THE SUBTLE ART – CHƯƠNG 7.3

 

FB_IMG_1493602424747

 

CHƯƠNG 7 (tiếp)

 

Đau Khổ Là Một Phần Của Quá Trình

 

Vào những năm 1950, một nhà tâm lý học người Ba Lan có tên Kazimierz Dabrowski[1] đã tiến hành nghiên cứu về những người sống sót sau Thế Chiến II và việc họ đã làm thế nào để vượt qua những trải nghiệm đau đớn trong chiến tranh. Vì đó là đất nước Ba Lan[2], nên mọi việc cũng khá là khủng khiếp. Những con người này đã phải trải qua hay chứng kiến những trận chết đói tập thể, những cuộc đánh bom biến các thành phố thành những đống đổ nát, cuộc diệt chủng tàn sát người Do Thái, sự tra tấn các tù nhân trong chiến tranh, việc cưỡng hiếp và/hay sát hại các thành viên trong gia đình, nếu không phải bởi quân đội Đức Quốc xã, thì vào những năm sau này là bởi quân đội Xô Viết.  

Khi Dabrowski nghiên cứu về những người còn sống sót này, ông nhận ra có điều gì đó thật đặc biệt và đáng kinh ngạc. Một tỷ lệ đáng kể những người đó tin rằng điều mà họ từng trải qua trong quãng thời gian chiến tranh, dù cho có đau đớn và khủng khiếp tới đâu, thì thực ra cũng khiến cho họ trở nên tốt đẹp hơn, sống có trách nhiệm hơn, và đúng thật là, trở thành những con người hạnh phúc hơn. Rất nhiều người miêu tả phần đời của họ trước chiến tranh như thể họ là những con người hoàn toàn khác so với sau này: không biết ơn và không trân trọng những người thân yêu của họ, lười biếng và chỉ biết quan tâm tới những vấn đề vụn vặt, tự ban cho mình đặc quyền trước những gì mà họ có được. Sau cuộc chiến họ cảm thấy tự tin hơn, chắc chắn hơn về bản thân mình, biết ơn hơn, và không còn bối rối trước những vấn đề tầm thường của cuộc sống và những phiền phức vặt vãnh.

Hiển nhiên, những gì họ đã trải qua thật kinh khủng, và những con người này chẳng vui vẻ gì khi phải nếm trải chúng hết. Rất nhiều người trong số họ vẫn còn phải chịu đựng những vết thương tinh thần do sự đả kích mà chiến tranh mang lại. Nhưng một số người đã cố gắng lợi dụng những vết thương này và biến đổi bản thân họ theo chiều hướng tích cực và mạnh mẽ.

Và họ không phải là những người duy nhất trải qua sự thay đổi hoàn toàn ấy. Với rất nhiều người trong số chúng ta, thành tựu đáng tự hào nhất của chúng ta đến từ những nghịch cảnh lớn nhất. Nỗi đau của ta thường khiến cho ta trở nên mạnh mẽ hơn, kiên cường hơn, vững vàng hơn. Những người chiến thắng căn bệnh ung thư, là một ví dụ, cho biết rằng họ cảm thấy mạnh mẽ hơn và thấy biết ơn cuộc sống hơn sau khi giành chiến thắng trong cuộc chiến giành giật sự sống. Các quân nhân cho rằng họ có được sự kiên cường về mặt tinh thần nhờ vào việc trải qua những hoàn cảnh hiểm nguy khi có mặt trong vùng chiến.    

Dabrowski biện luận rằng nỗi sợ hãi và lo lắng và buồn bã không phải lúc nào cũng nhất thiết là trạng thái tinh thần không đáng mong đợi và vô ích; thay vì thế, chúng thường đại diện cho sự đau đớn cần thiết dẫn tới sự phát triển về mặt tinh thần. Và chối bỏ nỗi đau đó thì cũng có nghĩa là ta đã chối bỏ những tiềm năng của mình. Giống như việc một người cần phải trải qua những đau đớn thân thể mới mong có được cơ bắp và xương cốt rắn chắc, một người cũng cần phải vượt qua những đau đớn về mặt tinh thần thì mới mong có được kiên sự cường hơn trong tinh thần, sự chắc chắn hơn về bản thân, tăng cường lòng trắc ẩn, và nói chung là một cuộc sống hạnh phúc hơn.

Những sự thay đổi triệt để nhất của chúng ta về nhận thức thường xảy ra ở cuối những khoảnh khắc tồi tệ nhất. Chỉ khi mà ta cảm thấy đau đớn tột cùng thì ta mới chịu nhìn vào hệ chân giá trị của mình và đặt ra câu hỏi tại sao chúng dường như lại không phù hợp với ta. Chúng ta cần tới một dạng khủng hoảng về sự tồn tại[3] để có được cái nhìn khách quan về việc ta chọn lựa ý nghĩa nào cho đời mình rồi mới cân nhắc tới việc thay đổi chúng.

Bạn có thể gọi nó là “xuống chó” hay “gặp phải cuộc khủng hoảng về sự tồn tại.” Còn tôi thì thích gọi nó là “rơi vào vùng bão c*t.” Cứ việc chọn lấy cái tên nào mà bạn ưng nhất.

Và có thể ngay lúc này đây bạn đang rơi vào vị trí ấy. Có thể bạn vừa mới thoát khỏi thử thách cam go nhất đời mình và thấy hoang mang bởi mọi thứ mà bạn cho là đúng và bình thường và tốt đẹp trước đây hóa ra lại hoàn toàn ngược lại.

Đấy là chuyện tốt — đó là bước khởi đầu. Tôi không thể nhấn mạnh hết điều này, nhưng nỗi đau là một phần của quá trình. Việc cảm thấy nó là rất quan trọng. Bởi vì nếu như bạn chỉ theo đuổi những cơn hưng phấn để che lấp nỗi đau, nếu như bạn cứ tiếp tục nuông chiều bản thân trong sự tự cho mình đặc quyền và những suy nghĩ tích cực đầy ảo tưởng ấy, nếu như bạn cứ tiếp tục buông thả trong các thể loại vật chất hay hoạt động nào đó, thì rồi bạn sẽ chẳng bao giờ có được động lực cần thiết để thực sự thay đổi.

Khi mà tôi còn nhỏ, bất cứ khi nào gia đình tôi mua một chiếc đầu video hay dàn stereo mới, tôi sẽ ấn thử vào mọi nút bấm, lắp vào và tháo ra mọi đầu dây và mối nối, chỉ để xem mỗi thứ dùng để làm gì. Theo thời gian, tôi hiểu được cách thức vận hành của toàn bộ hệ thiết bị. Và bởi vì tôi biết quy tắc hoạt động của nó, tôi thường là người duy nhất trong nhà sử dụng các thiết bị này.

Cũng giống như nhiều đứa trẻ thuộc thế hệ Y khác, ba mẹ tôi xem tôi như thể một ca thần thánh hiển linh vậy. Với hai cụ, việc tôi có thể sử dụng được đầu máy video mà không cần phải đọc hướng dẫn sử dụng khiến tôi trở thành Tesla[4] thứ hai.

Thật dễ dàng khi nhìn lại thế hệ của ba mẹ tôi và cười vào cái sự mù công nghệ của họ. Nhưng sau này khi càng lớn hơn, tôi càng nhận ra rằng trong cuộc sống tất cả chúng ta đều có những lĩnh vực tương tự như là ba mẹ tôi với cái đầu video mới: ta cứ ngồi đó và nhìn trân trối và lắc đầu và nói, “Nhưng như thế nào cơ?” Khi mà thực ra, nó chỉ đơn giản là cứ làm điều đó mà thôi.  

Tôi cứ luôn nhận được email của mọi người hỏi những câu như vậy suốt. Và qua nhiều năm, tôi vẫn không biết phải trả lời họ ra sao.

Có một cô gái có bố mẹ là dân nhập cư và tằn tiện cả cuộc đời để cho cô theo học trường y. Nhưng giờ khi cô đã vào trường y thì cô lại chán ghét nơi này; cô không muốn dành cả đời mình làm một bác sĩ, nên cô ấy muốn bỏ học hơn bất cứ điều gì khác. Và cô ấy cảm thấy bế tắc. Thực bế tắc, thành ra, cuối cùng cô ấy lại đi gửi thư cho một người lạ trên mạng (là tôi) và hỏi anh ta một câu hỏi ngớ ngẩn và quá đỗi hiển nhiên như, “Làm thế nào để tôi bỏ học trường y?”

Hay là một cậu sinh viên nọ có cảm tình với người trợ giáo. Nên anh chàng khổ sở trước mọi cử chỉ, mọi tiếng cười, mọi nụ cười, mọi cuộc chuyện phiếm, và gửi cho tôi một bức thư dài hai mươi tám trang đọc như một cuốn tiểu thuyết diễm tình và kết thúc với câu hỏi, “Làm thế nào để tôi cưa cẩm được cô ấy?” Hay một bà mẹ đơn thân có mấy đứa con giờ đã trưởng thành và tốt nghiệp đại học và nằm dài trên ghế đi-văng nhà bà, ăn đồ ăn của bà, tiêu tiền của bà, mà không thèm tôn trọng không gian riêng tư và mong muốn có được sự riêng của bà. Bà muốn chúng tiến lên phía trước với cuộc đời của riêng mình. Bà muốn được tiếp tục với cuộc đời của chính mình. Và bà sợ muốn chết khi phải đẩy lũ con ra xa, sợ hãi khi phải hỏi, “Tôi phải làm thế nào để bảo chúng nó ra riêng?” 

Đấy đều là những câu hỏi về cái đầu video. Nhìn từ bên ngoài, câu trả lời thật là đơn giản: chỉ cần ngậm miệng vào và làm đi.

Nhưng ở trong cuộc, xét từ quan điểm của những người này, những câu hỏi như vậy thật quá đỗi phức tạp và tối tăm — những câu đố về sự sống còn được bao bọc trong sự khó hiểu được gói lại trong cái thùng KFC chứa đầy những khối rubik.  

Những câu hỏi đầu máy video thật nực cười vì câu trả lời có vẻ khó khăn với bất kỳ ai gặp phải chúng mà lại quá đỗi dễ dàng đối với người ngoài.

Vấn đề ở đây là nỗi đau. Việc điền vào giấy tờ cần thiết để xin thôi học trường y quả là một hành động không hề phức tạp và quá đỗi hiển nhiên; nhưng làm cha mẹ đau lòng thì không đơn giản như thế. Mời người trợ giảng đi chơi chỉ đơn giản là việc nói ra có vài từ; nhưng đánh cược với cảm giác xấu hổ và bị từ chối thì phức tạp hơn nhiều. Yêu cầu một ai đó chuyển ra khỏi nhà bạn là một quyết định dễ hiểu; nhưng cảm thấy như thể bạn bỏ rơi con cái mình thì không dễ chịu như vậy.

Tôi đã từng vật vã với chứng sợ xã hội trong suốt quãng đời niên thiếu của mình. Tôi dành phần lớn những ngày tháng ấy để làm sao lãng bản thân với các trò chơi điện tử và hầu như mỗi đêm đều uống rượu và hút thuốc để xua tan trạng thái lo lắng vô cớ trong tôi. Trong nhiều năm, cái ý nghĩ nói chuyện với một người lạ — đặc biệt là nếu người lạ ấy có phần nào hấp dẫn/thú vị/được nhiều người yêu thích/thông minh — dường như là bất khả thi đối với tôi. Tôi cứ đi vòng quanh trong sương mù nhiều năm trời, tự hỏi mình những câu ngu ngốc về cái đầu video:

“Làm thế nào? Làm thế nào mà chỉ cần bước tới và nói chuyện với một ai đó? Làm thế nào mà người ta có thể làm được điều đó?”

Tôi có hàng đống niềm tin ngớ ngẩn về việc này, như là bạn không được phép nói chuyện với một người trừ khi bạn có được lý do chính đáng, hay là phụ nữ sẽ cho rằng tôi là thằng dâm dê bệnh hoạn nếu tôi nói nhiều đến mức như, “Xin chào.” 

Vấn đề nằm ở chỗ các cảm xúc của tôi quyết định thực tại của tôi. Bởi vì có cảm giác như mọi người không muốn nói chuyện với tôi, tôi đâm ra tin rằng mọi người không muốn nói chuyện với tôi thật. Và do đó, câu hỏi về cái đầu video của tôi là: “Làm thế nào để tiến tới và nói chuyện với một người?”

Bởi vì tôi không thể phân biệt giữa những gì tôi cảm thấy với sự thật, nên tôi không thể thoát ra khỏi bản thân mình và nhìn thế giới như nó vốn dĩ vậy: một chốn đơn giản nơi hai con người có thể tiến về phía nhau và bắt chuyện vào bất cứ thời điểm nào.

Đối với nhiều người, khi họ cảm thấy đau đớn hay tức giận hay buồn bã, họ ngừng lại mọi việc và tập trung vào việc làm tê liệt bất cứ điều gì mà họ cảm thấy. Mục đích của họ là lại có thể “cảm thấy tốt đẹp” nhanh nhất có thể, ngay cả nếu như điều ấy có nghĩa là tìm đến với vật chất hay lừa dối bản thân hoặc quay trở về với những giá trị như c*t của họ.   

Hãy học cách chịu đựng nỗi đau mà bạn đã lựa chọn. Khi mà bạn lựa chọn một giá trị mới, có nghĩa là bạn đang lựa chọn việc giới thiệu một nỗi đau mới với cuộc đời mình. Hãy tận hưởng nó. Thưởng thức nó. Chào đón nó bằng cả hai tay. Rồi sau đó hãy hành động bất chấp nó.

Tôi sẽ không dối gạt bạn làm gì: lúc ban đầu chuyện này sẽ khó khăn đến nỗi không tưởng nổi. Nhưng bạn có thể bắt đầu đơn giản thôi. Bạn sẽ cảm thấy như thể bạn không biết cần phải làm gì. Nhưng chúng ta đã nói tới việc này rồi: bạn không biết gì hết cả. Mà ngay cả khi mà bạn cho rằng mình có biết đi chăng nữa, thì bạn cũng chẳng biết mình đang làm cái éo gì đâu. Cho nên thực sự thì, bạn mất cái gì nào?

Cuộc đời chính là không biết và rồi vẫn cứ làm một điều gì đó. Toàn bộ cuộc đời chính là như thế. Không bao giờ thay đổi hết. Ngay cả khi mà bạn hạnh phúc. Ngay cả khi mà bạn đánh rắm ra mùi hương hạnh phúc. Ngay cả khi mà bạn trúng số độc đắc và tậu một chiếc du thuyền nhỏ, thì bạn vẫn chẳng biết là mình đang làm cái quái gì đâu. Đừng bao giờ quên nhé. Và đừng sợ nữa.

[1] Kazimierz Dąbrowski (1/9/1902 – 26/11/1980) là nhà tâm lý học và bác sỹ, chuyên gia điều trị tâm thần người Ba Lan.

Dąbrowski là người đã phát triển học thuyết Tan rã tích cực (Positive Disintegration), mà mô tả sự phát triển của một con người diễn ra như thế nào như là kết quả của toàn bộ các trải nghiệm. “Sự tan rã” được dùng để chỉ những suy nghĩ thuần thục, và đó là một quá trình tích cực khi chuyển đổi tính cách của một con người sang một mức độ tiến bộ hơn.

Dąbrowski đã cống hiến cả đời cho ngành tâm lý học. Ông thành lập một trung tâm trung tâm điều trị ở Zagorze (gần Warsaw) dành cho những bệnh nhân mắc phải chứng bệnh rối loạn tâm thần sau khi trải qua những hoàn cảnh khó khăn trong đời sóng. Những nghiên cứu mà ông có được ở nơi này đã cung cấp cho ông thông tin giúp hình thành nên quan điểm của ông.

[2] Ba Lan là một trong những nơi chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của Thế Chiến 2. Đức Quốc xã bất ngờ tấn công Ba Lan vào ngày 1/9/1939 gọi là Chiến dịch Ba Lan (Polenfeldzug) với bí danh Kế hoạch Trắng (Fall Weiss) là sự kiện quân sự mở đầu cho Chiến tranh thế giới thứ hai. Ngày 27 tháng 9 năm 1939, thủ đô Warszawa của Ba Lan chính thức bị quân Đức chiếm. Ngày 6 tháng 10 năm 1939, cuộc tấn công Ba Lan chấm dứt, lãnh thổ Ba Lan đã bị chiếm giữ bởi Đức Quốc xã, trong khi các vùng phía Đông được trả về cho Liên Xô. Trong suốt thời gian bị chiếm đóng, Ba Lan mất hơn 20% dân số – với gần toàn bộ dân số Do Thái tại nước này và một số đông người Cơ đốc giáo đã bị tiêu diệt, cuộc chiến tranh này cũng đánh dấu sự kết thúc của nền Cộng hòa Ba Lan lần thứ hai.

Một trong những điều nổi tiếng nhất về giai đoạn này phải nói tới Trại tập trung Auschwitz – một mạng lưới các trại tập trung và trại hủy diệt do Đức Quốc xã dựng lên tại vùng lãnh thổ Ba Lan bị nước này thôn tính trong chiến tranh thế giới thứ hai. Trại bao gồm Auschwitz I (trại đầu tiên), Auschwitz II–Birkenau (tổ hợp trại tập trung và trại hủy diệt), Auschwitz III–Monowitz (trại lao động cung cấp nhân lực cho nhà máy của IG Farben), và 45 trại vệ tinh.

Auschwitz I ban đầu được xây dựng để giam giữ tù nhân chính trị Ba Lan, những người bắt đầu đến trại vào tháng 5 năm 1940. Đợt hành quyết tù nhân đầu tiên diễn ra vào tháng 9 năm 1941 và Auschwitz II–Birkenau đã tiến đến trở thành địa điểm thực thi chính của kế hoạch “Giải pháp cuối cùng cho vấn đề Do Thái”. Giai đoạn từ đầu năm 1942 đến cuối năm 1944, những chuyến tàu vận chuyển đã đưa người Do Thái từ khắp mọi vùng lãnh thổ châu Âu do Đức chiếm đóng đến các phòng hơi ngạt của Auschwitz, nơi họ bị giết người bằng thuốc trừ sâu Zyklon B. Có ít nhất 1,1 triệu tù nhân đã bỏ mạng ở Auschwitz, khoảng 90% trong số đó là người Do Thái; tính ra thì cứ 6 người Do Thái bị giết trong vụ Holocaust thì 1 người là ở Auschwitz. Hầu hết những người không bị giết trong các phòng hơi ngạt đã chết vì đói, lao động quá sức, bệnh tật, hành quyết đơn lẻ, và các thí nghiệm y khoa.

Trong chiến tranh, trại có 7.000 cán bộ nhân viên đến từ tổ chức Schutzstaffel (SS). Khoảng 12% trong số này về sau đã bị kết án phạm phải những tội ác chiến tranh. Một số người, trong đó có sĩ quan chỉ huy Rudolf Höss, bị xử tử.

Ngày 27 tháng 1 năm 1945, thời điểm mà các tù nhân còn lại trong trại được giải phóng, nay là ngày tưởng niệm Holocaust quốc tế (International Holocaust Remembrance Day). Trong những thập kỷ tiếp theo, những người sống sót như Primo Levi, Viktor Frankl, Elie Wiesel đã viết hồi ký về trải nghiệm của họ ở Auschwitz và khu trại đã trở thành biểu tượng chủ đạo của Holocaust. Vào năm 1947 Ba Lan thành lập một bảo tàng tại vị trí của Auschwitz I và II trước đây và đến năm 1979 trại đã được UNESCO công nhận là di sản thế giới. (theo Wikipedia)

[3] Khủng hoảng về sự tồn tại (existential crisis) là thời điểm mà một cá nhân đưa ra câu hỏi về những nền tảng cơ bản của cuộc đời mình: liệu rằng cuộc đời này có ý nghĩa, mục đích, hay giá trị gì hay không. Vấn đề ý nghĩa và mục đích của sự tồn tại là chủ đề được các triết gia theo đuổi chủ nghĩa hiện sinh (quan niệm con người là hoàn toàn tự do và chịu trách nhiệm về hành động của mình) quan tâm.

[4] Nikola Tesla (10/7/1856 – 7/1/1943): nhà phát minh, nhà vật lý, kỹ sư cơ khí và kỹ sư điện người Mỹ gốc Serb. Ông sinh ra ở Smiljan, Đế quốc Áo, sau này trở thành công dân Hoa Kỳ. Tesla được biết đến với nhiều đóng góp mang tính cách mạng trong các lĩnh vực điện và từ trường trong cuối thế kỷ 19 đầu thế kỉ 20. Các phát minh của Tesla và các công trình lý thuyết đã làm nên cơ sở của hệ thống phát điện xoay chiều, bao gồm cả hệ thống phân phối điện nhiều pha và động cơ điện xoay chiều, giúp tạo ra Cách mạng công nghiệp lần 2. Vì tính cách lập dị và những tuyên bố kỳ lạ và khó tin về sự phát triển của khoa học kỹ thuật, Tesla bị cô lập và bị coi là một nhà bác học điên lúc cuối đời. Ông qua đời năm 86 tuổi trong một phòng khách sạn ở New York với một số tiền ít ỏi trong túi.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: