A MILLION LITTLE PIECES – CHƯƠNG 5 (1)

 

CHƯƠNG 5

Tôi mở mắt ra. Các bạn cùng phòng vẫn còn đang ngủ và cả căn phòng chìm trong im lặng và tĩnh tại và bóng tối. Tôi ngồi dậy và tôi cào tay lên tóc và tôi nhìn xuống gối và tôi thấy mặt gối dính máu. Tôi chạm vào mặt mình và nhận ra tôi đang chảy máu.

Tôi đứng dậy và tôi bước mười bước chậm chạp về phía phòng vệ sinh và tôi mở cửa ra và tôi đi vào và tôi bật đèn lên. Tôi nhắm mắt lại khi đèn sáng lên và tôi tập làm quen với nó, tôi bước tới phía trước và bám tay vào bồn rửa mặt. Tôi mở mắt ra và nhìn vào gương và lần đầu tiên sau năm ngày tôi nhìn thấy khuôn mặt mình.

Môi tôi bị rách và nứt và chúng sưng phù lên gấp ba lần so với kích cỡ bình thường. Ở bên má trái hàng chỉ khâu đóng vảy cứng nối một vết cắt dài và sâu chừng ba phân lại với nhau. Mũi tôi vẹo vọ và sưng lên bên dưới vết băng và dòng máu đỏ chảy xuống từ mũi tôi. Bên dưới hai mắt là những vết bầm màu đen và vàng. Có máu, đã khô và còn ướt, ở khắp mọi nơi.

Tôi với tay lấy một tờ khăn giấy và làm ướt nó và tôi bắt đầu nhẹ nhàng chùi mặt. Vảy cứng ở trên má vỡ ra và tôi rên lên vì đau và tờ khăn giấy ướt sũng. Tôi vứt nó đi và với lấy một tờ khác. Và lặp lại động tác lần nữa.

Tôi lập lại lần nữa.

Tôi lập lại lần nữa.

Tôi xong việc và tôi vứt tờ khăn giấy cuối cùng đi và tôi rửa tay và tôi nhìn máu đỏ trên da thịt tôi loang ra trong bồn rửa mặt và tháo nút xả nước. Tôi tắt vòi nước và cào tay lên tóc và chúng thật ấm và tôi cảm thấy khá ổn và tôi cố gắng nhìn lại mình trong gương.

Tôi muốn nhìn thấy đôi mắt mình. Tôi muốn nhìn xuyên qua bề mặt của đôi con ngươi màu xanh lá nhạt kia và nhìn xem bên trong tôi là cái gì, ở trong con người tôi là gì, tôi đang giấu diếm điều gì. Tôi bắt đầu nhìn lên nhưng rồi tôi quay mặt đi. Tôi ép buộc bản thân nhưng rồi tôi không làm thế được.

Tôi quay lại và bước ra khỏi phòng tắm và đi về phòng chính. Larry và Warren và John đều đã thức và đang mặc quần áo. Họ chào tôi và tôi chào lại họ và tôi trở lại giường mình và tôi leo lên giường. Tôi cảm thấy bắt đầu dễ chịu, John bước tới và đứng trước mặt tôi.

Cậu đang làm gì thế?

Thế tôi giống như đang làm gì?

Ngủ tiếp.

Đúng vậy.

Cậu không thể làm thế.

Sao không?

Chúng ta phải làm việc.

Việc gì?

Mỗi người chúng ta có một việc. Chúng ta thức dậy vào buổi sáng và chúng ta làm việc.

Bây giờ á?

Ừ.

Tôi xuống giường và tôi đi theo John lên tầng trên của Khoa. Roy nhìn thấy tôi và hắn ta bước tới chỗ tôi và hắn đưa tôi tới chỗ bảng phân công công việc và chỉ cho tôi thấy và giải thích về nó.

Có một công việc, có tên của cậu trên đó. Cậu càng ở đây lâu, thì phần việc càng dễ dàng. Vì cậu mới tới đây, nên cậu phải cọ toilet. Tôi hỏi hắn chỗ để dụng cụ ở đâu và hắn chỉ cho tôi. Tôi cầm chúng lên và tôi đi về phía nhà vệ sinh, hắn nói.

Hãy đảm bảo là chúng thật sạch nhé.

Tôi sẽ.

Thật sạch đấy.

Tôi biết rồi.

Tôi tìm thấy toilet cần cọ, hai phòng vệ sinh ở tầng trên dành cho các chuyên gia tư vấn, những người không muốn đi về phòng của họ và khách thăm. Chúng rất nhỏ, có một bồn cầu và bồn tiểu và một bồn rửa mặt trong mỗi phòng. Tôi đi vào trong và cọ bồn cầu và bồn tiểu và bồn rửa mặt. Tôi đổ rác và thay cuộn giấy vệ sinh mới. Tôi chùi sàn. Chẳng phải công việc vui vẻ gì, nhưng tôi đã từng cọ toilet trước đây, nên cũng chẳng phiền lòng làm chi.

Tôi hoàn thành công việc và trả dụng cụ về chỗ cũ và tôi quay trở lại phòng mình và tôi đi vào phòng tắm và tôi thấy thật mệt. Tôi chưa uống một giọt nào trong suốt ba ngày vừa qua và tôi chưa sờ tới một tí cocaine nào trong suốt năm ngày nên cảm giác mệt mỏi cũng không hẳn tệ hại như mọi khi, nhưng tôi vẫn bắt đầu cảm thấy mệt theo những cách khác. Tôi đậy nắp bồn cầu và xả nước và ngồi xuống và nhìn chằm chằm vào tường. Tôi tự hỏi điều gì đang xảy ra với mình thế này. Tôi đứng lên và bắt đầu đi lại quanh căn phòng. Tôi khoanh tay lại và xoa xát cơ thể mình. Tôi thấy lạnh và cơn rùng mình chạy dọc sống lưng tôi. Trong một lúc tôi muốn khóc, một lúc tôi muốn giết người, một lúc tôi muốn chết đi. Tôi nghĩ về việc bỏ trốn nhưng chẳng có nơi nào để tôi đi hết cả nên tôi cứ đi lại và xoa người mình và tôi thấy lạnh.

Larry mở cửa ra và bảo tôi rằng đã tới giờ ăn sáng nên tôi đi theo anh ta và Warren và John tới phòng ăn và tôi đứng xếp hàng và lấy thức ăn. Tôi tìm thấy một chiếc bàn còn trống và tôi ngồi xuống và tôi bắt đầu ăn tô cháo ngũ cốc ngọt còn ấm và uống nước từ trong cốc. Cảm giác ban nãy đã dịu đi, nhưng không hoàn toàn biến mất. Tôi nghĩ rằng mình sẽ điên mất.

Tôi ăn hết tô cháo và tôi ngồi lại ghế và nhìn quanh quất phòng ăn và tôi thấy Ken đang nói chuyện với một người ở Khoa tôi. Người đó chỉ vào tôi và Ken đi tới bàn nơi tôi ngồi và anh ta ngồi xuống trước mặt tôi.

Cậu cảm thấy ổn chứ?

Tôi ổn.

Cậu đã suy nghĩ về cuộc nói chuyện của chúng ta chưa?

Rồi.

Có kết luận gì không?

Không.

Cậu cứ suy nghĩ đi.

Tôi sẽ.

Sáng nay cậu có một cuộc hẹn với bác sĩ răng hàm mặt.

Được.

Tôi sẽ đưa cậu tới khoa khám bệnh và sau đó cậu sẽ được điều trị, tôi sẽ đưa cậu ra xe. Bác tài xế sẽ đưa cậu tới nơi hẹn, đợi cậu và chở cậu về.

Được.

Rồi, sau đó cậu sẽ ăn trưa, chúng ta sẽ tiến hành làm một bài kiểm tra gọi là MMPI[1]. Đấy là một bài trắc nghiệm tâm lý đơn giản nhằm giúp chúng tôi biết được làm thế nào để giúp cậu.

OK.

Anh ta đứng lên.

Cậu sẵn sàng chưa?

Tôi cầm lấy khay thức ăn và đứng lên.

Vâng.

Tôi cất cái khay và chúng tôi rời đi và chúng tôi quay trở về Khoa khám bệnh. Tôi nhận thuốc và uống chúng và chúng tôi đi ra cổng chính của bệnh viện nơi có một chiếc xe ôtô đang chờ sẵn. Ken đưa cho tôi chiếc áo khoác để tôi không bị lạnh và chúng tôi đi ra ngoài trời và anh ta đẩy cửa xe và nói chuyện với người tài xế trong lúc tôi trèo lên ghế lái phụ và tìm cho mình một tư thế dễ chịu. Ken nói lời tạm biệt và tôi chào đáp lại và anh ta đóng cửa xe và người tài xế bắt đầu nổ máy xe và chúng tôi lái đi.

Thời tiết chuyển xấu. Mây đen giăng kín bầu trời và từng mảng tuyết tụ lại khắp mặt đất. Nơi từng là một màu xanh mơn mởn thì nay trở nên đen xạm. Nơi từng xum xuê cành lá thì nay trơ trụi khẳng khiu. Trời thì lạnh và đương mùa đông và cả thế giới chìm trong mộng mị.

Tôi nhìn ra vùng đất phủ băng đang trôi đi bên ngoài cửa kính xe. Hơi thở của tôi đọng lại trên mặt kính và tôi bắt đầu run rẩy. Tôi co người lại và tôi nhìn người tài xế lúc này cũng đang co người lại và đang lái xe chầm chậm và cẩn thận quan sát đường phố.

Ông có nghĩ ta cần tăng nhiệt độ lên không?

Người tài xế quay sang nhìn tôi.

Cậu lạnh à?

Tôi đáp lại cái nhìn của ông.

Tôi lạnh bỏ mẹ.

Ông ta bật cười.

Nhanh thôi, con trai. Một khi động cơ nóng lên, thì chúng ta sẽ thấy ấm hơn.

Chúng tôi dừng lại ở một ngã tư trơ trọi nơi đèn giao thông đang dừng ở màu đó và con đường vắng tanh và gió thốc tung những mảnh giấy và đám lá rụng lên không trung. Người tài xế nom có vẻ cổ điển. Ông có mái tóc bạc rối bù và bộ râu bạc rối bù và đôi mắt xanh nhạt màu. Làn da ông như được làm bằng da thuộc. Cánh tay khẳng khiu, nhưng nom rắn chắc, và đối lập với tuổi tác của mình, nom ông vẫn còn mạnh khỏe. Ông vươn tới bắt tay tôi.

Tôi là Hank.

Chúng tôi bắt tay nhau.

Cháu là James.

Có chuyện gì thế?

Không rõ lắm.

Cậu quậy quá trời hả?

Nom nó như thế nào ạ?

Như thể đấy là một nhận xét hơi có phần nhẹ quá.

Cái nhìn đôi khi rất giả dối.

Chúng tôi bật cười và đèn hiệu chuyển sang màu xanh và Hank tiếp tục lái xe và chúng tôi tiếp tục chuyện trò. Ông đến từ Massachusetts, nơi ông dành gần như cả đời mình trên cương vị Thuyền trưởng của một con tàu đánh cá thương mại. Ông vẫn luôn uống, nhưng sau khi nghỉ hưu thì sự việc trở nên tệ hại hơn. Ông đánh mất ngôi nhà, người vợ, gia đình, và tâm trí mình. Ông tới đây để được giúp đỡ và sau khi hồi phục ông quyết định ở lại và xem xem liệu mình có thể giúp ích được gì cho những người khác hay không. Ông là một người dễ gần và trong suốt chuyến đi, tôi bắt đầu xem ông là một người bạn.

Chúng tôi lái xe vào một thị trấn nhỏ và rẽ vào một con đường có vẻ như là tuyến phố chính. Ở nơi đó có cửa hàng thực phẩm, một cửa hàng dụng cụ và một đồn cảnh sát. Những đồ trang trí cho lễ Halloween được giăng đầy trên những cột đèn đường, và người dân, dường như đều quen biết nhau cả, cứ tha thẩn ra vào khắp các cửa hàng. Hank đậu xe trước một cửa hàng bán đồ thể thao và chúng tôi xuống xe và chúng tôi đi vào một cánh cửa nhỏ nằm bên cạnh lối vào chính của cửa hàng. Hank mở cửa và chúng tôi leo lên các bậc thang và chúng tôi đi qua một cánh cửa khác và chúng tôi bước vào một căn phòng nhỏ, tối có hai chiếc ghế bành, một quầy lễ tân có cửa trượt bằng kính và một chiếc bàn nhỏ bày tạp chí và sách thiếu nhi.

Hank đi về phía quầy lễ tân và tôi đi về phía một trong hai chiếc ghế bành và tôi ngồi xuống và tôi bắt đầu chọn tạp chí để đọc. Trên chiếc ghế bành còn lại có một người phụ nữ ngồi cùng với một cậu bé đang lật xem quyển sách tranh về chú voi Babar. Khi tôi tìm thấy một tờ báo và tôi dựa lưng vào ghế để bắt đầu đọc nó, tôi nhìn thấy người phụ nữ đang quan sát tôi bằng khóe mắt. Cô ta dịch lại gần đứa trẻ và vòng tay quanh người và cúi xuống và hôn lên trán thằng bé. Tôi biết vì sao cô ta lại làm thế và tôi không trách cứ gì cô ta hết và khi tôi giở tờ tạp chí ra trái tim tôi đau nhói và tôi hy vọng rằng cậu bé này khi lớn lên sẽ không trở thành một thứ giống như tôi.

Hank quay trở lại từ quầy lễ tân.

Họ sẽ tới đón cháu ngay.

Tôi đặt tờ tạp chí xuống và đứng lên.

Vâng.

Tôi thấy sợ và Hank nhìn thấy được điều đó.

Cháu ổn chứ?

Ông đặt tay lên vai tôi.

Vâng.

Ông nhìn thẳng vào mắt tôi.

Bác biết đây là một thị trấn nhỏ, nhưng những người ở đây biết rõ những việc họ làm, con trai ạ.

Cháu sẽ ổn cả thôi.

Tôi nhìn đi chỗ khác.

Một người y tá gọi tên tôi và Hank dời tay đi và tôi đi về phía cánh cửa mở nơi y tá đang đợi mình. Trước khi đi tôi quay lại và nhìn thấy người phụ nữ và đứa bé đang nhìn tôi chăm chú. Tôi nhìn Hank và ông gật đầu và tôi gật đầu đáp lại và trong một giây phút ngắn ngủi tôi cảm thấy mình mạnh mẽ. Không đủ mạnh để tự đối diện với chính mình, nhưng cũng đủ để tiếp tục bước đi.

Tôi đi qua cánh cửa và cô y tá đưa tôi tới một căn phòng sạch sẽ màu trắng và tôi ngồi xuống một cái ghế nha khoa lớn nằm ở chính giữa căn phòng và cô y tá bỏ tôi lại đó và tôi chờ đợi. Vài giây sau một vị bác sĩ nha khoa bước vào. Ông ta khoảng tầm bốn mươi tuổi và cao ráo và có mái tóc màu tối và cặp mắt màu tối và làn da rắn rỏi. Nếu bỏ đi chiếc áo blouse màu trắng và tập hồ sơ, ông ta trông giống như một gã tiều phu.

Cậu là James?

Ông ta kéo một chiếc ghế lại và ngồi xuống trước mặt tôi.

Vâng.

Tôi là bác sĩ David Stevens, rất vui được gặp cậu.

Chúng tôi bắt tay nhau.

Tôi cũng vậy.

Ông ta xỏ tay vào một đôi găng tay y tế.

Tôi có được một một số thông tin về cậu từ bác sĩ ở trung tâm điều trị.

Ông ta lấy ra một cái đèn pin nhỏ từ túi áo.

Nhưng tôi cần kiểm tra them một chút, để xem tình trạng của cậu ra sao.

Ông nghiêng người về trước.

Cậu há miệng ra được không?

Tôi há miệng và ông ấy bật đèn pin lên và đưa nó đến gần mặt tôi.

Tôi có thể chạm vào môi trên của cậu không?

Tôi gật đầu đồng ý và ông ấy đặt chiếc đèn pin xuống và ông nâng môi tôi lên và cầm lên một thứ dụng cụ bằng kim loại dài và mỏng với một đầu nhọn.

Có thể sẽ đau đấy.

Ông ta chạm vào phần bị mẻ của chiếc răng cửa bằng đầu nhọn của thanh kim loại và bắt đầu nhấn vào phần bị tổn thương trên lợi tôi. Cơn đau ập đến tức thì, sắc bén và tràn ngập. Tôi muốn ngậm miệng lại và buộc ông ta dừng lại, để cơn đau biến mất, nhưng tôi không làm vậy. Tôi nhắm mắt lại và nắm chặt tay thành nắm đấm và xiết chặt. Tôi có thể cảm thấy đôi môi mình run rẩy và tôi có thể cảm thấy mùi vị của máu và khi bác sĩ chạm vào răng tôi, chúng lung lay. Việc kiểm tra hoàn tất và tôi nghe thấy tiếng ông đặt lại thanh dụng cụ vào khay. Tôi thả lỏng và mở mắt ra.

Ta cần phải chụp X quang, nhưng theo như tôi thấy thì chúng ta sẽ cần phải làm phẫu thuật.

Tôi nắm tay lại. Xiết chặt.

Hai chiếc răng bị vỡ, nhưng chân răng thì không hề gì.

Môi tôi run rẩy.

Ta có thể bọc chúng lại và cậu sẽ ổn thôi.

Tôi có thể nếm được vị của máu.

Nhưng mà, hai cái răng cửa thì bị chết tủy rồi.

Tôi đưa lưỡi dọc vòm lợi phía trên.

Ta sẽ phải đào chân răng ra và đặt vào cầu răng giả.

Tôi cảm nhận được phần còn lại của răng mình. Mẩu răng vỡ sắc nhọn và ngắn cũn.

Sẽ không dễ chịu đâu, nhưng trừ khi cậu bằng lòng với việc không có răng nữa, thì đây là lựa chọn duy nhất.

Tôi gật đầu.

Tôi sẽ lên lịch hẹn cho cậu trong vài ngày tới. Khi ấy môi cậu sẽ bớt sưng và ta đằng nào cũng phải chờ đến lúc ấy.

Tôi gật đầu.

Rất vui được gặp cậu, James.

Rất vui được gặp ông.

Ông ta đứng lên và chúng tôi bắt tay nhau và ông ta rời đi. Một y tá khác bước vào phòng và cô ta rửa miệng cho tôi và nhét vào cục bông gòn và tiến hành chụp X quang. Khi cô xong việc, cục bông thấm đẫm máu và trong miệng tôi có cảm giác như thể nó vừa được chà bằng giấy nháp và bị búa đập vào. Cô bảo với tôi rằng tôi có thể đi rồi và cô rời đi và tôi đứng dậy và tôi quay trở lại sảnh chờ. Hank đang ngồi trên một chiếc ghế bành và đọc cuốn tạp chí về đời sống cá nhân của các siêu sao điện ảnh và tôi đi tới chỗ ông và tôi ngồi xuống bên cạnh và ông đặt tờ báo xuống và ông quay sang nhìn tôi.

Thế nào rồi?

Ổn ạ.

Họ sẽ chữa cho cháu chứ?

Theo họ nói là vậy.

Bác sẽ đi hỏi xem cháu cần tái khám khi nào.

Ông đứng lên và đi tới quầy lễ tân và nói chuyện với người trực quầy và ông quay trở lại và chúng tôi rời khỏi đó và chúng tôi ngồi vào xe và bắt đầu lái về trung tâm cai nghiện. Hank cố gắng thể hiện sự thân thiện và nói chuyện với tôi nhưng mồm tôi đau quá nên ông để tôi yên. Tôi nhìn ra ngoài cửa xe.

Tôi nghĩ về nàng. Tôi nghĩ về cái lần đầu tiên khi tôi gặp nàng. Khi ấy tôi tròn mười tám và vẫn còn đi học và tôi đang ngồi dưới một tán cây có lá màu vàng và màu cam của tiết trời tháng Mười. Tôi cầm một cuốn sách trong tay và tôi đang đọc và vì một lý do nào đó mà tôi ngước nhìn lên. Nàng khi ấy đi bộ một mình qua bãi cỏ của trường học và hai tay ôm một chồng giấy. Nàng bị vấp và đống giấy rơi xuống đất và nàng cúi xuống nhặt chúng lên và nhìn quanh xem có ai thấy hay không. Nàng không trông thấy tôi, nhưng khi nàng loay hoay nhặt giấy tờ thì tôi lại thấy nàng. Nàng không thấy tôi, còn tôi thấy nàng.

Xe dừng lại trước cửa vào trung tâm cai nghiện và Hank và tôi cùng xuống xe và tôi bước tới chỗ Hank và cảm ơn ông vì đã chở tôi đi và giúp đỡ tôi. Ông bảo tôi rằng tôi nom như thể cần một cái ôm và tôi bật cười và ông chẳng thèm để ý tới tôi và ông tiến tới và vòng tay quanh người tôi và ôm lấy tôi. Tôi thấy ấm áp với sự mãn nguyện giản đơn của sự tiếp xúc của con người và lần đầu tiên sau một thời gian dài tôi thực sự cảm thấy tốt đẹp. Cái ôm khiến tôi không thoải mái lắm nên tôi duỗi ra và tôi chào tạm biệt và cảm ơn ông lần nữa và tôi quay trở vào trong nhà. Nhân viên lễ tân báo với tôi rằng đã đến giờ ăn trưa nên tôi đi vào phòng ăn và tôi đứng xếp hàng và tôi lấy một bát súp và một cốc nước và tôi tìm được một bàn trống và tôi ngồi xuống và tôi cố gắng hết sức để đưa thức ăn qua vòm miệng tàn tạ đầy máu của mình.

Ê, nhóc.

Tôi ngước lên. Một người đàn ông đứng đối diện tôi. Ông ta tầm năm mươi tuổi, cao vừa phải, thân hình cân đối. Ông ta có mái tóc dày màu nâu còn phần trên đỉnh thì mỏng dính và một khuôn mặt tàn tạ như thể vừa mới ăn một vái cú đấm. Ông ta diện một chiếc áo sơ mi Hawaii có màu vàng và xanh da trời, đôi kính gọng bạc và chiếc đồng hồ Rolex bằng vàng to tướng. Ông ta nhìn tôi. Ông ta đặt cái khay xuống. Ông ta nom có vẻ tức tối.

Có nhớ tao không?

Không.

Chú mày cứ đi loanh quanh suốt hai ngày qua và không ngừng gọi ta là Gene Hackman[2]. Giờ thì ta biết là người ta chuốc cho chú mày mấy cái thứ thuốc tiêu độc chết tiệt kia, nhưng ta không phải Gene Hackman, ta chưa bao giờ là Gene Hackman, và sẽ không bao giờ là Gene Hackman hết, và nếu như chú mày còn gọi ta bằng cái tên Gene Hackman khốn khiếp kia nữa, thì chúng ta to chuyện rồi đấy nhá.

Tôi cười.

Có gì vui lắm à?

Tôi lại phá lên cười. Ông ta quả trông giống Gene Hackman thật.

Chú mày nghĩ chuyện này buồn cười lắm à, cái thằng ranh này?

Tôi nhìn ông ta và tôi mỉm cười. Răng tôi bị gãy và điều khiến tôi càng thấy buồn cười tợn.

Mày nghĩ rằng chuyện này buồn cười lắm chứ gì?

Tôi nhìn ông ta. Ông ta có đôi mắt dữ dội, đầy giận giữ và khát máu. Tôi thấu hiểu ánh mắt ấy và tôi biết cách xoay xở với nó. Chẳng có gì lạ lẫm.

Tôi đứng lên và nụ cười trên khuôn mặt tôi biến mất. Tôi trừng mắt nhìn người đàn ông và cả căn phòng trở nên im lặng. Rồi tôi nói.

Tôi không biết ông. Tôi không nhớ là có gặp ông rồi, tôi còn chẳng nhớ là có nói chuyện với ông không và chắc chắn là tôi không nhớ có gọi ông là Gene Hackman, nhưng nếu quả có thật, à, thì tôi nghĩ chuyện này rất buồn cười.

Tôi có thể cảm thấy hầu hết mọi người đều đang quay lại nhìn chúng tôi và tim tôi đập gia tốc và người đàn ông kia đang trừng mắt nhìn tôi và đôi mắt ông ta thật dữ dội, đầy giận giữ và khát máu. Tôi biết tình trạng của tôi lúc này không thể lao vào ẩu đả được, nhưng tôi chẳng bận tâm. Tôi cảm thấy mình đã sẵn sang rồi. Tôi găng người lên, nghiến răng, và nhìn thẳng về phía trước, ánh mắt tôi cố định, tập trung và không chớp.

Nếu như ông buộc tôi phải tẩn ông, lão già, thì ta làm luôn đi thôi.

Ông ta choáng váng. Không phải là sợ hay không sẵn lòng, mà chỉ đơn giản là choáng. Tôi nhìn thẳng phía trước

Mày vừa nói gì?

Ánh mắt cố định, tập trung và không chớp.

Tôi nói là nếu ông ép tôi phải đánh ông, thì ta chiến luôn đi.

Tên mày là gì, nhóc?

James.

James, tao là Leonard.

Ông ta mỉm cười.

Tao không biết chú mày là thằng khốn ngu nhất hay dũng cảm nhất mà tao từng gặp, nhưng nếu như chú mày trả lời một câu hỏi của tao, thì tao sẽ bỏ qua vụ vừa rồi.

Câu hỏi gì, Leonard?

Chú mày có bê tha không, James?

Có, Leonard ạ, tôi có bê tha. Tôi bê bết không chịu nổi.

Tốt, bởi vì tao cũng bê bết. Tao thích mấy thằng bê tha và tao cố dính với chúng càng nhiều càng tốt. Sao mình không ngồi xuống và dùng bữa với nhau nhỉ, xem xem chúng ta có thể quên đi sự khác biệt và trở thành bạn bè được không. Ta có thể kết được bạn ở nơi này đấy.

Được thôi.

Chúng tôi ngồi xuống và ăn bữa trưa và Leonard nói và tôi thì nghe ông ta nói. Leonard đến từ Las Vegas và đã ở đây được một tuần. Ông ta nghiện cocaine và dự định ở lại đây một năm. Suốt mười hai tháng vừa rồi ông ta chẳng làm gì ngoại trừ ăn đồ ăn của nhà giàu, uống mấy thứ đắt tiền, chơi golf và hít nhiều nhất có thể. Ông ta thấy đủ rồi, ông ta nói vậy, rằng nếu ông ta mà còn hít nữa thì chắc đi chầu trời mất. Tôi không biết ông ta kiếm sống bằng nghề gì, nhưng tôi biết thứ ấy cũng chẳng phải hợp pháp gì cho cam và tôi biết là ông ta kiếm rất bộn. Tôi có thể thấy được điều đó trong đôi mắt ông ta, nghe thấy điều đó trong lời ông ta nói, nhận ra điều đó trong cái cách mà ông ta đề cập đến những vấn đề mà người ta thường cảm thấy kinh khủng lại được ông ta nói ra thật dễ dàng làm sao. Tôi thấy thật thoải mái với Leonard. Thoải mái hơn bất kỳ ai mà tôi từng tiếp xúc khi ở đây. Ông ta nói về những điều kinh khủng thật dễ dàng. Ông ta là một dạng tội phạm nào đó. Tôi thấy thật thoải mái khi ở bên ông ấy.

[1] MMPI (Minnesota Multiphasic Personality Inventory) – bài kiểm tra đánh giá nhân cách dành cho người lớn được sử dụng phổ phiến nhất. Các chuyên gia tâm lý và sức khỏe tinh thần thường sử dụng các phiên bản khác nhau của MMPI để xây dựng kế hoạch trị liệu, cùng kết hợp với một số các phương pháp chuẩn đoán khác.

Bài MMPI nguyên bản được công bố lần đầu tiên trên tờ University of Minnesota Press vào năm 1943, và được thay thế bởi một phiên bản mới với tên gọi MMPI-2, vào năm 1989. Bài kiểm tra dành cho thanh thiếu niên được gọi là MMPI-A, được công bố vào năm 1992. Phiên bản tổng hợp của bài đánh giá này, MMPI-2-RF (MMPI-2 Restructured Form), được công bố vào năm 2008, có thừa hưởng phương pháp đánh giá của bài kiểm tra MMPI truyền thống, nhưng đồng thời cũng đưa tới một phương pháp mới trong việc đánh giá nhân cách.


[2] Eugene Allen “Gene” Hackman (sinh ngày 30/1/1930) là một diễn viên đã nghỉ hưu và tiểu thuyết gia người Mỹ.

 

Trong sự nghiệp kéo dài năm thập kỷ của ông, Hackman đã được đề cử năm giải Oscar, giành giải nam diễn viên chính xuất sắc nhất trong phim The French Connection và giải nam diễn viên phụ xuất sắc nhất trong phim Unforgiven. Ngoài ra Hackman còn giành ba giải Quả cầu vàng và hai giải BAFTA.  Ông lần đầu tiên trở nên nổi tiếng vào năm 1967 với vai diễn Buck Barrow trong phim Bonnie and Clyde, cùng với phim này ông đã nhận được đề cử giải Oscar đầu tiên cho Nam diễn viên phụ xuất sắc nhất. Các phim tiếp theo quan trọng của ông là I Never Sang for My Father (1970),  trong đó ông đã có được đề cử Nam diễn viên phụ xuất sắc nhất lần thứ hai; The French Connection (1971) và French Connection II (1975) với vai diễn Jimmy “Popeye” Doyle; The Poseidon Adventure (1972); The Conversation (1974); Superman: The Movie (1978) với vai diễn phản diện Lex Luthor; Hoosiers (1986); Mississippi Burning (1988) với đề cử lần thứ hai cho Nam diễn viên chính xuất sắc nhất; Unforgiven (1992); The Firm (1993); Crimson Tide (1995); Get Shorty (1995); The Birdcage (1996); Enemy of the State (1998); Behind Enemy Lines (2001); và The Royal Tenenbaums (2001).

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: