới mà bộ não của bạn hướng tới là một thế giới cổ xưa, tăm tối, và đáng sợ. Vì thế những chiến lược mà nó đưa ra cũng chẳng sáng sủa là bao. Nếu như chúng ta muốn sử dụng cái cỗ máy này đúng cách, thì chúng ta cần phải điều chỉnh chương trình của nó cho phù hợp với môi trường hoạt động mới. Nhưng trước hết ta hãy nhìn lại xem mọi chuyện được bắt đầu như thế nào.

 

Về Nguồn Gốc Của Các Điểm Mù

 

Một cành cây trong bụi cây cách chàng thợ săn người Cro-Magnon[1] vài bước chân rung lên nhè nhẹ. Tiếng động khiến tay thợ săn kỳ cựu chú ý. Anh vẫy tay với mọi người trong đoàn của mình, ra hiệu cho họ nằm xuống và im lặng trong lúc anh kiểm tra nguyên nhân gây ra tiếng động ấy. Anh nheo mắt lại, lắng tai nghe, và loại bỏ mọi kích thích cảm giác khác. Bụi rậm thu hút toàn bộ sự chú ý của anh. Mọi thứ khác đều trở nên nhạt nhòa.   

 

 Gió thổi tới từ hướng của bụi rậm phía sau anh. Anh cho rằng đó là lý do vì sao anh không thể ngửi thấy mùi con dã thú mà anh sợ hãi. Đó là kế hoạch trò chơi mà loài thú dữ vẫn thường sử dụng khi chúng định tấn công. Rõ ràng đây là một kẻ săn mồi thông minh, có lẽ là một con hổ, và từ độ cao của bụi cây đang lay động anh tiếp tục giả định rằng đó hẳn phải là một con hổ lớn.  

 

Trong sự im lặng chết chóc, những người thợ săn gần như nín thở. Bụi cây ngừng lay động, một dấu hiệu cho thấy rằng con thú biết nó đã bị phát hiện. Trong tâm trí mình, tay thợ săn thuộc Thời kỳ Đồ đá dự đoán một trận chiến sắp sửa diễn ra. Anh hình dung rõ ràng về góc độ và tốc độ của cuộc tấn công. Cuộc tấn công sẽ diễn ra trong vòng vài giây nữa, anh chắc mẩm, vì thế nên anh ra hiệu cho những người bạn của mình hãy lùi lại vài bước.  

 

Sự thận trọng của anh được dựa trên những kinh nghiệm đau thương trong quá khứ. Kể từ chuyến vào rừng đi săn đầu tiên của anh cùng cha mình, đã có rất nhiều thợ săn cừ khôi trở thành mồi cho thú dữ chỉ vì một giây phút bất cẩn. Dù cho nhiều mùa trăng đã qua đi, anh vẫn nhớ y nguyên cái cách con dã thú thình lình tấn công con mồi, quăng nạn nhân của nó xuống mặt đất, và xé xác họ ra thành trăm mảnh. Anh nhớ lại cái ký ức ấy như thể nó đang diễn ra ngay trước mắt anh, và tim anh bắt đầu đập loạn.

 

Không thể lãng phí một phút giây nào cả. Việc cố gắng tìm kiếm các chi tiết để phân tích tình huống sâu hơn sẽ làm tiêu tan cơ hội chạy trốn của anh. Sự mạo hiểm này là quá lớn. Anh cần phải ra quyết định thật nhanh, nên anh quy kết cái tình thế này là một mối nguy hiểm rõ ràng và ngay trước mắt. Khi cuộc sống của anh phụ thuộc vào nó, thì vấn đề tốc độ quan trọng hơn nhiều so với việc điều tra chính xác. 

 

Anh cảm thấy một cảm xúc áp đảo của sự hoảng loạn. Bộ não của anh áp đặt tình trạng này bằng cách rót vào cơ thể chất adrenaline để anh sẵn sàng với phản ứng chiến đấu-hoặc-chạy trốn.

 

Khi sự hoảng loạn diễn ra, bộ não của anh bắt đầu phóng đại, nhìn nhận mọi viễn cảnh có khả năng xảy ra đều nguy hiểm hơn so với thực chất. Có thể đây là một đàn hổ, anh nghĩ thầm. Có lẽ mọi người đang bị bao vây. Chẳng có nghĩa lý gì khi chiến đấu cả; rồi sẽ chết hết cả lũ thôi. Các nhánh cây khác cũng bắt đầu rung lên dữ dội. Trong vòng một giây ngắn ngủi, theo bản năng anh xoay người lại và chuẩn bị chạy trốn – ngay khi đó vài con chim bay lên. Anh chàng thợ săn đơ ra nhìn trời khi nhận thấy rằng con hổ của anh ta chẳng qua chỉ là một lũ chim. Ai mà thèm bận tâm nếu vài phút vừa qua đầy căng thẳng cơ chứ, bộ não của anh nghĩ. Ít nhất thì tất cả vẫn còn sống.     

 

Trong hàng ngàn năm, bộ não của chúng ta được trang bị với bảy tính năng đáng kinh ngạc mà tôi vừa mới chỉ ra: sự chọn lọc một cách có chủ ý, giả định, dự đoán, trí nhớ, quy chụp, cảm xúc, và sự phóng đại. Vâng, những khuynh hướng này có thể đảm bảo sự tồn tại của giống loài chúng ta từ nghìn xưa. Và tổ tiên của chúng ta không hề tiếc nuối sự khó chịu mà những tính năng này gây ra cho họ bởi vì họ từng sống trong một môi trường vô cùng khắc nghiệt. Đối với họ mà nói, việc giả định ra những điều tồi tệ nhất là hoàn toàn hợp lý bởi vì những điều tồi tệ nhất vẫn thường xảy ra.  

 

 

Khi chúng ta phát triển nền văn minh và xua đuổi lũ hổ ra khỏi những thành thị của chúng ta, biến đổi khu vực săn bắn của mình thành nơi làm việc, các câu lạc bộ, và những trung tâm thương mại, chúng ta vẫn tiếp tục dựa vào bảy đặc tính kia. Tuy nhiên, ta hiếm khi nào dừng lại để tự hỏi rằng liệu chúng có còn hiệu quả nữa hay không trong cái môi trường “xa lạ” này. Giống như là một cái tua-vít có thể được sử dụng để vặn chặt một cái đinh ốc hoặc cũng có thể sẽ đâm vào mắt chúng ta, những tính năng sinh tồn này có thể trở thành những điểm mù chống lại chúng ta và khiến ta không hạnh phúc, đặc biệt là khi chúng kết hợp với một khuynh hướng cổ xưa khác mà đóng vai trò như là đặc tính cốt lõi của bộ não.

 


[1] Người Cro-Magnon là tên gọi từng được sử dụng để chỉ những con người hiện đại đầu tiên (Homo sapiens sapiens ban đầu) sống vào cuối thời đại đồ đá cũ ở châu Âu, khoảng 50.000 cho đến 10.000 năm trước đây. Các tài liệu khoa học hiện nay ưa dùng thuật ngữ người hiện đại ban đầu châu Âu (European Early Modern Humans, EEMH) hơn là thuật ngữ ‘Cro-Magnon’, do thuật ngữ này không có địa vị phân loại chính thức, cũng như do nó không đề cập tới loài hay phân loài mà cũng chẳng đề cập tới giai đoạn khảo cổ hay văn hóa. Người Cro-Magnon lực lưỡng và cao khoảng 166 cho tới 171 cm, và có thể cao đến 195 cm. Thân thể họ nặng nề và có nhiều cơ bắp. Trán họ thẳng và cao. Người Cro-Magnon là những người đầu tiên (Homo) có cằm nhô ra. Thể tích của bộ óc khoảng chừng 1.600 cm³, lớn hơn người hiện đại. Tên gọi của họ được đặt theo địa danh Abri de Cro-Magnon, là một cái động ở vùng tây nam Pháp nơi mà mẫu vật đầu tiên được tìm thấy.