CHƯƠNG 8 (tiếp)

Hiểu Về Sự Sợ Hãi

 

FB_IMG_1511661706207

 

Mỗi sự sợ hãi đều bắt nguồn từ một phản xạ có điều kiện. Hầu hết thời gian phản xạ có điều kiện của chúng ta mang tới một liều lượng nhỏ nhưng lại vừa đủ nỗi sợ hãi mà ngăn cản ta khỏi việc hoàn toàn tự do, ngay cả khi nguyên do ban đầu của nỗi sợ hãi đã không còn tồn tại nữa, và ngay cả khi mối đe doạ tiềm ẩn đã không còn đáng kể nữa.  

 

Trong nửa đầu Thế kỷ 20, ngành tâm lý học bị chi phối bởi nghiên cứu về phản xạ có điều kiện. Vào năm 1924, cha đẻ của thuyết hành vi trong tâm lý, John B. Watson[1] từng phát biểu một câu rất nổi tiếng rằng, “Hãy cho tôi một tá những đứa trẻ khoẻ mạnh và đưa vào thế giới riêng của tôi và tôi đảm bảo rằng sẽ chọn ngẫu nhiên một trong số đó và dạy dỗ nó trở thành bất kỳ một loại chuyên gia nào mà tôi mong muốn – bác sĩ, luật sư, nghệ sĩ, và vâng, kể cả kẻ ăn mày và trộm cắp nữa[2].”

Đối với Watson, đây không chỉ là lời nói suông. Vào năm 1920 ông thực hiện một thí nghiệm gây tranh cãi về mặt đạo đức để chứng minh về “điều kiện hoá cổ điển” trên một đứa bé chín tháng tuổi. Cậu bé Albert được cho tiếp xúc với chuột bạch, một con thỏ trắng, một con khỉ, và cả giấy đang cháy. Khi chưa bị đặt bất kỳ điều kiện sợ hãi nào lên mình, Albert đều có phản ứng tích cực trước chúng. Món đồ chơi yêu thích của cậu là chú chuột trắng, cho tới khi Watson lấy búa đập vào một thanh thép phía sau đầu của Albert mỗi khi con chuột xuất hiện. Tiếng động đinh tai bất ngờ ấy khiến Albert khóc thét lên. Điều này được lập lại bẩy lần trong bẩy tuần lễ; và cuối cùng khi Albert chỉ vừa mới nhìn thấy con chuột đã lộ ra vẻ sợ hãi. Cậu bé sẽ khóc và cố gắng bò đi thật xa khỏi nó ngay cả khi không có tiếng động vang lên. Một cuộc đời sống trong sợ hãi đã được hình thành từ đó.  

Tôi cũng từng chứng kiến một nỗi ám ảnh như vậy ở đứa con gái duyên dáng của mình. Khi ấy Aya mới khoảng một tuổi, vui vẻ ngồi chơi trên sàn nhà vào một tối mùa hạ. Chúng tôi để mở cửa sổ, và một con gián bay vào và đậu ngay trước mặt con bé. Vì không có phản xạ có điều kiện nào trước đó đối với việc sợ hãi con gián, Aya nhặt con gián lên như thể đó chẳng qua chỉ là một món đồ chơi khác. Con bé quay ra nhìn Nibal và vẫy tay với cô ấy, rất là vui vẻ với “món đồ chơi mới” của mình.

      

 Tuy nhiên, đối với Nibal mà nói, thì lũ gián còn nguy hiểm hơn cả một trái bom nguyên tử. Và phản ứng của cô ấy thì còn khủng khiếp hơn cả cái tiếng búa đập vào thanh sắt phía sau đầu của cậu bé Albert nữa. Cô ấy thét lên trong sợ hãi, bắt đầu khóc lóc, và gọi tôi tới giúp. Vài giây sau đó, vị khách không mời mà đến kia đã biến mất. Chẳng hề có ai bị thương vong cả, nhưng Aya đã hình thành một phản xạ có điều kiện. Nhiều năm sau, khi mà tôi cố trêu con bé với những chuyện liên quan đến lũ gián, nỗi sợ của con bé càng tăng thêm. Nó sẽ hét lên, khóc lóc, và chạy trối chết. Đến bây giờ con bé vẫn còn nhớ y nguyên cái trò đùa ấy và xem đó như là một trong những hành động tồi tệ nhất của tôi. Xin lỗi con nhé, Aya.

 


[1] John Broadus Watson: Sinh năm 1878, qua đời năm 1958. Nhà tâm lý học Hoa Kỳ, sinh tại Greenville, tiểu bang South Carolina. Giáo sư đại học Johns Hopkins năm 1908 đến 1920. nhân vật nổi tiếng hàng đầu trong việc khởi xướng Chủ Thuyết Hành Vi. Tác giả các sách: Giáo Dục Loài Vật, xuất bản năm 1903; Tư Cách Đạo Đức ấn hành năm 1914 và Sự chăm sóc Tâm Lý cho Trẻ Thơ và Nhi Đồng năm 1928 v.v

 

[2] “John B. Watson,” n.d. https://en.wikipedia.org/wiki/John_B._Watson