Ghost Boy _ Chương 4

308cbb7f3a8d975b47b38a8025cf0928

CHƯƠNG 4: CHIẾC HỘP

Ngay cả khi tôi bắt đầu nhận thức lại, tôi cũng không thể thực sự hiểu rõ được những gì xảy ra với mình. Giống như một đứa bé không được sinh ra mà biết rằng nó không thể kiểm soát các cử động và nói chuyện, tôi không hề suy nghĩ về những việc tôi có thể hay không thể làm được. Những ý nghĩ cứ vụt qua đầu óc tôi mà tôi không bao giờ cân nhắc tới việc nói chúng ra, và tôi cũng chẳng thể nhận ra được cái cơ thể đang co giật hay bất động mà tôi nhìn thấy đây thuộc về tôi. Tôi phải mất rất nhiều thời gian mới có thể nhận ra rằng mình hoàn toàn cô độc giữa biển người.

Nhưng khi mà nhận thức và những hồi ức của tôi rồi cũng chậm chạp khớp lại với nhau, và dần dần trí óc tôi tôi cũng kết nối được với cơ thể, tôi bắt đầu hiểu ra rằng tôi đã không còn như trước nữa. Khi nằm trên ghế sofa xem chương trình tập thể dục nhịp điệu trên TV cùng ba, tôi bị thu hút bởi những cơ thể chuyển động thật nhịp nhàng, bởi sự dẻo dai và mạnh mẽ trong cú vặn mình hay xoay người của họ. Rồi tôi nhìn xuống đôi chân mà tôi vẫn thường trông thấy và tôi nhận ra chúng là của mình. Cùng một tình trạng với đôi bàn tay luôn run rẩy mà tôi vẫn hằng trông thấy. Nó cũng là một phần thuộc về tôi đấy, nhưng tôi không thể nào kiểm soát được chúng.

Tôi không bị bại liệt: cơ thể tôi vẫn có thể chuyển động nhưng nó hoàn toàn không phụ thuộc vào tôi. Chân tay tôi co cứng. Chúng có cảm giác xa lạ, như thể chúng bị chôn chặt trong khối bê tông, và hoàn toàn trơ trơ trước những mệnh lệnh của tôi. Mọi người luôn cố gắng giúp tôi sử dụng đôi chân mình — các chuyên gia vật lý trị liệu uốn cong đôi chân khiến tôi đau đớn khi họ cố gắng khiến cho các khớp cơ hoạt động — nhưng tôi không thể cử động nếu không có người giúp đỡ.

Nếu như tôi có bước đi, tôi cũng chỉ có thể lê được một vài bước nếu có người đỡ, nếu không, thì tôi sẽ ngã đập mặt xuống sàn nhà. Nếu tôi có muốn tự ăn, thì tay tôi cũng sẽ bôi đầy thức ăn lên mặt mình. Đôi tay cũng không thể giơ ra đằng trước theo bản năng để tự bảo vệ nếu tôi có ngã, vì vậy phần va chạm trước tiên của cơ thể tôi với mặt đất luôn là khuôn mặt. Tôi không thể xoay người nếu như đã nằm trên giường, do đó tôi sẽ nằm ở một tư thế trong nhiều giờ đồng hồ nếu không có người tới lật người cho tôi. Chân tay tôi không muốn mở rộng và duỗi ra; thay vì thế chúng cứ tự co lại như những con ốc sên cuộn mình trong vỏ.

Cũng giống như một nhiếp ảnh gia cần phải cẩn thận điều chỉnh tiêu cự ống kính máy ảnh cho tới khi mọi thứ trở nên rõ nét trong khung hình, tôi cũng cần thời gian để buộc trí óc mình tập trung. Cho dù cơ thể tôi và tôi bị trói chặt trong một cuộc chiến bất tận, tâm trí tôi trở nên mạnh mẽ hơn khi từng mảnh ý thức đan vào nhau.

Dần dà tôi bắt đầu nhận biết được ngày tháng và từng giờ phút bên trong nó. Hầu hết đều dễ quên, ngoại trừ những khi tôi theo dõi các sự kiện mang tính lịch sử. Ký ức về việc Nelson Mandela[1] tuyên thệ nhận chức tổng thống vào năm 1994 rất mờ nhạt trong khi cái chết của công nương Diana[2] vào năm 1997 lại rất rõ ràng.

Tôi nghĩ trí óc tôi bắt đầu thức tỉnh vào khoảng năm tôi mười sáu tuổi, và khi tôi tròn mười chín thì mọi thứ trở nên hoàn toàn rõ ràng: tôi biết tôi là ai và tôi đang ở đâu, và tôi hiểu rõ rằng cả một cuộc đời của tôi đã bị đánh cắp. Chuyện này xảy ra vào sáu năm trước. Ban đầu tôi muốn đấu tranh với số phận bằng cách đưa ra những dấu hiệu nhỏ nhặt nhất, một cử động hay một ánh mắt, như là những mẩu bánh mỳ mà Hansel và Gretel lưu lại nhằm giúp họ tìm được đường thoát ra khỏi khu rừng cấm, sẽ dẫn mọi người đến được với tôi. Nhưng dần dần tôi hiểu ra những nỗ lực của tôi chẳng thấm vào đâu hết cả: bởi vì khi tôi thực sự quay lại với cuộc đời, không một ai hoàn toàn hiểu những gì đã xảy ra.

Tôi đã hoàn toàn bị chôn vùi. Người duy nhất biết được rằng có một cậu bé đang tồn tại trong một thân xác vô dụng là Thượng đế, và tôi không giải thích được vì sao tôi lại cảm nhận được rõ ràng về sự hiện diện của Người đến thế. Tôi đã không được tiếp xúc với các nghi thức và truyền thống thờ phụng Người tại nhà thờ và tôi cũng biết mình chưa từng có cơ hội đó kể cả trong giai đoạn trước khi tôi lâm bệnh bởi vì gia đình tôi, dù cho có tin vào Chúa, cũng không tham dự lễ nhà thờ. Nhưng theo bản năng tôi biết rằng Người có ở đó với tôi khi tâm trí tôi dần trở nên lành lặn. Có những thời điểm tôi cảm thấy thật bối rối khi được vây quanh bởi mọi người, hoàn toàn cô đơn và nhận thấy chỉ có Chúa là bạn đồng hành. Và vì thế mà niềm tin trong tôi mới không hề dao động. Sự hiện diện của Người cũng giống như là không khí vậy, liên tục như những nhịp thở ra hít vào của cơ thể. Khi tôi dần lấy lại sức mạnh để cử động cổ và bắt đầu cúi đầu hay xoay mặt sang phải, thỉnh thoảng ngẩng lên hoặc mỉm cười, người khác vẫn không nhận ra được ý nghĩa của những cử chỉ mới mẻ nơi tôi. Họ không thể tin rằng phép lạ lại có thể xảy ra những hai lần: tôi đã sống sót trước lời dự đoán của các bác sĩ về cái chết của mình, nên chẳng một ai nghĩ tới việc tìm kiếm sự can thiệp của Thượng đế lần thứ hai. Rồi khi tôi bắt đầu “trả lời” là có hoặc không trước những câu hỏi đơn giản bằng một cái quay đầu hay một nụ cười, người ta vẫn cứ cho rằng nó chỉ đơn giản là một sự tiến triển cơ bản. Không một ai cho rằng sự tiến bộ trong những phản ứng của tôi có thể tương đồng với việc trí tuệ nơi tôi một lần nữa đã quay trở lại. Từ lâu lắm rồi họ được thông báo rằng não bộ tôi bị tổn thương nghiêm trọng, nên khi một chàng trai trẻ với chân tay cứng ngắc như cây củi, với đôi mắt trống rỗng, với nước bọt chảy dọc cằm đôi khi ngẩng đầu lên thì tất cả cũng chỉ là như thế.

Và vì vậy mà tôi luôn được chăm sóc – cho ăn và cho uống, lau người và tắm rửa – nhưng chưa bao giờ được quan tâm thật sự. Hết lần này tới lần khác tôi đòi hỏi đống chân tay không biết vâng lời thực hiện một cử chỉ và cho một ai đó thấy được tôi vẫn đang ở đây, nhưng chúng nào có chịu lắng nghe lời tôi nói.

Tôi ngồi trên giường mình. Tim tôi đập như trống bổi khi ba thay quần áo cho tôi. Tôi muốn ông biết, tôi muốn ông hiểu rằng tôi đã trở về với ông. Ông phải nhìn thấy tôi!

Tôi nhìn chằm chằm vào cánh tay mình, tôi muốn nó hoạt động. Từng tế bào trong cơ thể tôi đều ngưng tụ vào trong một giây phút này. Tôi nhìn vào cánh tay mình – năn nỉ, dụ dỗ, khuyên răn, và cầu xin nó. Tim tôi đập thình thịch khi tôi cảm giác được nó phản ứng trước những lời nài nỉ của mình. Tay tôi đang vẫy cao trên đầu mình. Cuối cùng tôi cũng quay trở về với một dấu hiệu mà tôi phải mất thật nhiều thời gian mới thực hiện được.

Nhưng khi tôi nhìn ba, khuôn mặt ông không có biểu hiện của sự kinh ngạc hay bất ngờ nào hết cả. Ông chỉ đang tập trung vào việc cởi giày cho tôi.

Ba ơi! Con ở đây! Ba có nhìn thấy không?

Nhưng ba tôi không để ý. Ông tiếp tục cởi quần áo cho tôi, và tôi hướng ánh nhìn bất mãn lên đôi tay mình. Chỉ khi đó tôi mới nhận thấy nó không hề chuyển động. Dù cho niềm hy vọng trong tôi có mạnh mẽ nhường nào, nó chỉ biểu hiện ra ngoài là sự co giật của khối cơ bắp nơi khuỷu tay tôi. Một chuyển động yếu ớt mà tôi biết ba sẽ không bao giờ nhận ra.

Cơn giận dâng trào trong tôi. Tôi cảm thấy chắc chắn tôi sẽ nổ tung mất. Tôi thở hổn hển.

“Này nhóc, con không sao chứ?” ba hỏi tôi khi ông nghe thấy tiếng tôi thở và ngước nhìn.

Tôi chẳng thể làm gì trừ việc nhìn lại ông, cầu nguyện rằng sự im lặng đầy tuyệt vọng của tôi tự nó sẽ cất lên tiếng nói.

“Chúng ta đi ngủ thôi, con nhé?”

Chiếc áo ngủ được chùm qua đầu tôi, và tôi nằm xuống. Cơn giận gặm cắn dạ dày tôi. Tôi biết rằng tôi phải thoát khỏi nó; nếu không tôi sẽ vô cùng đau đớn. Tôi phải đánh mất mình trong hư vô, không thì tôi sẽ phát điên mất.

Vào những lúc khác tôi cố gắng rên rỉ, hy vọng rằng nếu một tiếng động thoát ra từ trong lồng ngực mình sẽ khiến người khác tự hỏi nó có nghĩa là gì, nhưng tôi chẳng bao giờ có thể tạo ra một tiếng động như thế. Trong những năm tháng sau này tôi cũng cố gắng để nói, nhưng tôi vẫn chỉ im lặng. Tôi không thể cầm nổi một cây bút để nguệch ngoạc một tin nhắn hay thốt ra một lời kêu gọi giúp đỡ. Tôi là kẻ bị bỏ lại trên hòn đảo hoang vu của chính mình, và giấc mơ được giải cứu của tôi tan biến ngay khi hy vọng mới nhen nhóm trong lòng.

Đầu tiên là nỗi khiếp sợ, rồi sau đó là sự thất vọng và cay đắng, rồi tôi lại quay về bên trong bản thể của mình để sống sót. Như một con rùa chui vào trong cái mai của nó, tôi học được cách trốn tránh khỏi thực tại bằng trí tưởng tượng. Tôi biết rõ tôi rồi sẽ phải dành phần còn lại của đời mình cũng bất lực như mỗi một ngày hiện hữu, và rồi tôi cũng chẳng còn cố nữa cái việc phản ứng lại với cuộc đời mà chỉ nhìn chằm chằm vào thế gian này với một biểu cảm vô hồn.

Đối với những người khác, tôi chỉ như một thứ cây cảnh: một vật được tưới nước và đặt trong góc nhà. Mọi người đều quá quen thuộc với việc tôi không ở đó nên họ cũng chẳng thể nhận thấy khi tôi có mặt một lần nữa.

Rốt cục, từ rất lâu trước đó tôi đã được đặt vào trong một chiếc hộp. Mỗi chúng ta đều vậy. Có phải bạn là một đứa trẻ “ngỗ ngược” hay là một người tình “gian dối”, một cậu em trai hay “cãi bướng” hay là một người bạn đời chỉ biết “nhịn nhục”? Những chiếc hộp ấy khiến chúng ta trở nên dễ hiểu hơn, nhưng chúng cũng cầm tù chúng ta bởi con người ta không thể nhìn xuyên qua chúng.

Tất cả chúng ta đều có những nhận định cố chấp về mỗi một con người dù cho sự thực có thể khác xa so với những gì mà ta nghĩ rằng mình thấy rõ. Đó là lý do vì sao không một ai hoài nghi về việc tôi bắt đầu đủ tiến bộ để trả lời những câu hỏi đơn giản như “Cậu có thích trà không” bằng một cái quay đầu hay với một nụ cười.

Đối với hầu hết những người từng gặp gỡ tôi, tôi chỉ đơn giản là một phần công việc của họ. Đới với những người nhân viên tại trung tâm chăm sóc của tôi, tôi chỉ là một vật quen thuộc mà họ không còn quan tâm nữa sau nhiều năm trời; đối với các nhân viên chăm sóc ở những trung tâm khác mà tôi được gửi tới mỗi khi ba mẹ mình đi xa, tôi chẳng qua chỉ là một bệnh nhân vãng lai; và đối với những vị bác sĩ, tôi chỉ là “anh chàng không làm được gì nhiều,” như lời một người từng nói với đồng nghiệp của mình khi tôi nằm đó như một con sao biển trên bàn chụp X quang.

Ba mẹ tôi có công việc toàn thời gian và hai đứa con khác cần chăm sóc ngoài tôi ra, nhưng họ đã làm tất cả những điều có thể từ việc thay bỉm tới cắt móng chân cho tôi. Tham dự vào việc chăm sóc tôi đòi hỏi rất nhiều thời gian và sức lực, vì thế chẳng có gì phải ngạc nhiên khi mẹ và ba không ngừng nghĩ tới việc liệu tôi có mắc phải một chứng bệnh lạ và khả năng phục hồi là một phép màu

Vì vậy, đó là lý do tại sao tôi ở lại bên trong chiếc hộp mà tôi đã được đặt vào từ rất lâu trước đây. Chiếc hộp ấy được đánh dấu bởi một từ duy nhất: “đần.”


[1] Nelson Rolihlahla Mandela (18/7/1918 – 5/12/2013),Tổng thống Nam Phi từ năm 1994 đến 1999, và là tổng thống Nam Phi đầu tiên được bầu cử dân chủ theo phương thức phổ thông đầu phiếu. Trước khi trở thành tổng thống, Mandela là nhà hoạt động chống chủ nghĩa apartheid (chủ nghĩa phân biệt chủng tộc), và là người đứng đầu Umkhonto we Sizwe, phái vũ trang của Đảng Đại hội Dân tộc Phi (ANC). Vào năm 1962 ông bị bắt giữ và bị buộc tội phá hoại chính trị cùng các tội danh khác, và bị tuyên án tù chung thân. Mandela đã trải qua 27 năm trong lao tù, phần lớn thời gian là ở tại Đảo Robben. Sau khi được trả tự do vào ngày 11 tháng 2 năm 1990, Mandela đã lãnh đạo đảng của ông trong cuộc thương nghị để tiến tới một nền dân chủ đa sắc tộc vào năm 1994. Trong nhiệm kỳ tổng thống của mình từ năm 1994 đến 1999, Mandela thường ưu tiên cho vấn đề hòa giải dân tộc. Tại Nam Phi, Mandela còn được biết tới với tên gọi Madiba, một tước hiệu danh dự mà bộ lạc của ông thường trao cho những già làng. Mandela đã nhận hơn 250 giải thưởng trong hơn bốn thập niên, trong đó có Giải Nobel Hòa bình năm 1993.

[2] Diana, Vương phi xứ Wales (Diana Frances Mountbatten-Windsor; nhũ danh Spencer; 1/7/1961 – 31/8/1997), báo chí Việt Nam thường gọi là Công nương thay vì Vương phi, là vợ thứ nhất của Charles, Thân vương xứ Wales, con trai trưởng của Nữ hoàng Elizabeth II. Hai con trai của bà là Hoàng tử William và Hoàng tử Harry, xếp thứ hai và thứ ba trong thứ tự kế vị ngôi vua của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland và 15 vùng đất khác thuộc Khối thịnh vượng chung trong thời gian bà còn sống.

Diana trở thành người nổi tiếng sau khi bà đính hôn với Thái tử Charles. Cuộc sống của bà đã trở thành đề tài chú ý của công chúng do địa vị hoàng gia và các hoạt động xã hội của bà. Sau nhiều năm dư luận bàn tán về các vấn đề trong cuộc sống hôn nhân của họ, khiến cho Thái tử Charles và Diana phải ly dị vào ngày 28/8/1996, kết thúc 15 năm cuộc hôn nhân của họ. Một năm sau khi Diana ly dị với Thái tử Charles, bà đã thiệt mạng trong một vụ tai nạn xe hơi xảy ra dưới đường hầm cầu Alma ở Paris, Pháp vào ngày 31/8/1997.

Advertisements
Comments
6 Responses to “Ghost Boy _ Chương 4”
  1. havh292 says:

    Chương này hay thật…Những bài trên blog của chị rất hay :)). Cảm ơn chị đã up lên, chúc chị thành công và tiếp tục viết tiếp !

    • :)) Cảm ơn em. Quyển này cũng hay lắm đó. Chị sẽ cố gắng dịch và đăng nốt các chương còn lại trong thời gian sớm nhất. Nhưng chắc hiện tại sẽ ưu tiên cho The Subtle Art… trước 🙂

      • havh292 says:

        em không biết có nhiều người đọc blog này không nhưng sao chị có thể viết bài và duy trì blog liên tục từ 2006 đến tận bây giờ…

  2. Chị nghĩ chắc là chẳng có ai đọc đâu nhưng mà cứ viết chơi chơi thôi, cũng là một cách giải trí và thư giãn rất tốt. Chắc vì vậy mà duy trì được lâu vậy đó 😀

    • havh292 says:

      Chị yên tâm là từ giờ có người đọc hết cả cái blog này rồi :)). Chúc chị có thêm nhiều động lực, cảm hứng để viết bài.

      • Ha ha cám ơn em. Chị sẽ cố gắng phấn đấu, học tập và rèn luyện để xứng đáng với sự tin yêu của Đảng và chính phủ :))

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: