GHOST BOY – CHƯƠNG 30

ff564cd21a96f50c59f33c249312e64b

CHƯƠNG 30: THOÁT KHỎI NHÀ TÙ

Học giao tiếp cũng giống như việc ta đi dọc suốt một quãng đường dài chỉ để nhận ra rằng cây cầu bắc ngang con sông đã bị sập từ lâu. Dù cho hiện nay tôi đã có tới cả ngàn từ trong bảng từ vựng của mình, thì vẫn còn có những từ mà tôi từng nghĩ đến nhưng vẫn chưa có được. Và khi mà tôi có chúng trên bảng từ vựng, thì tôi làm cách nào sử dụng chúng để biểu đạt một ý nghĩa và tìm kiếm một hình minh họa tương ứng hoặc khi mà tôi mang một cảm xúc nhất định nhưng rồi mọi thứ lại chỉ tắc nghẹn nơi màn hình máy tính? Nói chuyện không chỉ đơn giản là việc sử dụng các từ ngữ, và tôi nhận ra sự tăng giảm đều đặn của tiết tấu, giai điệu, và ngữ điệu của nó là thứ gần như không thể kiểm soát.

Hãy thử mường tượng đến cảnh một người đàn ông nhướng lên đôi lông mày khi anh bồi đưa cho ông ta tờ hóa đơn trong bữa tối kỷ niệm ngày cưới của hai vợ chồng mà xem.

“Các vị đang đùa tôi chắc!” ông ta thốt lên khi nhìn vào tờ hóa đơn kia.

Và khi vợ ông ta nghe thấy những lời này, bà ấy sẽ nhận ra từ giọng điệu và cái nhìn của ông chồng rằng liệu những lời mà ông chồng ấy thốt ra là sự tức giận xuất phát từ việc buộc tội cho số tiền mà ông ta buộc lòng phải chi trả hay là lời chòng ghẹo đầy trìu mến dành cho người phụ nữ mà ông ta sẵn lòng tiêu pha đến đồng cắc cuối cùng cho người ấy. Nhưng tôi không thể phát ra những âm tiết của sự tức giận hay rối rít lên khi hạnh phúc; các câu chữ của tôi sẽ không bao giờ run run tiếng nói một cảm xúc nào hết cả, không cao vút lên một cách dự đoán được vì một tiếng cười ngay trước một câu phản kích bất ngờ, hay trầm xuống đầy nguy hiểm khi trong cơn giận dữ. Thay vì vậy tôi  ngây ra bất động trước mỗi cảm xúc và tất cả các từ ngữ đều mang mộ thứ âm vực điện tử đều đều.

Sau ngữ điệu, là sự ngắt quãng. Tôi từng dành hàng giờ để mơ mộng về những điều mà mình sẽ nói hay về việc có những cuộc đàm thoại bất tận trong đầu mình. Nhưng giờ đây khi tôi đã có thể nói chuyện, tôi không thường có được cơ hội để nói ra những gì mình muốn. Một cuộc đối thoại cùng tôi thực luôn chậm chạp và tốn nhiều thời gian và đòi hỏi kiên nhẫn mà nhiều người không thể có. Người có thể nói chuyện được với tôi buộc phải ngồi xuống và đợi cho tôi nhập vào các biểu tượng trên máy tính hoặc chỉ vào từng chữ cái trong bảng chữ cái của mình. Và người ta thường thấy rằng sự yên lặng thật khó mà chịu đựng, nên họ thường không nói chuyện với tôi.

Hiện tại tôi đã làm việc được hơn sáu tháng; tôi đã có cho mình những người bạn và cả những người đồng nghiệp; tôi đã gặp gỡ những người lạ khi mà tôi bước ra ngoài thế giới; và tôi tiếp xúc với tất cả mọi người. Khi làm vậy, tôi thấy rằng tiếng nói của con người chuyển dịch theo một chu trình không khép kín, câu này nối tiếp câu kia khi mà họ mở miệng. Nhưng tôi lại cắt ngang cái giai điệu ấy và làm rối hết cả lên. Người ta phải nỗ lực để tỉnh táo khi nhìn vào tôi và lắng nghe những gì tôi nói. Họ buộc lòng phải cho tôi không gian để nói chuyện bởi vì tôi không thể nói xen vào, nhưng mà nhiều người không muốn lắng nghe sự yên lặng mà tôi tạo ra. Tôi hiểu được lý do vì sao, bởi vì chúng ta đang sống trong một thế giới mà hiếm khi chúng ta lại không nghe thấy gì hết cả. Vẫn luôn có tiếng TV hay tiếng đài phát thanh, tiếng chuông điện thoại hay tiếng còi xe lấp kín những khoảng lặng, còn nếu không thì vẫn có những lời nói vô nghĩa đấy thôi. Nhưng một cuộc đối thoại cùng tôi thì cũng bao hàm nhiều im lặng như những con chữ, và tôi nhận ra được những từ ngữ của tôi có được lắng nghe hay không bởi vì tôi lựa chọn chúng vô cùng cẩn thận.

Tôi hầu như không hoạt ngôn như tôi từng nghĩ. Khi gia đình tôi nói chuyện với nhau trong bữa tối, tôi thường vẫn lặng yên, và khi mà các đồng nghiệp cùng bàn tán về những việc họ làm vào mỗi cuối tuần, đôi khi tôi cũng không tham gia góp chuyện. Mọi người không hẳn là không đối xử tử tế với tôi; họ chỉ không nghĩ ra rằng họ cần phải dừng câu chuyện lại và cho phép tôi tham gia vào. Họ cho rằng tôi là một phần trong câu chuyện của họ bởi vì tôi đang ở trong cùng một căn phòng, nhưng tôi không phải. Thời điểm tốt nhất để tôi có thể nói chuyện là khi ở bên một người mà biết tôi đủ rõ để đoán trước những gì tôi muốn nói.

“Cậu muốn đi xem xi-nê à?” Erica sẽ hỏi tôi như vậy khi tôi chỉ vào chữ “C” và chữ “I.”

“Cậu thấy cô ấy dễ thương hử?” cô ấy sẽ hỏi vậy khi tôi mỉm cười với một phụ nữ đi ngang qua.

“Muốn uống nước không?” cô ấy sẽ quả quyết như vậy khi tôi lấy bảng từ vựng về đồ uống ra trên màn hình máy tính xách tay.

Tôi vẫn thích những khi Erica làm như vậy bởi vì tôi cũng mong muốn được đi đường tắt như bất kỳ ai khác. Chỉ bởi vì cuộc đời tôi trôi chậm chạp như một đứa trẻ sơ sinh to xác cần tới tã lót, bình nước, ống hút, và một cái mũ chống nắng trước khi nó có thể bước ra ngoài thì cũng không có nghĩa là tôi mong muốn cuộc sống của mình diễn ra theo cách đó. Vì thế mà tôi thấy vui mừng khi những người biết rõ tôi có thể giúp tôi gia tốc cho cuộc sống của mình đôi chút. Họ dường như không bận tâm rằng tôi sẽ giận nếu như họ xen vào trong lúc chúng tôi nói chuyện. Nếu chỉ có họ biết tôi sẽ thấy vui mừng về sự cắt ngang và cả thúc đẩy trong những cuộc trò chuyện mà tôi thường nghe thấy quanh mình.

Tôi vẫn thường tự hỏi liệu người khác có cho rằng tôi có một chút khiếu hài hước nào hay không. Hài kịch vốn là thứ tập trung quanh vấn đề thời điểm, sự truyền đạt và nắm bắt trong chớp nhoáng, và một cái nhướn mày, và tôi chỉ có thể kiểm soát được yếu tố cuối cùng, trong khi hai yếu tố đầu tiên là một vấn đề tuyệt đối nan giải với tôi. Người khác phải hiểu tôi thật rõ mới biết được rằng tôi rất thích đùa, và thực tế rằng tôi vẫn thường yên lặng dễ khiến họ lầm tưởng tôi vốn dĩ là một người nghiêm túc. Có đôi khi tôi có cảm giác như thể tôi vẫn còn là kẻ mà người khác phải tạo ra tính cách cho mình, như trong những tháng năm mà tôi vẫn không thể tự mình giao tiếp. Tôi vẫn còn tồn tại như một trang giấy trắng để người khác tự ghi vào kịch bản của họ trên nhiều phương diện.

“Cậu thật là dễ thương,” người ta vẫn thường nói vậy.

“Cậu có tính cách thật là dễ chịu!” hết người đến người khác nói với tôi như thế.

“Anh quả là một người tử tế,” một ai đó nhận xét.

Chỉ nếu như họ biết tới những lo lắng cồn cào, những tuyệt vọng day dứt, và những ham muốn tính dục đến phát đau cũng tuôn trào trong mạch máu của cơ thể tôi từng lúc. Tôi không phải là kẻ câm lặng dịu dàng như họ vẫn thường cho là; tôi chỉ may mắn là tôi không vô tình phản bội cảm xúc của mình bằng cách đớp trả trong sự giận dữ hay rên rỉ trong cơn khó chịu. Nên giờ đây tôi thường nhận thấy rằng tôi là một mã số cho những gì mà người khác muốn nghĩ về tôi.

Lần duy nhất mà tôi có thể đoan chắc rằng người khác sẽ bận tâm những gì tôi nói là khi tôi thực sự nói chuyện cùng với họ. Trẻ em không phải là những đối tượng duy nhất cho thấy tính tò mò bệnh hoạn cố hữu khi cứ nhìn chằm chằm vào đối tượng – chẳng qua là những người lớn có khả năng che dấu tốt hơn mà thôi. Người ta vẫn thường nhìn chằm chằm vào tôi khi mà tôi chỉ vào từng chữ cái trên bảng chữ cái với đôi bàn tay có lẽ vẫn là bộ phận thất thường nhất trên cơ thể mình. Trong khi tay trái của tôi vẫn còn không thể tin cậy được, tôi có thể sử dụng tay phải để chỉ vào các con chữ trong bảng chữ cái và điều khiển máy tính. Nhưng mà tôi không thể cầm chắc một đồ vật như một chiếc cốc. Cho dù tôi có thể bốc thức ăn và đưa vào miệng, thì tôi vẫn không thể cầm một vật như chiếc nĩa vì sợ rằng tôi sẽ tự đâm mình mất do cử động của tôi vẫn còn giật cục. Ít nhất thì hiện giờ tôi cũng sử dụng bảng chữ cái nhanh đến nỗi nhiều người lạ ngày càng cảm thấy vất vả hơn khi nhìn qua vai tôi và ‘lắng nghe.’

“Thằng bé quá nhanh so với tốc độ của tôi!” mẹ tôi vừa cười vừa nói với một người đàn ông đang quay ra nhìn chúng tôi khi chúng tôi nói chuyện trong lúc xếp hàng chờ thanh toán tiền trong siêu thị.

Người đàn ông nom có vẻ bối rối khi mẹ nói chuyện với ông ta, rõ ràng là sợ rằng ông ta sẽ bị mắng nhiếc. Nhưng chúng tôi đã quá quen với những việc như thế nên cả mẹ và tôi đều không mấy bận tâm. Bất chấp khó khăn này trong giao tiếp, tôi vẫn trân trọng thực tế rằng tôi đã được trao cho cơ hội để cất lên tiếng nói. Tôi đã được trao cho một cơ hội mà tôi đón nhận, và nếu như không có nó thì tôi sẽ chẳng thể ở vào vị trí hiện tại. Sự hồi phục của tôi là công sức của rất nhiều người – Virna, ba mẹ tôi, các chuyên gia tại trung tâm giao tiếp – bởi vì tôi sẽ không bao giờ có thể nói chuyện nếu thiếu sự giúp đỡ của họ. Những người khác không được may mắn đến thế.

Gần đây, tại cái siêu thị mà tôi gặp người đàn ông đã cố nghe lén cuộc nói chuyện giữa tôi và mẹ, chúng tôi nhìn thấy một người phụ nữ lớn tuổi được đẩy trên một chiếc xe lăn. Bà ấy khoảng chừng năm mươi tuổi. Ngay sau đó mẹ tôi bắt chuyện với bà và người chăm sóc bà ấy. Có lẽ người phụ nữ kia có sử dụng ngôn ngữ cử chỉ hay có chỉ vào những đồ vật nhưng vì một vài lý do mà mẹ tôi phát hiện ra rằng bà ấy không còn nói được sau một cơn đột quỵ.

“Liệu gia đình chị có biết về tất cả những việc có thể thực hiện để giúp chị tiếp tục giao tiếp không?” mẹ tôi hỏi người phụ nữ trước khi chỉ cho bà ấy thấy bảng chữ cái của tôi. “Ngoài kia có  nhiều thứ như thế này lắm, nhưng chị phải đi tìm mới được.”

Người chăm sóc kể với chúng tôi rằng người phụ nữ này có một cô con gái lớn. Mẹ nài cô y tá nói lại với cô con gái kia rằng cô ấy đã gặp một người và cho cô biết về cách có thể giúp đỡ cho người mẹ của cô con gái.

“Chẳng có lý do nào mà chị lại không thể nói chuyện với con gái của mình nữa cả,” mẹ nói với người phụ nữ. “Chị chỉ cần tìm ra biện pháp phù hợp nhất với mình mà thôi.”

Nhưng vào lần sau chúng tôi gặp lại, cô y tá nói với chúng tôi rằng cô con gái của người phụ nữ này không có bất kỳ động tĩnh gì trước những gì mà cô ấy đã kể.

“Tại sao cô lại không cho tôi số điện thoại của cô ấy nhỉ?” mẹ hỏi. “Tôi sẽ rất vui lòng được nhắc lại với cô ấy rằng cô ấy không nên từ bỏ một hy vọng hay nghe theo những gì mà bác sỹ nói.”

Khi cô y tá ghi lại số điện thoại vào một mẩu giấy, tôi nhìn vào người phụ nữ ngồi đối diện tôi trên chiếc xe lăn.

“C-H-Ú-C-M-A-Y-M-Ắ-N,” tôi đánh vần trên bảng chữ cái, và bà ấy nhìn vào tôi thật lâu, thật lâu.

Vài ngày sau mẹ bước vào phòng khách sau khi đã gọi điện cho cô con gái của người phụ nữ kia.

“Mẹ không cho là cô ấy muốn nghe mẹ nói,” mẹ bảo tôi. “Cô ấy không hứng thú gì cả.”

Chúng tôi không nói về chuyện này nữa. Chúng tôi đều biết rằng người phụ nữ kia sẽ không bao giờ có thể thoát khỏi sự kìm hãm của cơ thể mình – bà ấy không bao giờ được trao cho cơ hội. Người phụ nữ ấy sẽ mãi mãi im lặng bởi vì không một ai sẵn lòng giải thoát cho bà hết cả.

Sau sự kiện đó, tôi thường nghĩ về người phụ nữ ấy và tự hỏi giờ bà ấy ra sao. Nhưng mỗi lần như vậy, tôi lại nhớ đến ánh mắt của người phụ nữ ấy khi bà nhìn vào tôi trong lần cuối cùng chúng tôi gặp nhau ở siêu thị. Trong đó chất đầy sự sợ hãi. Và giờ thì tôi đã hiểu tại sao.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: