Into The Wild (18)

CHƯƠNG 18: ĐƯỜNG MÒN STAMPEDE

 

Christopher McCandless's last picture.

Christopher McCandless – Last picture.

Gần như là bất khả để một con người hiện đại có thể tưởng tượng nổi cái cuộc sống của thời kỳ săn bắn. Cuộc đời của một thợ săn là một cuộc đời vất vả, lang bạt khắp từ vùng đất này tới vùng đất khác. … Một cuộc đời của những mối bận tâm thường xuyên rằng có thể chuyến săn tới không mang lại kết quả nào, rằng có thể cái bẫy sẽ không sập xuống, hoặc có thể bầy thú sẽ không xuất hiện trong mùa săn này. Nhưng trên hết, cuộc đời của một thợ săn mang theo mối nguy cơ của sự bị tước đoạt và một cái chết do thiếu thức ăn.

JOHN M. CAMPBELL,
MÙA HÈ ĐÓI KHÁT

 

Giờ đây lịch sử là gì? Đó là những thế kỷ của những sự khám phá mang tính hệ thống về điều bí ẩn của cái chết, với một cách nhìn để vượt qua cái chết. Đó là lý do vì sao mà con người ta khám phá ra khái niệm vô cực trong toán học và sóng điện từ, vì thế họ viết những bản nhạc giao hưởng. Giờ đây, anh không thể tiến vào theo hướng đó nếu không có được một đức tin tuyệt đối. Anh chẳng thể đạt tới những khám phá như thế mà không có lấy công cụ tinh thần. Và những yếu tố cơ bản của cái công cụ này là ở trong cuốn Phúc âm kinh. Chúng là gì? Để bắt đầu, hãy yêu lấy xóm giềng của anh, như là một dạng thức cực đoan của nguồn năng lượng sống còn. Một khi nó đã lấp đầy trái tim của một con người nó sẽ phải chảy tràn và vơi mất. Và rồi hai lý tưởng của một con người hiện đại —mà nếu thiếu chúng anh chỉ là kẻ trì độn —ý tưởng về tự do nhân cách và ý tưởng về cuộc sống như là sự hy sinh.

BORIS PASTERNAK,
BÁC SĨ ZHIVAGO
ĐOẠN VĂN ĐƯỢC ĐÁNH DẤU

TRONG MỘT TRONG NHỮNG QUYỂN SÁCH

ĐƯỢC TÌM THẤY BÊN THI THỂ MCCANDLESS

Sau khi nỗ lực thoát ra khỏi vùng hoang dã bị cản trở bởi dòng nước lũ dâng cao trên con sông Teklanika, McCandless quay lại chiếc xe buýt vào ngày 8 tháng 7. Mong muốn biết được trong thời điểm này cậu suy nghĩ tới điều gì là bất khả thi, vì cuốn nhật ký của cậu hoàn toàn trống rỗng. Có vẻ như cậu không bận tâm tới việc con đường trở ra của mình đã bị chặn đứng; thay vì vậy, vào lúc đó có một lý do nhỏ khiến cậu phải lo lắng: Giờ đã là giữa hè, và vùng đất phì nhiêu náo loạn bởi đời sống của thực vật và động vật hoang dã, trong khi nguồn lương thực của cậu đang cạn dần. Có thể cậu phỏng đoán rằng nếu cậu cố gắng ở lại tới tháng 8, nước sông Teklanika sẽ hạ xuống đủ thấp để cậu có thể vượt qua.

Trở lại chiếc vỏ xe buýt rỉ sét Fairbanks 142, McCandless quay về với thói quen săn bắn và hái lượm. Cậu đọc tác phẩm “Cái Chết Của Ivan Ilych” của Tolstoy và cuốn Cái Kết Của Một Con Người của Michael Crichton. Cậu ghi lại trong cuốn nhật ký rằng mưa suốt cả tuần. Các chuyến săn bắn có vẻ như phong phú: Trong ba tuần cuối cùng của tháng 7, cậu giết ba mươi nhăm con sóc, bốn con gà gô, năm con chim giẻ cùi và chim gõ kiến, và hai con ếch, tất cả đều được chế biến và ăn kèm với khoai tây dại, đại hoàng dại, các loại quả mọng, và một lượng lớn nấm. Nhưng bất chấp số lượng lớn này, lượng thịt mà cậu tiêu thụ vẫn rất ít, và lượng calorie mà cậu nạp vào cơ thể vẫn ít hơn hẳn lượng tiêu thụ. Sau khi tồn tại ba tháng theo một chế độ ăn uống ngặt nghèo, McCandless đã tiêu tốn hết số caloric cậu có. Cậu đang ở trên bờ vực của một tình thế rất gian nan. Và rồi, vào cuối tháng 7 cậu phạm phải sai lầm không tài nào cứu chữa nổi.

Cậu vừa hoàn thành cuốn sách Bác Sĩ Zhivago, một cuốn sách thôi thúc cậu ghi lại những lời cảm nhận đầy xúc động bên rìa trang sách và đánh dấu rất nhiều đoạn văn:

 

Lara đi dọc con đường in dấu của những người hành hương và rẽ vào cánh đồng. Tại đây nàng dừng lại và, nhắm mắt, nàng hít một hơi thật sâu mùi hoa thơm dìu dịu bao bọc xung quanh mình. Nó thân thiết với nàng hơn cả những người họ hàng, dịu dàng với nàng hơn cả người tình, thông thái hơn cả những cuốn sách. Trong một khoảnh khắc nàng khám phá lại mục đích của cuộc đời mình. Nàng có mặt ở đây trên trái đất này để nắm chặt ý nghĩa của sự kỳ diệu của thiên nhiên và để gọi tên vạn vật theo đúng cái tên của nó, hoặc, nếu điều này không nằm trong khả năng của nàng, thì để sinh ra với tình yêu dành cho cuộc sống này người sẽ kế thừa thành công làm được điều đó ở vị trí của nàng.

 

“TỰ NHIÊN/THUẦN KHIẾT,” cậu viết bằng chữ đậm trên đầu trang.

 

Ôi chao, làm sao mà đôi khi một con người lại khao khát việc được thoát khỏi sự trì độn vô nghĩa của tài hùng biện loài người, khỏi tất cả những trường đoạn thăng hoa, để trú ẩn nơi thiên nhiên, được thể hiện một cách không rõ ràng, hoặc trong những nỗ lực lao động đầy cực nhọc dài lê thê mà không nói đến một lời, trong tiếng thở đều đều lúc ngủ, của thứ âm nhạc thật sự, hoặc trong sự hiểu biết đầy tính người trước sự lặng câm của cảm xúc!

McCandless đánh dấu hoa thị và dấu ngoặc đoạn văn và khoanh tròn cụm từ “trú ẩn nơi thiên nhiên” bằng mực đen.

Ngay bên cạnh đoạn văn “Và khi nó hiện ra rằng chỉ có cuộc đời tương tự như cuộc đời của những người chung quanh ta, hòa hợp với nó mà không băn khoăn gì, mới là một cuộc đời hoàn hảo, và rằng một niềm hạnh phúc mà không được chia sẻ thì chưa thể gọi là hạnh phúc …. Và đây không phải là điều đáng lưu ý nhất,” cậu ghi lại, “HẠNH PHÚC CHỈ CÓ THẬT KHI ĐƯỢC CHIA SẺ.”

Không có gì chắc chắn để đánh giá lời ghi chú trên như một bằng chứng sâu xa hơn rằng chuyến đi dài ngày, cô độc của McCandlesss đã gây nên những biến đổi rất lớn trong cậu. Điều này có thể được diễn giải rằng cậu đã sẵn sàng, rất có thể là vậy, để gỡ bỏ lớp áo giáp mà cậu bao bọc trái tim mình, và khi quay về với đời sống văn minh, cậu dự định từ bỏ cuộc đời của một kẻ lãng du cô độc, ngừng lại việc trốn chạy điên cuồng khỏi sự thân mật, và trở thành một thành viên của xã hội loài người. Nhưng chúng ta sẽ không bao giờ biết được, bởi vì Bác sĩ Zhivago là cuốn sách cuối cùng mà Chris McCandless đọc.

Hai ngày sau khi cậu đọc xong quyển sách, vào ngày 30 tháng 7, có một bài viết ngắn đáng lo ngại trong cuốn nhật ký của cậu: “QUÁ YẾU, SAI LẦM LỚN. HẠT GIỐNG. KHÓ KHĂN LẮM MỚI ĐỨNG LÊN ĐƯỢC. ĐÓI KHÁT. CƠN HIỂM NGHÈO LỚN.” Trước lời ghi chú này không có gì trong cuốn nhật ký cho thấy rằng McCandless đang rơi vào tình cảnh nguy kịch. Cậu đói, và chế độ ăn uống đạm bạc đã khiến cơ thể cậu chỉ còn da bọc xương, nhưng cậu dường như vẫn có đủ sức khỏe. Rồi, sau ngày 30 tháng 7, tình trạng thể chất của cậu bỗng nhiên chuyển biến xấu. Vào ngày 19 tháng 8, cậu đã ra đi.

Có rất nhiều sự phỏng đoán về nguyên nhân gây ra một sự tụt dốc đến như vậy. Trong những ngày tiếp theo của công tác giám định các di vật của McCandlesss, Wayne Westerberg ngờ ngợ nhớ lại rằng Chris có thể đã mua một số loại hạt giống ở South Dakota trước khi đi về phương bắc, có thể bao gồm cả một số hạt giống cây khoai tây, mà cậu dự định sẽ trồng ở vườn rau sau khi ổn định ở vùng hoang dã. Dựa trên một giả thuyết, McCandless chưa bao giờ thử làm vườn trước đó (tôi không thấy có dấu hiệu nào của một khu vườn nằm xung quanh chiếc xe buýt) và vào cuối tháng 7 cậu đã đói đến mức ăn luôn cả đống hạt giống, mà đã đầu độc cậu.

Hạt giống cây khoai tây trên thực tế là loại hạt có thể gây độc nhẹ sau khi chúng bắt đầu nảy mầm. Chúng có chứa solanin, một độc tố có trong thân của họ kỳ nham, mà gây ra chứng nôn mửa, tiêu chảy, đau đầu, và tình trạng hôn mê trong thời gian ngắn, và đáng sợ nhất là ảnh hưởng tới nhịp tim và huyết áp khi sử dụng chúng trong thời gian dài. Tuy nhiên, giả thuyết này cũng có lỗ hổng lớn: Để McCandless có thể mất mạng bởi hạt khoai tây, thì cậu phải ăn rất nhiều, rất nhiều thứ hạt này; và nếu thế thì chiếc ba lô mà cậu đeo khi Gallien thả cậu xuống con đường mòn hẳn phải vô cùng nặng, mà trên thực tế thì cậu chỉ mang theo một vài gram hạt giống khoai tây, nếu như cậu có thực sự mang theo chúng.

Nhưng còn có một viễn cảnh khác cũng liên quan tới hạt giống khoai tây mà dẫn tới một kịch bản hoàn toàn khác, và khả năng này có vẻ đáng tin cậy hơn. Các trang 126 và 127 của cuốn sách Tanaina Plantlore mô tả một loại cây có tên là khoai tây dại do người da đỏ Dena’ina phát hiện ra, mà củ của nó gần giống như củ cà rốt. Loại cây này, có tên khoa học là Hedysarum alpinum, thường sinh trưởng trên nền đất sỏi ở khu vực này.

Theo như trong sách Tanaina Plantlore, “Rễ của cây khoai tây dại có thể là thứ thực phẩm quan trọng nhất của người Dena’ina, hơn hẳn các loại quả dại khác. Họ ăn chúng theo nhiều cách khác nhau — ăn sống, luộc, nướng, hoặc rán — và rất thích chiên chúng ngập trong dầu hoặc mỡ, mà nhờ đó có thể bảo quản khá lâu.” Đoạn văn tiếp tục cho biết thời điểm tốt nhất để đào khoai tây dại “là vào mùa xuân ngay khi mặt đất tan băng …. Trong mùa hè chúng sẽ trở nên khô và cứng.”

Priscilla Russell Kari, tác giả của Tanaina Plantlore, giảng giải cho tôi biết rằng “mùa xuân là thời điểm thực sự khó khăn đối với người Dena’ina, thường là trong quá khứ. Thường là vì nguồn săn bắn của họ khi ấy chưa xuất hiện, hoặc là cá cũng chưa có nhiều vào thời điểm đó. Nên họ phải dựa vào khoai tây dại như một nguồn cung cấp thực phẩm chính cho tới khi có cá vào cuối mùa xuân. Nó có vị rất ngọt. Nó đã — và vẫn — là thứ thực phẩm mà họ rất ưa thích.”

Phía trên phần đất có khoai tây dại thường mọc một loại cây bụi, cao khoảng hai feet, thân cây trổ ra những bông hoa màu hồng xinh đẹp làm ngời ta nhớ đến bức tiểu họa về những bông đậu hoa nở bung rực rỡ. Có được sự gợi ý từ cuốn sách của Kari, McCandless bắt đầu đào và ăn củ vào ngày 24 tháng 6, mà không biết được nó sẽ gây bệnh cho cậu. Vào ngày 14 tháng 7, cậu bắt đầu ăn cả túi hạt giống như hạt đậu của loại cây này, có thể là vì củ của chúng đã quá cứng nên khó ăn nổi. Trong một bức ảnh mà cậu chụp vào thời gian này cho thấy một cái túi nhựa có miệng khóa cỡ một gallon đựng đầy thứ hạt như vậy. Và rồi, vào ngày 30 cùng tháng, đoạn văn trong cuốn nhật ký ghi, “QUÁ YẾU, SAI LẦM LỚN. HẠT GIỐNG.….”

Một trang giấy sau mục về Tanaina Plantlore của cuốn sách liệt kê những loài khoai tây dại, nói tới một giống thực vật thuộc họ gần với nó, là cây đậu hoa dại, có tên khoa học là Hedysarum mackenzii. Mặc dù là loài cây tương đối nhỏ hơn, cây đậu hoa dại trông rất giống với khoai tây dại mà đôi khi ngay cả những nhà thực vọc học chuyên nghiệp cũng khó phân biệt được chúng. Chỉ có một sự khác biệt duy nhất có thể tin cậy được: Ở bên dưới mặt lá non của cây khoai tây dại là những chiếc gân lá rất dễ nhìn thấy; trong khi những gân lá này lại không có ở cây đậu hoa dại.

Cuốn sách của Kari cảnh báo rằng bởi vì cây đậu hoa dại rất khó để phân biệt với cây khoai tây dại và “được biết đến là có độc tố, vì vậy cần phải xác định cẩn thận và chính xác trước khi sử dụng cây khoai tây dại làm thức ăn.” Con số những người bị đầu đực do ăn phải H. mackenzii không được chỉ ra trong các tư liệu y học hiện đại, nhưng những người thổ dân của phương Bắc vẫn thường biết rằng cây đậu hoa dại có độc và luôn cực kỳ cẩn thận để không nhầm lẫn giữa cây H. alpinum với H. mackenzii trong suốt thiên niên kỷ qua.

Nhằm tìm kiếm một tài liệu về độc tố của cây đậu hoa dại, tôi buộc phải quay trở về những ghi chép về các cuộc thám hiểm Bắc Cực vào thế kỷ mười chín. Tôi lần giở lại những trang nhật ký của Sir John Richardson, một nhà giải phẫu học nổi tiếng người Scotland, nhà tự nhiên học, nhà thám hiểm. Ông từng là thành viên trong hai cuộc thám hiểm đầu tiên của Sir John Franklin và đã sinh tồn qua cả hai lần đó; chính Richardson là người tiến hành hành quyết, bằng súng ngắn, nghi phạm giết người–ăn thịt đồng loại trong cuộc thám hiểm đầu tiên. Richardson cũng còn là nhà sinh vật học đã viết những mô tả khoa học đầu tiên về cây H. mackenzii và đặt tên cho loài cây này. Vào năm 1848, trong khi dẫn đầu một cuộc thám hiểm qua miền Bắc Cực thuộc Canada để tìm kiếm ngài Franklin lúc này đã mất tích, Richardson đã thực hiện một sự so sánh giữa H. alpinum và H. mackenzii. H. alpinum, ông mô tả lại quan sát của mình trong nhật ký,

có bộ rễ dài linh hoạt, có vị ngọt giống cam thảo, và được người dân địa phương ăn nhiều vào mùa xuân, nhưng chúng xơ hóa và mất nước và độ giòn khi chuyển mùa. Rễ có lông tơ trắng, nông, và xấu hơn, những rễ của loài cây Hedysarum mackenzii với hoa lớn hơn lại có độc, và gần như đã khiến một nữ thổ dân da đỏ già bỏ mạng tại Fort Simpson, người này đã nhầm lẫn nó với loại cây kia. May là, nó gây nôn; và ruột của bà ta đã đào thải tất cả những gì bà vừa nuốt vào, giờ bà ta đang hồi phục sức khỏe, dù việc hoàn toàn bình phục là rất ít khả năng.

Thật dễ để hình dung rằng Chris McCandless cũng phạm phải lỗi giống như người phụ nữ da đỏ kia và trở nên kiệt sức như vậy. Từ tất cả những chứng cứ còn sót lại, ta có thể đặt ra một nghi vấn nhỏ rằng McCandless — vì sự vội vàng và thiếu cẩn trọng trước thiên nhiên — đã phạm phải một sai lầm bất cẩn, đã nhầm lẫn loại cây này với cây kia, và chết vì lý do đó. Trong bài viết đăng trên tạp chí Outside , tôi viết với một sự chắc chắn rằng H. mackenzii, cây đậu hoa dại, đã giết chết chàng trai. Hầu như tất cả những nhà báo khác khi viết về tấn thảm kịch của McCandless cũng đi đến cùng một kết luận đó.

Nhưng khi nhiều tháng trời trôi qua và tôi có được cơ hội để suy ngẫm về cái chết của McCandless ở một mức độ sâu hơn, sự khẳng định này ngày càng trở nên ít hợp lý hơn. Trong ba tuần bắt đầu từ ngày 24 tháng 6, McCandless đã đào lên và ăn rễ cây khoai tây dại một cách an toàn mà không bị nhầm lẫn giữa cây H. mackenzii với cây H. alpinum; vậy thì tại sao, vào ngày 14 tháng 7, khi cậu bắt đầu thu thập hạt thay vì rễ cây, cậu lại bỗng nhiên bị nhầm lẫn giữa hai loại cây này với nhau?

Tôi ngày một tin rằng McCandless rất thận trọng với loài cây H. mackenzii có độc và không bao giờ ăn hạt của nó cũng như những phần khác thuộc về cây này. Cậu quả thật đã bị trúng độc, nhưng thứ cây giết chết cậu không phải là cây đậu hoa dại. Thứ gây ra cái chết của cậu là cây khoai tây dại, H. alpinum, loài cây mà vẫn được xác định là không chứa độc tố trong cuốn sách Tanaina Plantlore.

Cuốn sách cho biết chỉ rễ của cây khoai tây dại là ăn được. Cho dù không đề cập gì đến việc hạt của cây có thể ăn được hay không, cuốn sách cũng không nói rằng hạt của nó có chứa độc tố. Và cũng không có một cuốn sách hay ấn phẩm nào có nhắc tới việc hạt của cây H. alpinum có độc.

Nhưng họ đậu (Leguminosae, mà cây H. alpinum thuộc về) phổ biến với nhiều loài sản sinh ra chất ancaloit[1] — thứ hợp chất hóa học có khả năng tạo ra các tác động dược lý lên con người và động vật. (Morphine, caffeine, nicotine, curare (nhựa độc cura), strychnine (trong cây mã tiền), và mescaline (có trong ngọn cây xương rồng pê-dô-ti) đều là ancaloit.) Ngoài ra, trong nhiều loại cây sinh ra chất ancaloit, chất độc này thường tập trung tại một vị trí nhất định trên cây.

“Điều này xảy ra đối với rất nhiều cây họ đậu,” John Bryant, một chuyên gia sinh hóa thuộc trường Đại học Alaska tại Fairbanks giải thích, “rằng cây tập trung chất ancaloit vào trong vỏ hạt vào mùa hè, để ngăn các loài thú không ăn chúng. Tùy theo từng thời điểm trong năm, việc một cây có rễ ăn được mà lại có hạt chứa độc cũng không phải là điều không phổ biến. Nếu một cây sản sinh ra chất ancaloit, khi vào mùa thu, hạt của cây sẽ là nơi có chứa nhiều độc tố nhất.”

Trong suốt chuyến đi của tôi tới sông Sushana vào năm 1993, tôi thu thập các mẫu cây H. alpinum mọc cách chiếc xe buýt một vài dặm và gửi một vài hạt đậu khô của những mẫu vật này cho giáo sư Thomas Clausen, một đồng nghiệp của giáo sư Bryants thuộc khoa Hóa của trường Đại học Alaska. Dù phân tích quang phổ cuối cùng chưa hoàn thành, nhưng một mẫu kiểm tra sơ bộ được thực hiện bởi Clausen và một sinh viên cao học của ông, Edward Treadwell, cho thấy những hạt này chắc chắn có chứa chất ancaloit. Hơn thế nữa, có khả năng rất lớn rằng chất ancaloit đó là swainsonine, một hợp chất có trong loại cỏ locoweed vẫn được các chủ trại gia súc và bác sỹ thú y biết đến.

Có tới năm mươi loại cỏ locoweed chứa độc tố khác nhau, mà chủ yếu thuộc giống Astragalus – một giống cây rất gần với Hedysarum. Triệu chứng rõ ràng nhất khi nhiễm độc cỏ locoweed là gây tổn hại tới hệ thần kinh. Theo một bài viết được đăng trên Tập san của Hiệp hội Y học Thú y Hoa Kỳ, khi nhiễm độc cỏ locoweed vật nuôi có biểu hiện “trầm cảm, bước đi loạng choạng, lông khô cứng, mắt đờ đẫn, gầy rộc, không điều khiển được các cơ thịt, và lo lắng (đặc biệt là khi căng thẳng). Thêm vào đó, những động vật chịu ảnh hưởng có thể trở nên xa lánh và khó kiểm soát, và có thể sẽ gặp khó khăn trong việc ăn uống.”

Dựa trên phát hiện của Clausen và Treadwell về việc hạt của cây khoai tây dại có thể chứa chất swainsonine hoặc một chất độc tố tương tự như thế, thì khả năng những cái hạt cây này đã gây ra cái chết cho McCandless là rất cao. Nếu sự thực đúng là như vậy, thì có nghĩa là McCandless không hề khinh suất hay kém cỏi như mọi người vẫn tưởng. Điều này có nghĩa là cậu đã không hề bất cẩn nhầm lẫn hai loại cây với nhau. Thứ cây đã đầu độc cậu chưa từng được biết tới là có chứa độc tố – thực vậy, cậu vẫn bình an mà ăn rễ cây của nó trong suốt nhiều tuần. Trong tình trạng đói ăn của mình, McCandless chỉ đơn giản phạm phải sai lầm vì đã ăn vào bụng các hạt cây này. Một cá nhân nếu có hiểu biết tốt hơn về các nguyên lý thực vật và cây trồng có thể sẽ không quyết định ăn chúng, nhưng đây hoàn toàn là một lỗi rất tình cờ: Tuy nhiên, sai lầm vô hại lại đủ để kết thúc cuộc đời cậu.

Tác hại của việc nhiễm độc swainsonine là mãn tính — chất alkaloid hiếm khi gây tử vong tức thì. Chất độc này phát tác một cách thầm lặng, gián tiếp, bằng cách ngăn chặn một loại enzim cần thiết đối với sự chuyển hóa glucoprotein. Nó tạo ra một màng ngăn bằng hơi lớn, trong hệ thuấn tuần hoàn của động vật có vú: Cơ thể mất đi khả năng chuyển hóa những gì ăn vào thành năng lượng. Nếu như anh hấp thụ quá nhiều swainsonine anh sẽ trở nên đói ăn, cho dù anh có nhét bao nhiêu thứ vào dạ dày đi nữa.

Các động vật đôi khi sẽ hồi phục sau khi nhiễm phải độc swainsonine nếu chúng ngừng ăn loại cỏ có chứa độc, nhưng chỉ khi chúng có cơ thể khỏe mạnh ở thời điểm bắt đầu ăn vào độc chất này. Để chất độc tích tụ trong cơ thể có thể được đào thải bằng đường nước tiểu, thì trước tiên cơ thể phải có sẵn các phân tử glucose hay amino acid. Phải cần đến một lượng lớn protein và đường để tẩy trừ chất độc ra khỏi cơ thể.

“Vấn đề là,” giáo sư Bryant giải thích, “trong trường hợp anh gầy yếu hay đang đói khi ăn vào những thứ này, anh sẽ không có đủ chất glucose và protein trong cơ thể; nên sẽ không có cách nào để thải chất độc ra ngoài. Khi một con thú ăn vào chất alkaloid — ngay cả chất vô hại như caffeine — thì nó cũng sẽ chịu tác động lớn hơn hẳn so với ở điều kiện bình thường bởi vì cơ thể thiếu lượng glucose dự trữ cần thiết để bài tiết nó ra. Chất alkaloid sẽ tích tụ trong cơ thể. Nếu như McCandless đã ăn một lượng lớn hạt cây trong điều kiện cậu ta đang đói, thì nó sẽ trở thành một thảm họa.”

Bị hạ gục bởi những hạt cây nhiễm nấm mốc, McCandless phát hiện ra rằng cậu bỗng nhiên trở nên quá yếu để đi tiếp và tự cứu lấy mình. Giờ đây cậu quá yếu để có thể đi săn và do vậy càng trở nên yếu hơn nữa, khiến cậu càng ngày càng đói hơn. Cuộc đời cậu bỗng nhiên vuột ngoài tầm kiểm soát chỉ trong một chớp mắt.

Ngày 31 tháng 7 và 1 tháng 8 không có dòng nhật ký nào được ghi lại. Vào ngày 2 tháng 8, nhật ký ghi vắn tắt “GIÓ THỔI DỮ DỘI.” Mùa thu vừa tới. Nhiệt độ giảm đột ngột, và ngày bỗng nhiên trở nên ngắn hơn: Mỗi một vòng quay trái đất lại bớt đi bảy phút ánh sáng mặt trời và kéo dài thêm bảy phút giá lạnh và bóng tối; theo thời gian của một tuần, đêm dài thêm gần một tiếng.

NGÀY THỨ 100! TÔI ĐÃ LÀM ĐƯỢC!” cậu ghi lại một cách đầy vui sướng vào ngày 5 tháng 8, đầy tự hào vì đã đạt tới cột mốc đáng ghi nhớ, “NHƯNG Ở TRONG TRẠNG THÁI YẾU ỚT NHẤT. CÁI CHẾT HIỆN RA LỜ MỜ NHƯ MỘT MỐI ĐE DỌA TRẦM TRỌNG. QUÁ YẾU NÊN KHÔNG THỂ RA NGOÀI, NÓI THEO CÁCH VĂN HOA THÌ ĐÃ BỊ GIAM CẦM TRONG THIÊN NHIÊN HOANG DÃ.—QUẢ KHÔNG PHẢI TRÒ ĐÙA.”

Nếu như McCandless có nghiên cứu qua tấm bản đồ địa chất của Hiệp hội Nghiên cứu Địa lý Hoa Kỳ, thì cậu sẽ biết đến sự tồn tại của một chiếc cabin thuộc về Đội kiểm lâm nằm ở thượng nguồn con sông Sushana, cách chiếc xe buýt sáu dặm, một khoảng cách mà cậu có thể thực hiện được ngay cả trong tình trạng sức khỏe xấu của mình. Chiếc cabin, nằm ngay bên rìa của Công viên Quốc gia Denali, được tích trữ một ít lương thực dùng cho mục đích khẩn cấp, giường, và các dụng cụ cấp cứu dành cho các kiểm lâm viên trong những chuyến tuần tra của họ vào mùa đông. Dù không được đánh dấu lên bản đồ, hai dặm gần hơn nữa tính từ chiếc xe buýt là một vài chiếc ca bin tư nhân — một chiếc thuộc về những người lái xe chó kéo nổi tiếng ở Healy là Will và Linda Forsberg; và cái kia, là của một kiểm lâm viên thuộc Công viên Quốc gia Denali, Steve Carwile — nơi chắc chắn cũng có một ít thức ăn ở đó.

Sự cứu mạng rành rành của McCandless, theo cách nói khác, dường như chỉ là một chuyến đi lên thượng nguồn con sông trong ba giờ đồng hồ. Sự thật đáng buồn và chua chát này được ghi nhận rộng rãi sau cái chết của cậu. Nhưng cho dù cậu có biết tới những chiếc ca bin này, chúng cũng không thể đưa McCandless thoát khỏi nguy hiểm: Vào thời điểm nửa cuối tháng 4, khi lần cuối cùng những chiếc cabin bị bỏ không khi thời tiết nóng lên của mùa xuân làm tan băng khiến xe chó kéo và các loại phương tiện đi trên tuyết chạy bằng xăng dầu khác gặp khó khăn trong vấn đề di chuyển, có một ai đó đã đột nhập vào ba ca bin trên và có chủ ý phá hoại chúng toàn bộ. Thức ăn bên trong đã bị phơi bày trước các con thú và thời tiết, và bị hỏng.

Việc này không được phát hiện cho tới cuối tháng 7, khi nhà sinh vật học hoang dã Paul Atkinson thực hiện chuyến đi mệt lử dài mười dặm đường trong rừng rậm qua Outer Range, từ con đường thuộc Công viên Quốc gia Denali tới đồn trú của đội kiểm lâm. Anh đã giật mình và chán nản bởi đống hỗn độn chào đón mình. “Chắc chắn đó không phải do một con gấu gây nên,” Atkinson kể lại. “Tôi là một chuyên gia về gấu, nên tôi biết rõ những con gấu sẽ để lại dấu vết như thế nào. Có vẻ như một ai đó đã vào trong cabin cùng với một cái búa nhổ đinh và đập phá mọi thứ ở bên trong. Từ kích cỡ của lùm cỏ ngựa mọc lên từ trên tấm đệm bị vứt ngoài cabin cho thấy, rõ ràng việc đột nhập đã diễn ra nhiều tuần trước đó.”

“Tất cả chỉ còn là rác,” Will Forsberg nói về chiếc cabin của mình. “Những thứ không bị kéo xuống cũng đều hỏng cả. Tất cả bóng đèn đều vỡ và hầu hết các ô cửa sổ cũng vậy. Giường và đệm bị lôi ra ngoài và ném thành một đống hỗn độn, trần nhà bị kéo xuống, các thùng dầu bị đâm thủng, lò sưởi gỗ bị tháo rời — ngay cả chiếc thảm lớn cũng bị lôi ra ngoài trời và để cho hỏng đi. Và toàn bộ lương thực đều hư hại hết. Nên cabin này chẳng thể giúp được gì cho Alex nếu như cậu ấy tìm thấy nó. Hoặc cũng có thể là cậu ấy đã làm vậy cũng nên.”

Forsberg coi McCandless là nghi phạm chính. Ông tin rằng McCandless đã ngẫu nhiên tìm thấy những chiếc cabin này sau khi tới chỗ chiếc xe buýt trong tuần đầu của tháng 5, bỗng nhiên nổi cơn thịnh nộ vì sự xâm chiếm của sự văn minh trong chuyến trải nghiệm thiên nhiên hoang dã quý báu của cậu ta, và đã phá hoại mấy chiếc cabin một cách có hệ thống. Tuy nhiên, giả thiết này không lý giải được lý do vì sao McCandless lại không phá hoại cả chiếc xe buýt nữa.

Carwile cũng nghi ngờ McCandless. “Chỉ là trực giác thôi,” ông giải thích, “nhưng tôi có cảm giác rằng cậu ta là loại người muốn ‘giải phóng thiên nhiên.” Việc phá hủy các cabin là một trong những cách để làm điều này. Hoặc có thể là cậu ta thấy chán ghét chính quyền: Cậu ta nhìn thấy tấm bảng của trạm kiểm lâm ở bên ngoài ca bin của đội, và cho rằng cả ba ca bin đều là tài sản của chính phủ, và quyết định sẽ đấu tranh chống lại Anh Cả[2]. Điều này là rất khả thi.”

Các nhà chức trách, về phần mình, không cho rằng McCandless là kẻ phá hoại. “Chúng tôi chưa điều tra ra được ai làm việc này,” Ken Kehrer, đội trưởng đội kiểm lâm của Công viên Quốc gia Denali nói. “ Nhưng mà chúng tôi không xem Chris McCandless là thủ phạm.” Trên thực tế, không có bằng chứng trong nhật ký hay những bức hình mà McCandless chụp cho thấy cậu có tới gần những chiếc ca bin. Khi McCandless thám hiểm quanh chiếc xe buýt vào đầu tháng 5, cậu chụp lại hình cậu đi về phía bắc, xuống hạ lưu con sông Sushana, theo hướng ngược lại với vị trí của những chiếc ca bin. Và ngay cả khi cậu có thực sự đến được đó, thì cũng thật khó mà tưởng tượng được cảnh cậu phá hoại những ngôi nhà đó mà lại không ghi vào nhật ký.

McCandlesss không viết nhật ký trong ngày 6, 7 và ngày 8 tháng 8. Ngày 9 tháng 8, cậu ghi lại rằng cậu bắn trượt một con gấu. Ngày 10 tháng 8, cậu nhìn thấy một con tuần lộc nhưng không bắn nó, và đã giết năm con sóc. Tuy nhiên, nếu như một lượng đáng kể chất swainsonine đã tích tụ trong cơ thể cậu, thì của trời cho này cũng không cung cấp dinh dưỡng gì nhiều. Vào ngày 11 tháng 8, cậu giết và ăn thịt một con gà gô trắng xám. Ngày 12 tháng 8, cậu lê khỏi chiếc xe buýt để đi tìm quả dại, sau khi để lại lời khẩn cầu giúp đỡ trong trường hợp hi hữu có ai đó có thể ghé qua trong lúc cậu ra ngoài. Cậu ghi lại lời nhắn bằng chữ in hoa vào một trang sách xé ra từ cuốn Taras Bulba của Gogol:

S.O.S. TÔI CẦN SỰ GIÚP ĐỠ. TÔI ĐANG BỊ THƯƠNG, SẮP CHẾT. VÀ KHÔNG ĐỦ SỨC ĐỂ RA KHỎI KHU VỰC NÀY. TÔI CHỈ CÓ MỘT MÌNH, ĐÂY KHÔNG PHẢI LÀ TRÒ ĐÙA. VÌ CHÚA, XIN HÃY CỨU LẤY TÔI. TÔI RA NGOÀI HÁI QUẢ DẠI VÀ SẼ QUAY LẠI VÀO BUỔI TỐI. XIN CẢM TẠ.

Cậu ký tên trên mẩu giấy “CHRIS MCCANDLESS. THÁNG TÁM?” Nhận thức được tính nghiêm trọng của tình thế khó khăn mà cậu đang vấp phải, cậu đã bỏ qua cái biệt danh đầy kiêu ngạo mà cậu sử dụng suốt những năm qua, Alexander Siêu lang thang, và sử dụng cái tên cúng cơm cha mẹ đã đặt cho cậu vào ngày sinh cậu ra.

Rất nhiều người Alaska không hiểu được tại sao, trong cơn tuyệt vọng của mình, McCandless lại không đốt một đám lửa thật lớn để tạo tín hiệu cấp cứu. Phải có đến gần hai thùng xăng ở trong chiếc xe buýt; đoán chừng, nó có vẻ là một vấn đề đơn giản để khởi tạo một đám cháy đủ lớn nhằm thu hút sự chú ý của những chiếc máy bay bay qua vùng đất này hay ít nhất là phải đốt một chữ SOS khổng lồ trong đầm lầy.

Tuy nhiên, trái ngược với những đánh giá chung, chiếc xe buýt không nằm dưới một tuyến đường bay nào cả, và họa hoằn lắm mới có vài chiếc máy bay bay qua nơi này. Trong suốt bốn ngày ở lại đường mòn Stampede, tôi không hề thấy một chiếc máy bay nào bay qua đầu, trừ những chiếc máy bay thương mại ở độ cao trên hai mươi nghìn feet. Những chiếc máy bay nhỏ lượn qua khu vực chiếc xe buýt lúc này lúc khác, nhưng McCandless sẽ phải đốt cháy cả một mảng rừng lớn để đảm bảo gây được sự chú ý của họ. Và như Carine McCandless đã chỉ ra, “Chris sẽ không bao giờ đốt cháy một khu rừng, ngay cả khi để cứu mạng mình. Bất kỳ ai đưa ra một ý kiến như vậy cũng không hiểu gì về anh trai tôi hết.”

Chết đói không phải là một cách thức dễ chịu để từ giã cõi đời. Trong giai đoạn cao trào của nạn đói, khi cơ thể bắt đầu tiêu thụ hết năng lượng, nạn nhân sẽ phải hứng chịu những cơn co rút cơ, loạn nhịp tim, rụng tóc, chóng mặt, thở hổn hển, đặc biệt nhạy cảm với cái lạnh, kiệt quệ về tình trạng thể sức và tinh thần. Khi thiếu đi những chất dinh dưỡng quan trọng, sự thiếu cân bằng hóa chất nghiêm trọng sẽ gia tăng trong não bộ, gây ra rối loạn và ảo giác. Dù vậy, một số người được cứu sống khỏi tình trạng chết đói nói rằng về cuối cơn đói biến mất, cơn đau đớn khủng khiếp được xua tan, và sự chịu đựng được thay thế bởi một trạng thái rất phê, một cảm giác thanh bình đi cùng với sự sáng suốt của tinh thần. Sẽ thật dễ chịu khi nghĩ rằng McCandless cũng trải qua những giây phút cuối đời như vậy.

Vào ngày 12 tháng 8, cậu viết những lời cuối cùng trong nhật ký: “Những trái việt quất xinh đẹp.” Từ ngày 13 tháng 8 tới ngày 18, các trang nhật ký của cậu không xuất hiện bất cứ điều gì khác ngoại trừ việc ghi nhận các ngày tháng. Ở một thời điểm nào đó trong tuần, cậu xé trang cuối cùng của cuốn hồi ký của Louis L’Amour, Giáo dục của một kẻ lang thang. Ở mặt bên kia của trang giấy có vài dòng mà L’Amour ghi lại từ bài thơ của Robinson Jeffers, tên “Wise Men in Their Bad Hours” (tạm dịch: Người thông minh trong những thời khắc khó khăn):

 

Cái chết giống như khúc hoan ca của con chim chiền chiện,

vì ra đi khiến vạn vật bỗng hóa hư vô

so với thịt xương kia, hơn hết cả là rũ bỏ nỗi yếu lòng.

Trước núi đá lặng câm,

người dù ngưỡng mộ hay tỏ ra chán ghét

Núi cao vẫn im lìm ngạo nghễ

và nào có dịu dàng hay lấy làm bực dọc

Và chỉ rất ít kẻ mới đủ bình tâm trong giờ khắc cuối cùng.

Ở mặt trắng bên kia của trang sách, McCandless viết ngắn gọn dòng chữ in hoa: “TÔI ĐÃ SỐNG MỘT CUỘC ĐỜI HẠNH PHÚC VÀ XIN TẠ ƠN CHÚA. XIN VĨNH BIỆT VÀ CẦU CHÚA PHÙ HỘ MỌI NGƯỜI!”

Rồi cậu cuộn tròn trong chiếc túi ngủ mà mẹ đã may cho cậu rồi rơi vào trạng thái vô thức. Cậu có thể đã chết vào ngày 18 tháng 8, 112 ngày kể từ khi cậu bước chân vào vùng hoang dã, 19 ngày trước khi sáu người dân Alaskans đi qua chiếc xe buýt và phát hiện ra thi thể cậu.

Một trong những động thái cuối cùng của cậu là chụp chân dung mình, đứng cạnh chiếc xe buýt dưới bầu trời Alaska cao vời vợi, một tay cầm những ghi chép cuối cùng của mình hướng về ống kính máy ảnh, tay kia vẫy chào từ biệt một cách dũng cảm và hạnh phúc. Khuôn mặt cậu hốc hác một cách thảm hại, chỉ còn da bọc xương. Nhưng nếu như cậu thấy tủi phận cho bản thân mình trong những giờ khắc cuối cùng đầy khó khăn này – bởi vì cậu vẫn còn quá trẻ, bởi vì cậu cô độc, bởi vì thân xác đã phản bội cậu và hạ gục cậu – thì những điều đó không hề hiện diện trong tấm hình. Cậu mỉm cười, và không nhầm lẫn được nếu như ta nhìn vào đôi mắt đó: Chris McCandless hoàn toàn thanh thản, bình yên như một vị thầy tu đắc đạo đi về với Chúa trời.


[1] Ancaloit là cách chuyển tự sang dạng Việt hóa nửa chừng của alkaloid (tiếng Anh) hay alcaloïde (tiếng Pháp) hoặc алкалоид (tiếng Nga). Một cách chặt chẽ thì nó là amin nguồn gốc tự nhiên do thực vật tạo ra, nhưng các amin do động vật và nấm tạo ra cũng được gọi là các ancaloit. Nhiều ancaloit có các tác động dược lý học đối với con người và các động vật khác. Tên gọi của ancaloit trong một số ngôn ngữ phương Tây có lẽ có nguồn gốc từ alkali/ancali (kiềm); và ban đầu thuật ngữ này được sử dụng để miêu tả bất kỳ một bazơ hữu cơ nào có chứa nitơ. Các ancaloit thông thường là các dẫn xuất của các axít amin và phần nhiều trong số chúng có vị đắng. Chúng được tìm thấy như là các chất chuyển hóa phụ trong thực vật (ví dụ khoai tây hay cà chua), động vật (ví dụ các loại tôm, cua, ốc, hến) và nấm. Nhiều ancaloit có thể được tinh chế từ các dịch chiết thô bằng phương pháp chiết axít-bazơ.

Trong khi nhiều ancaloit là các chất độc thì một số lại được sử dụng trong y học với vai trò như là các chất giảm đau hay gây tê, cụ thể như morphin hay codein, cũng như trong một số ứng dụng khác.

[2] Anh Cả: Big Brother, từ lóng để chỉ chính phủ Mỹ

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: