Ghost Boy – Chương 20

95402133_b4d4fe1404_z

 

CHƯƠNG 20: DÁM ƯỚC MƠ

 

Liệu trên đời này còn có thứ gì mạnh mẽ hơn tình yêu của một người mẹ? Đó chính là phiến gỗ phá thành làm sụp đổ cánh cửa dẫn vào tòa lâu đài, là một con sóng triều gột rửa mọi thứ trong cơn trào dâng của nó. Và đôi mắt mẹ sáng lên với thứ tình cảm ấy khi bà nhìn tôi.

“Mẹ chỉ chạy vào để kiểm tra xem chúng ta cần đi đâu, rồi mẹ sẽ quay ra đón con nhé,” mẹ dặn.

Mẹ xuống xe và đóng cửa lại. Tôi ngồi đó giữa ánh nắng xuân xuyên qua khung kính chắn gió, khiến mắt tôi nheo lại. Chúng tôi đang tới trung tâm giao tiếp nơi mà tôi tiến hành bài đánh giá đầu tiên gần hai năm trước bởi vì tôi được mời tham dự một buổi giao lưu với các học viên sau khi mẹ tôi thuyết phục các chuyên gia về những tiến bộ mới đây nhất của tôi.

“Con đã tiến được rất xa, Martin!” mẹ bảo tôi. “Mẹ sẽ tới gặp họ. Và họ sẽ muốn biết. Con chỉ mới sử dụng máy vi tính hơn một năm, và nhìn mà xem những gì con làm được với nó!”

Tôi biết rằng chẳng thể nào ngăn mẹ được sau khi bà đã ra quyết định, nên tôi đợi trong lúc bà đến trung tâm vài tuần trước đây và nghe bà hào hứng kể cho tôi về những gì xảy ra khi bà trở về.

“Họ muốn gặp con,” bà nói. “Họ không thể tin là con lại tiến bộ nhanh như vậy. Họ mời con tham gia một buổi hội thảo với một vài sinh viên.”

Tôi có thể hiều vì sao mà mọi người lại kinh ngạc. Ngay cả tôi cũng cảm thấy đôi chút choáng váng vì hiện giờ mình có được một công việc. Thực ra, lúc nào tôi cũng phải kiểm tra xem mình có đang nằm mơ hay không mỗi khi tôi bước vào văn phòng nơi tôi làm tình nguyện viên một ngày trong tuần. Tôi làm việc tại trung tâm y tế, chính là nơi mà tôi đã hỗ trợ sửa các máy tính cùng Virna, và tôi khó mà tin được rằng tôi được mời tham gia vào nhiều việc hơn là chỉ nhìn chăm chăm vào mấy bức tường ở trung tâm chăm sóc. Công việc khá đơn giản – tôi thực hiện công tác sao chép và lưu trữ dữ liệu bởi vì tay phải của tôi lúc này đã đủ sức để cầm giấy tờ, và một người đồng nghiệp tuyệt vời tên là Haseena luôn sẵn lòng giúp đỡ tôi nếu như tôi gặp khó khăn với việc gì đó. Tôi cũng có thể sửa các máy tinh những khi chúng bị trục trặc nữa.

Điều tuyệt vời nhất về công việc này là nó mang ý nghĩa rằng tôi cuối cùng cũng có thể rời khỏi trung tâm chăm sóc. Đó là thứ cảm giác kỳ lạ nhất mà tôi có được vào mỗi thứ Ba khi mà tôi được đưa ra khỏi cánh cửa ra vào tòa nhà, và tôi cảm thấy cơ thể mình vô tình nghiêng về phía lớp học cũ, chỉ để mong rẽ sang hướng ngược lại về trung tâm y tế. Rời khỏi trung tâm chăm sóc giống như là việc đang đứng ở một ngã ba đường; tôi sẽ chết mất nếu như lúc này tôi bị gửi về đó. Tôi đôi khi tự hỏi rằng liệu cái bóng của cậu bé ma có còn luẩn quất đâu đó ở nơi mà tôi đã phải trải qua suốt nhiều năm trời hay không. Nhưng rồi tôi gạt ngay ý nghĩ ấy đi. Tôi từ chối việc suy nghĩ về quá khứ vào lúc này bởi vì tôi đã có một tương lai.

Cơ thể tôi ngày càng mạnh mẽ lên theo những dấu hiệu nhỏ nhất khi mà tôi bắt đầu sử dụng cơ thể mình nhiều hơn. Vào những ngày mà tôi không làm việc, tôi ở nhà luyện tập với máy tính. Tôi đã có thể ngồi vững vàng hơn một chút khi ngồi thẳng. Cơ cổ tôi nay đã trở nên mạnh mẽ hơn, đủ để tôi điều khiển con chuột mọi thời điểm, và tôi có thể sử dụng touchpad của máy tính xách tay bởi vì tay phải của tôi rõ ràng đã trở nên đáng tin cậy hơn. Tay trái tôi vẫn còn rất khó để có thể điều khiển, nên giờ có thể tôi vẫn chưa thành một chú bướm được nhưng tôi đang dần dần thoát khỏi cái kén của mình.

Liên kết duy nhất với quá khứ của tôi là cái yếm mà tôi vẫn còn đang đeo, một di sản của những ngày xưa cũ mà tôi từng chảy nước dãi không thể kiểm soát xuống ngực mà một chuyên gia trị liệu chức năng nói từng gợi ý rằng tôi nên ngậm đường phèn để ép bản thân mình nuốt nước bọt xuống. Giờ đây tôi không thật sự cần tới cái yếm nữa, và mẹ cũng không muốn tôi đeo nó, nhưng tôi không ép bản thân mình ngừng lại được. Có lẽ là tôi sợ hãi về việc sẽ mất đi thứ sức mạnh kỳ diệu mà tôi bất ngờ có được nếu như tôi thử thách chúng quá nhiều lần bằng việc tháo cái yếm ra. Có thể đó là sự miễn cưỡng của tôi trong việc tháo bỏ lớp tã cuốn của những năm tháng sống như một đứa trẻ sơ sinh là hành động nổi loạn duy nhất của tôi mà tôi có thể nhượng bộ, và tôi muốn tận dụng nó tối đa khi bắt đầu nhận ra ý nghĩa của nó khi tôi tự mình đưa ra các quyết định. Việc lựa chọn đeo yếm hay không đeo yếm mỗi ngày thường là cơ hội duy nhất mà tôi có để đưa ra quyết định, cho nên tôi quyết tâm trở thành người duy nhất để đưa ra quyết định đó.

Lúc này đây, khi tôi ngồi đợi mẹ trong xe, tôi ngắm nhìn các sinh viên đi bộ trên con đường ngay trước mắt mình. Trung tâm giao tiếp nằm trong khuôn viên của trường đại học, và tôi ao ước được học tập tại một nơi chốn như thế này bởi vì tôi biết rằng vào một ngày nào đó tôi sẽ muốn được làm việc toàn thời gian bên những chiếc máy tính. Có những lúc chúng dường như  là thứ đơn giản nhất trên thế giới này nếu đem so sánh với tất cả những thứ khác mà tôi phải học cách tiếp cận khác.

Tôi thậm chí còn tham gia thử nghiệm các chương trình phần mềm cho một công ty ở Anh. Tôi sử dụng các chương trình giao tiếp của họ trên máy tính của mình, và thỉnh thoảng mẹ và tôi đã tìm ra các lỗi phần mềm kể từ khi chúng tôi bắt đầu sử dụng nó. Những người thiết kế ra chương trình từng gửi thư điện tử để trao đổi giải pháp cho các vấn đề này cho mẹ, nhưng dần dần tôi trở thành người mà họ cùng trao đổi thư từ với. Khi họ nhận ra việc tôi hiểu rõ các hệ thống, họ mời tôi tham gia thử nghiệm chúng. Tôi không biết vì sao mà tôi lại hiểu rõ về máy tính đến thế, nhưng rồi tôi cũng ngừng đặt ra câu hỏi đó. Gần đây mọi chuyện vẫn cứ luôn diễn ra như vậy: có những điều tôi làm mà không suy nghĩ luôn khiến người khác phải kinh ngạc.

Mới đây khi ba tôi bước vào văn phòng, ông nhìn tôi một cách kỳ lạ khi tôi sắp xếp các tài liệu theo thứ tự bảng chữ cái.

“Làm sao mà con biết được cái nào nên để ở đâu?” ba ngạc nhiên hỏi tôi.

Tôi không thực sự nghĩ về điều đó. Tôi vẫn chưa thể đọc trôi chảy nhưng tôi xếp chữ cái đầu tiên tôi đọc thấy trên tài liệu vào hồ sơ có chứa chữ đó. Chữ cái xét cho cùng cũng chỉ là một loại ký hiệu mà thôi – một chữ “A” trông giống như một người đàn ông đang giơ hai bàn tay lên quá đầu mình và vỗ một cái, chữ “M” giống như là đỉnh của một rặng núi, và chữ “S” trông giống như một con rắn đang uốn éo bò trên mặt đất.

Cửa xe mở ra và mẹ cúi người về phía tôi.

“Con đã sẵn sàng chưa?”

Mẹ đặt xe lăn của tôi xuống cạnh cửa xe và nâng chân tôi ra khỏi xe trước khi choàng tay tôi qua vai của mẹ. Chúng tôi kéo người lại gần nhau khi tôi đứng lên trước khi ngã người xuống xe lăn. Mẹ đặt máy tính xách lên đùi tôi và đẩy tôi đi về phía tòa nhà, nơi tôi nhìn thấy những cánh cửa hoạt động bằng điện mà tôi chưa từng thấy vào hai năm trước đó tự động mở ra cho chúng tôi bước vào. Một người phụ nữa đưa chúng tôi đến một căn phòng có phục vụ cà phê, và mắt tôi lướt qua những người đang tụm lại và nói chuyện với nhau. Hai người trong số họ là đàn ông, không có ai ngồi xe lăn cả, nhưng mỗi người đều mang theo một chiếc hộp trông giống như cái thiết bị mà suýt tí nữa thì ba mẹ đã mua cho tôi. Tôi thích thú nhìn vào hai người bọn họ, giống như một nhà điểu cầm học đang chăm chú quan sát một con chim quý. Tôi chưa từng được gặp một ai cũng yên lặng như tôi trước đó.

“Chúng ta chuẩn bị cho con nhé?” tôi nghe thấy mẹ hỏi mình.

Mẹ đẩy tôi vào trong một phòng học nhỏ với các dãy bàn ghế được kê sát nhau đầy chật cả căn phòng. Một người phụ nữ đang chuẩn bị các tài liệu khi bà đứng trước tấm bảng trắng ở đầu bên kia của căn phòng.

“Con muốn ngồi ở đâu?” Mẹ hỏi tôi và tôi chỉ vào hàng ghế cuối.

Khi chúng tôi ổn định chỗ ngồi, mẹ lấy chiếc máy tính của tôi ra khỏi túi. Bao nhiêu ghi chú hiện ra khi mẹ bật máy lên, và người phụ nữ đứng bên chiếc bản quay sang nhìn tôi. Đó là một phụ nữ ở độ tuổi trung niên với máu tóc hoa râm cắt ngắn, đeo kính, và một chiếc khăn choàng quấn quanh cổ. Bà mỉm cười với tôi. Tôi nhìn xuống, không biết nên làm gì. Tôi chưa từng trải qua những việc kiểu như thế này. Tôi chưa từng ngồi giữa một nhóm người và cùng học tập hay thảo luận về một vấn đề gì đó. Tôi không muốn họ nhận thấy mình.

Mẹ và tôi đợi mọi người từ từ lấp đầy phòng học. Họ nói chuyện với nhau, chào hỏi nhau, và mỉm cười cho tới khi cuối cùng tất cả đều ngồi vào chỗ, và người phụ nữ đeo kính kia bắt đầu nói.

“Chào buổi sáng,” bà bắt đầu với một nụ cười. “Tôi là Diane Bryen, và tôi làm việc tại Trường đại học Temple ở Philadelphia, nơi tôi đang điều hành một chương trình có tên là ACES, nhằm mục đích giúp đỡ những người trưởng thành sử dụng công nghệ giao tiếp để ra quyết định và kiểm soát cuộc sống của họ.

“Tôi tin rằng đây là cách để chúng tôi trợ giúp những tiếng nói mới xuất hiện và phá vỡ định kiến về người khuyết tật.”

Giọng của bà ấy thật là tươi sáng và tràn đầy năng lượng. Bà nhìn khắp căn phòng đầy khích lệ.

“Không thể nghi ngờ rằng những người khuyết tập phải đối mặt với những rào cản đáng kể,” bà nói. “Những rào cản về sự ngang bằng trong chất lượng giáo dục, rào cản về sự hỗ trợ của gia đình để cho các em nhỏ được nuôi lớn với sự trợ giúp đó, rào cản đối với nhà ở giá cả phải chăng và dễ tiếp cận, rào cản về sự tiếp cận bình đảng với chăm sóc y tế và cơ hội việc làm.

“Đây là những rào cản nhất quán mà các bạn phải đối mặt khi là người khuyết tật, nhưng ngày hôm nay tôi không tới đây để nói về những sự bất công hiển nhiên ấy. Thay vì thế tôi muốn nói về những hạn chế áp đặt lên con người bởi xã hội bởi vì sự khuyết tật ngoài nghĩa khuyết tật về thân thể thì còn tồn tại cả sự khuyết tật về hành vi, về nhận thức, và hạn chế cảm giác. Nếu như có một ai đó không kỳ vọng hay không được kỳ vọng để đạt tới thành công, thì họ sẽ không bao giờ có thể làm được điều đó.”

Tôi nhìn vào giáo sư Bryen. Tôi chưa từng nghe thấy có ai đó lại nói về những con người như tôi bằng một sự nhiệt huyết và thuyết phục đến thế.

“Tôi tin rằng nếu như những người khuyết tật muốn phá vỡ những rào cảm mà họ phải đối mặt, thì họ phải nhận ra được rằng họ có quyền làm như vậy, rằng họ cũng có thể có những mục tiêu giống như bất kỳ ai khác – và để làm được điều đó thì họ cầm phải dám ước mơ.”

Tôi nhìn giáo sư Bryen khi bà nhìn khắp căn phòng.

“Người mà tôi mong mỏi được gặp gỡ nhất trước khi chết là Nelson Mandela,” bà nói. “Bởi vì cho dù ông bị cầm tù lâu dài, ông có một mơ ước mà ông vẫn luôn theo đuổi khi mà ông bị tước đoạt khỏi tự do và chế độ dinh dưỡng cơ bản. Ngài Mandela rất kiên định với giấc mơ của mình và theo đưổi nó cho tới khi ông nhìn thấy nó đã hiện ra.

“Tôi cũng từng được gặp gỡ với những người khác mà cũng có ước mơ. Một trong những người cấp trên tốt nhất của tôi là một người đan ông có tên Bob Williams, anh ấy làm việc trong lĩnh vực chính trị và bị bại não. Anh ấy cũng có một công việc tuyệt vời, một con chó phục vụ, và một người vợ vô cùng thương yêu mình.

“Anh ấy sống một cuộc đời mà anh ấy luôn mơ ước, và tôi cũng gặp gỡ rất nhiều người giống anh. Ví dụ, tôi biết một nhạc sĩ mơ ước về việc được hát và đã lập trình để thiết bị giao tiếp của mình làm điều đó cho ông và cả một giảng viên đại học tại nơi tôi làm việc cũng bị bệnh bại não và làm công việc mà cô yêu thích. Với cá nhân tôi, tôi cũng được chứng kiến việc có thể hoàn thành khi mà con người ta dám mơ ước bởi vì em trai tôi cũng bị mù.

“Mỗi một con người đó đều đã đạt được rất nhiều thành tựu, nhưng điều mà tất cả những con người đó đều thực hiện là dám ước mơ. Đó là một điều mạnh mẽ, và chúng ta cần phải học cách để thực hiện nó.”

Giáo sư Bryen nhìn vào một người đàn ông ngồi gần hàng ghế đầu.

“Ước mơ của bạn là gì?” bà hỏi anh ta.

Anh ta chuyển động thân thể một cách khó nhọc khi sự chú ý dồn lên người mình.

“Viết một cuốn sách vào một ngày nào đó,” anh ta trả lời thật khẽ.

“Và bạn làm thế nào để thực hiện điều đó?”

“Tôi chưa biết.”

Giáo sư Bryen mỉm cười với anh ta.

“Đó là lý do tại sao mà chúng ta cần phải suy nghĩ thật lâu và thật kỹ càng về những ước mơ của mình, bởi vì một khi bạn đã dám mơ về chúng, chúng ta có thể bắt đầu quá trình cố gắng nhận ra chúng.

“Giấc mơ không cần thiết phải quá vĩ đại. Tôi có biết một người phụ nữ luôn mơ rằng được nhận tạp chí truyền hình miễn phí và một người khác thì muốn được ăn macaroni và phó mát trong bữa tối mỗi tuần.

“Ước mơ có thể mang bất kỳ kích cỡ nào mà bạn mong muốn. Nhưng điều quan trọng ở đây là bạn tự có cho mình một ước mơ.”

Giáo sư Bryen lại nhìn quanh căn phòng. Đôi mắt của bà lướt qua những hàng người, dịch dần về cuối căn phòng cho tới khi bà dừng lại trên người tôi.

“Theo bạn thì cần phải làm gì để đạt được ước mơ?” bà hỏi.

Mọi người đều nhìn vào tôi. Tôi không biết phải nói gì. Tôi ước gì họ nhìn đi chỗ khác. Tôi chỉ muốn được ở một mình. Tôi chưa từng bị nhiều người nhìn vào mình như thế trong cùng một lúc. Tôi không biết phải làm gì.

“Tôi nghĩ Martin sẽ nói rằng ta cần phải nỗ lực,” mẹ trả lời.

Mẹ đang nói thay tôi, cố gắng lấp đầy sự yên lặng mà tôi khắc mở như một vết thương. Tôi ước gì mình có thể biến mất.

“Nhưng tôi muốn biết suy nghĩ của bạn,” giáo sư Bryen hỏi khi bà nhìn vào tôi. “Martin, đúng không? Tôi muốn bạn kể cho tôi biết theo bạn một người cần phải làm những gì để đạt được ước mơ của mình.”

Không trốn được nữa rồi. Cả căn phòng chìm trong yên lặng khi tôi bắt đầu di chuột trên máy tính xách tay và bắt đầu ấn vào nút điều khiển. Sau quãng thời gian dường như là bất tận, tôi cuối cùng cũng nói.

“Bạn cần được trao cho cơ hội để tự mình quyết định ước mơ của bạn là gì,” chiếc máy tính của tôi phát ra tiếng nói.

“Ý của bạn là gì, Martin?”

Tôi tiếp tục nhấn nhiều lần vào nút điều khiển.

“Người khác phải giúp bạn tìm ra ước mơ của bạn là gì. Họ phải cho phép bạn được quyền có ước mơ.”

“Ôi không!” giáo sư Bryen kêu lên. “Tôi không thể đồng ý với bạn. Bạn không thấy ư, Martin? Bạn không thể nào yêu cầu người khác cho phép bạn mơ ước được. Bạn buộc lòng phải tự làm điều đó.”

Tôi không rõ là tôi có hiểu điều mà giáo sư Bryen nói hay không. Cả đời mình tôi chỉ toàn nhận lấy thức thức ăn mà người khác lựa chọn cho tôi và được đặt lên giường vào thời điểm mà họ cho rằng tôi bắt đầu mệt mỏi. Tôi được cho mặc những trang phục mà họ nghĩ là chúng phù hợp với tôi và được nói chuyện với khi mà họ muốn nói chuyện cùng tôi. Tôi chưa bao giờ được hỏi xem mình nghĩ gì về việc tôi muốn gì. Tôi không biết việc tự mình đưa ra một quyết định là như thế nào, chứ đừng nói tới chuyện dám ước mơ. Tôi nhìn giáo sư. Tôi biết quá nhiều về những kỳ vọng của người khác và biết quá ít về chính bản thân mình.

Nhưng có đúng là những điều bà ấy nói đều là sự thật? Có thể nào nếu như tôi thật sự bắt đầu tự đưa ra quyết định vào lúc này thì tôi sẽ tìm thấy tiếng nói của chính mình? Tôi chỉ mới bắt đầu nhận ra rằng ở một nơi nào đó nơi cuối con đường có thể sẽ là sự tự do mà tôi chưa bao giờ hình dung nổi trước đó. Tôi có thể trở thành con người mà tôi muốn là, nhưng liệu tôi có dám mơ ước về con người đó hay không?

 

 

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: