Into The Wild (17)

CHƯƠNG 17: ĐƯỜNG MÒN STAMPEDE

3375817912_5d0658defc_z

Thiên nhiên ẩn chứa bên trong nó những thù ác và sự gớm guốc, dù cho có tươi đẹp đến đâu. Tôi ngắm nhìn đầy choáng ngợp xuống mặt đất mà tôi đang bước đi, để xem Sức mạnh nào đã làm nên nó, hình dạng và thiết kế và chất liệu của tác phẩm này. Đó chính là Trái đất mà chúng ta vẫn thường nghe nói, mà được tạo ra từ Hỗn nguyên và Màn đêm tăm tối . Ở nơi đây không có những khu vườn của loài người, mà là mở ra một tinh cầu. Không phải là vườn cỏ, hay bãi chăn thả gia súc, hay những đồng cỏ, hay những miền rừng, hay những khoảng đất hoang, hay những mảnh đất trồng, hay những vùng hoang mạc. Nơi đây chỉ có bề mặt trong lành và tự nhiên của Trái đất, được tạo nên suốt muôn đời,— được dùng làm nơi trú ngụ ở của loài người, chúng ta vẫn thường nói với nhau như vậy ,— nên hãy trân trọng nó, và con người có thể sử dụng nếu như còn có thể. Con người không đủ tư cách để kết giao với nó. Nó là quan trọng, bao la, vĩ đại,— không phải là Đất Mẹ mà chúng ta vẫn thường nghe nói tới, không phải để ta có thể giẫm lên, hay để chôn cất chúng ta,— không phải, dù cũng thật gần với việc đặt những mẩu xương của ta trong lòng đất,— thì đây là nơi chốn, nơi này, của những Quy luật tất yếu và của Số phận. Ta có thể cảm nhận rất rõ ràng yêu cầu phải nhân từ với loài người. Ở nơi chốn thiếu văn minh và những nghi lễ mê tín, — con người ta mới sinh sống gần gũi với núi đá và những con vật hoang dã hơn chúng ta …. Những điều được thừa nhận bên trong những tượng đài, để chứng kiến vô số những điều riêng biệt, để so sánh với những gì được xem như là bề mặt của những vì sao, một số những vấn đề khó khăn trong ngôi nhà của nó! Tôi kinh sợ trước cơ thể mình, điều này xảy ra khi tôi cảm thấy xa lạ với chính mình. Tôi không sợ hãi những linh hồn, hồn ma, mà tôi là một trong số đó,—rằng cơ thể tôi có thể,— nhưng tôi sợ hãi những thân xác, tôi thấy run rẩy nếu phải bắt gặp họ. Là vị thần nào đã điều khiển tôi? Hãy nói về những điều bí ẩn! Suy nghĩ về cuộc sống của chúng ta trong tự nhiên,— trở thành vấn đề thường ngày, trở nên gắn kết với,— đá, cây, và làn gió vuốt ve khuôn mặt chúng ta! mặt đất rắn chắc! thế giới thực sự! những chuyện thường tình! Liên hệ! Tất cả đều có sự liên hệ! Chúng ta là ai? Chúng ta đang ở đâu?
HENRY DAVID THOREAL;
“KTAADN”

Một năm và một tuần sau khi Chris McCandless quyết định không vượt sông Teklanika River, tôi đứng ở bờ kia của dòng sông — bờ phía đông, bên bờ sông có đường cao tốc — và nhìn chằm chằm vào dòng sông cuộn sóng. Tôi cũng hy vọng có thể qua được con sông này. Tôi muốn ghé thăm chiếc xe buýt ấy. Tôi muốn nhìn thấy nơi McCandless chết, để hiểu rõ hơn vì sao.
Đó là một buổi chiều nóng nực, oi bức, và dòng sông giận dữ với những khối băng tuyết tan chảy từ bề mặt những dòng sông băng nơi rặng núi Alaska. Ngày hôm nay mực nước có vẻ như thấp hơn nhiều so với trong tấm ảnh mà McCandless chụp vào mười hai tháng trước, nhưng nếu cố gắng vượt sông từ đây, trong cơn lũ đầy tiếng sấm rền vang giữa mùa hè, thì quả thật là một hành động thiếu suy nghĩ. Nước quá sâu, quá lạnh, và chảy quá xiết. Và khi tôi nhìn xuống dòng sông Teklanika, tôi có thể nghe thấy tiếng của những hòn đá to cỡ những quả bóng bowling đang lăn bên dưới đáy sông, lăn xuôi dòng bởi con nước đầy hung hãn. Tôi sẽ bị nước cuốn trôi khi cách bờ chỉ mới vài yard và bị đẩy trôi xuống hẻm núi ngay bên dưới, nơi con sông trở thành dòng nước sủi bọt trắng xóa suốt năm dặm dài.
Tuy nhiên, không giống với McCandless, tôi có mang trong ba lô một tấm bản đồ địa hình cỡ 1:63.360 (mỗi một inch trên bản đồ tương đương với một dặm thực tế). Cực kỳ chi tiết, bản đồ cho thấy rằng nếu đi xuôi dòng khoảng một dặm nữa, ngay ở đầu khe núi, là một trạm thủy văn được xây dựng bởi Trung tâm Nghiên cứ Địa lý Hoa Kỳ. Và cũng không giống với McCandless, tôi đến nơi này cùng với ba người bạn đường khác: Roman Dial và Dan Solie đều là người Alaska và một người bạn của Roman tới từ California, Andrew Liske. Trạm thủy văn không thể trông thấy từ nơi con đường mòn Stampede dẫn xuống bờ sông, nhưng sau hai mươi phút tìm đường qua đám bụi cây tổng quán sủi và cây bulô lùn xủn um tùm, Roman kêu lên, “Tôi trông thấy rồi! Ở kia kìa! Thêm khoảng một trăm yard nữa.”
Chúng tôi đến nơi để tìm kiếm một sợi dây cáp bằng thép dày khoảng một inch kéo dài qua hẻm núi, kéo dài giữa tòa tháp cao mười lăm foot nơi chúng tôi đang đứng bên này sông với khoảng đất trồi lên ở phía bờ bên kia, cách đây bốn trăm foot. Sợi dây cáp được lắp đặt vào năm 1970 nhằm phục vụ cho công tác vẽ biểu đồ sự lên xuống của mực nước sông Teklanika theo mùa; các nhà thủy văn qua lại con sông bằng một cái thùng nhôm được treo vào sợi dây cáp với một cái ròng rọc. Từ trên chiếc thùng này họ sẽ thả xuống một sợi dây bằng chì nặng để đo mực nước. Trạm bị ngưng hoạt động cách đây chín năm vì lý do thiếu kinh phí, vào thời điểm mà chiếc thùng nhôm được dự kiến sẽ được kết nối và lắp đặt với tòa tháp nằm bên bờ sông nơi chúng tôi đứng — phía có đường cao tốc. Tuy nhiên, khi chúng tôi trèo lên nóc tòa tháp, chiếc thùng không có ở đó. Nhìn xuống dòng nước xiết, tôi có thể trông thấy xa bên bờ kia của con sông, ở bên kia của khe núi — là chiếc xe buýt.
Hình như, các thợ săn địa phương, đã cắt đường cáp, đưa chiếc thùng sang bên kia sông, và cất giấu nó thật cẩn thận để tránh việc những kẻ lạ mặt vượt sông Teklanika và xâm phạm mảnh đất của họ. Khi McCandless cố gắng rời khỏi bụi rậm một năm về trước, ngay tuần trước đó chiếc thùng vẫn còn ở nguyên vị trí của nó, ở bên này của khe núi. Nếu như cậu biết tới sự hiện diện của nó, việc vượt sông an toàn sẽ chỉ là một vấn đề nhỏ. Tuy vậy, do không có tấm bản đồ địa hình, cậu không có cách nào biết được sự giải thoát lại gần đến thế.
Andy Horowitz, một trong số những người bạn của McCandless tại đội Woodson High, đã ngẫm ngợi rằng Chris “sinh ra nhầm thế kỷ. Cậu chàng tìm kiếm nhiều phiêu lưu và tự do hơn so với những gì mà xã hội ngày nay dành cho con người.” Để đi tới Alaska, McCandless mong mỏi được lang thang vào vùng đất không được ghi lại trên bản đồ, để tìm kiếm một điểm trống trên tấm bản đồ. Tuy nhiên, vào năm 1992, không thực sự còn lại một điểm trống nào trên bản đồ nữa cả — dù là Alaska, dù ở bất cứ nơi nào. Nhưng mà Chris, với thứ logic đặc hữu của mình, đã đưa ra một giải pháp đầy tao nhã cho bài toán đố này: Cậu chỉ việc đơn giản bỏ qua tấm bản đồ là đủ. Trong tâm trí cậu, nếu như không còn một nơi nào nữa, thì terra (vùng đất) do đó sẽ là incognita (không để lộ tung tích).
Bởi vì cậu thiếu mất một tấm bản đồ chi tiết, sự tồn tại của chiếc cáp treo để vượt sông cũng trở thành incognita. Suy xét dòng chảy dữ dội của con sông Teklanika, McCandless đã phạm phải sai lầm khi cho rằng việc sang được bờ phía đông là điều không thể. Với suy nghĩ rằng con đường rút lui của cậu đã bị chặn đứng, cậu quay lại chỗ chiếc xe buýt — một hành động có tính hợp lý, khiến cho cậu trở thành kẻ kém cỏi về mặt nắm bắt địa hình. Nhưng tại sao sau đó cậu chọn ở lại chỗ chiếc xe và chịu chết đói? Tại vì sao, khi mà tháng 8 đến, cậu lại không cố gắng thêm một lần nữa để vượt sông Teklanika, khi mà mực nước sông rõ ràng đã xuống thấp, khi mà việc qua sông đã trở nên an toàn hơn?
Phân vân với những câu hỏi này, và không thể yên lòng, tôi hy vọng rằng chuyến đi tới chỗ của chiếc xe buýt Fairbanks 142 sẽ cho tôi một vài gợi ý. Nhưng để tới được chỗ chiếc xe, cả tôi nữa, cũng cần phải vượt sông, và chiếc thùng nhôm thì vẫn nằm ở phía bên kia bờ.
Đứng trên ngọn tháp, neo vào một đầu sợi dây cáp kéo dọc về hướng đông, tôi gắn đầu móc dụng cụ leo núi của mình vào sợi dây cáp và bắt đầu vượt sông, từ từ với từng cái nắm tay một vào sợi cáp, một kỹ thuật mà những người leo núi vẫn gọi là đi qua theo kiểu Tyrolean. Việc này vất vả hơn nhiều so với tính toán ban đầu của tôi. Hai mươi phút sau khi bắt đầu, tôi cuối cùng cũng đưa mình sang được mô đất ở phía bờ bên kia, mệt rã rời, đuối đến nỗi tôi cố lắm mớii giơ được tay lên. Sau khi điều hòa lại nhịp thở, tôi trèo vào trong chiếc thùng nhôm — một chiếc xe hình chữ nhật rộng 2 foot và dài 4 foot — nối nó với sợi dây cáp, và quay trở lại mặt phía đông của khe núi để đưa những người bạn của mình vượt sông.
Sợi dây cáp chùng xuống khi trúng tôi trượt tới giữa dòng; nên tôi nới lỏng đầu dây phía bên này, để chiếc xe trượt nhanh và nhẹ nhàng hơn trọng lượng của nó, trượt càng ngày càng nhanh dọc theo dây cáp bằng thép, hướng về phía điểm thấp nhất. Đó là một chuyến qua sông khá mạo hiểm. Khi trượt đi với tốc độ tầm hai mươi đến ba mươi dặm một giờ, tôi như nghe thấy tiếng hồn mình lìa khỏi xác trước khi nhận ra không còn nguy hiểm nữa và lấy lại bình tĩnh.
Sau khi cả bốn chúng tôi qua được bờ phía tây của hẻm núi, ba mươi phút đi trong bụi rậm đầy mệt nhọc đã đưa chúng tôi trở lại đường mòn Stampede. Con đường mòn dài mười dặm mà chúng tôi đang nhắm đến — phần nằm giữa nơi chúng tôi đỗ xe với con sông — là một con đường được đánh dấu rõ ràng, dễ đi, và thường xuyên có người qua lại. Nhưng mười dặm đường tiếp theo lại hoàn toàn khác biệt.
Bởi vì rất ít người vượt sông Teklanika trong suốt những tháng mùa xuân và mùa hè, phần lớn con đường bị che khuất và cây bụi mọc um tùm. Ngay sau khi vượt qua sông, con đường mòn uốn lượn thành đường vòng xuống phía tây nam, phía trên lớp đáy sỏi của một con lạch nước chảy xiết. Và bởi vì lũ hải ly đã xây dựng một mạng lưới hồ đập phức tạp qua con lạch này, con đường dẫn thẳng tới một khu vực nước đọng trải dài trên ba mẫu đất. Những cái hồ do lũ hải ly tạo ra có độ sâu không quá ngực, nhưng nước thì lạnh, và khi chúng tôi bì bõm lội qua, chân chúng tôi khuấy đám tạp chất ở dưới đáy lên thành một thứ mùi hôi thối giống như thứ chất nhờn độc hại của xác động vật thối rữa.
Con đường dẫn lên một ngọn đồi phía sau cái hồ ở vị trí cao nhất, rồi nhập vào làm một với mặt đất gồ ghề, lởm chởm những đá trước khi tiến vào một rừng cây bụi. Chuyến đi lên chẳng khó khăn gì, nhưng việc vượt qua đám cây tổng quán sủi cao mười lăm foot xoắn xít vào nhau thật u ám, đáng sợ, và ngột ngạt. Hàng đàn muỗi bất ngờ hiện ra trong khí trời oi bức. Cứ vài phút tiếng kêu vo ve khó chịu của chúng lại bị át đi bởi tiếng sấm rền phía đằng xa, ầm ào vang lên khắp cả khu rừng taiga từ một khối mây khổng lồ, tối sầm nơi phía chân trời.
Cây bụi để lại một vết rách rướm máu trên cẳng chân tôi. Rất nhiều dấu chân gấu xuất hiện trên con đường mòn, và, tại một điểm nào đó, có những dấu vết còn rất mới của một con gấu xám — mỗi một nửa dấu chân có độ dài cỡ đôi ủng số 9 — khiến tôi lạnh cả xương sống. Chẳng ai trong chúng tôi mang theo súng cả. “Này, Gấu!” Tôi hét vọng xuống mặt đất bên dưới, hi vọng sẽ tránh được một cuộc tấn công bất ngờ. “Này, gấu! Hãy đi đi! Không có gì đâu nhé!”
Tôi đã tới Alaska khoảng hai mươi lần trong suốt hai mươi năm qua — để leo núi, để làm việc với tư cách là thợ mộc và thương gia buôn cá hồi và nhà báo, để làm mấy trò ngu ngốc, và để mò mẫm loanh quanh. Tôi đã dành rất nhiều thời gian ở một mình tại nơi này trong những lần tới thăm vùng đất và thường xuyên thích thú thưởng thức điều đó. Thực vậy, tôi đã dự định đi đến chỗ chiếc xe buýt một mình, và khi mà anh bạn Roman của tôi tự mời mình gia nhập cùng với hai người khác nữa, tôi quả có thấy bực bội trong lòng. Tuy nhiên, vào lúc này, tôi thấy mình may mắn vì có sự hiện diện của các bạn đường. Có điều gì đó thật bất an về vùng đất hoang vu, u ám này. Nó mang tới cảm giác có ác tâm hơn hẳn những vùng đất khác, một góc khuất biệt lập hơn hẳn vùng đất mà tôi vẫn từng quen biết — mặt dốc lãnh nguyên của rặng núi Brooks, rừng mây phủ kín bầu trời phía trên quần đảo Alexander, và ngay cả khối núi Denali sừng sững phủ băng, hun hút gió nữa. Tôi vui mừng khôn xiết vì không phải ở đó một mình.
Vào 9:00 tối chúng tôi rẽ vào con đường mòn, ở bên rìa của một vùng đất được phát quang sạch sẽ, là chiếc xe buýt. Những bó cỏ ngựa màu hồng mọc ra và bao lấy bánh xe, vươn cao hơn cả trục xe. Chiếc xe buýt Fairbanks 142 nằm bên một rừng cây dương lá rụng, cách gờ một vách đá cao vừa phải tầm mười yard, trên một phần đất cao nhìn ra ngã ba con sông Sushana và một nhánh sông phụ khác. Đó là một sự sắp đặt đầy lôi cuốn, khoáng đạt và chan hòa ánh sáng. Và thật dễ hiểu vì sao khi McCandless lại quyết định lựa chọn nơi này làm đại bản doanh.
Chúng tôi dừng lại cách chiếc xe buýt một chút và ngắm nhìn nó trong yên lặng. Nó được sơn màu trắng và đã tróc sơn ra từng mảng. Rất nhiều ô cửa sổ bị mất kính. Hàng trăm những mẩu xương nhỏ vương vãi xung quanh chiếc xe, rải rác quanh hàng nghìn những chiếc lông nhím: là những gì còn sót lại của trò chơi nho nhỏ góp thành sự ăn kiêng hoàn toàn của McCandless. Và ngay vòng ngoài của mảnh sân xương này là một bộ xương lớn hơn rất nhiều: đó chắc hẳn là con nai sừng tấm mà cậu đã bắn hạ, và sau đó thì dằn vặt vì nó.
Khi tôi phỏng vấn Gordon Samel và Ken Thompson không lâu sau khi họ phát hiện ra thi thể của McCandless, cả hai người đàn ông đều quả quyết — một cách chắc chắn và dứt khoát — rằng bộ xương lớn đó là của một con tuần lộc caribu, và họ cười nhạo sự ngờ nghệch của tay thợ say mới vào nghề khi nhầm lẫn con vật mình bắn hạ thành con nai sừng tấm. “Lũ sói làm vãi một ít xương,” Thompson bảo với tôi, “nhưng chắc chắn con vật này là tuần lộc caribu. Cậu nhóc đó không biết được mình làm gì ở nơi này.”
“Đó chắc chắn là một con tuần lộc,” Samel chen vào đầy khinh miệt. “Khi tôi đọc tờ báo viết rằng cậu ta nghĩ mình đã bắn một con nai, điều đó cho thấy cậu ta không phải là người Alaska. Một con nai sừng tấm chẳng có gì tương đồng với một con tuần lộc hết. Nếu không phân biệt được hai con vật này với nhau thì đúng là cực kỳ ngu ngốc.”
Tin lời của Samel và Thompson, những thợ săn kỳ cựu người Alaska đã từng bắn hạ rất nhiều những con nai sừng tấm và tuần lộc, tôi đàng hoàng ghi lại sai lầm của McCandless trong bài báo mà tôi viết cho tờ Outside, từ đó dẫn đến suy nghĩ của vô số những đọc giả khác rằng McCandless đã thiếu chuẩn bị một cách lố bịch, rằng cậu không được phép đi vào bất kỳ vùng hoang dã nào, chứ đừng nói đến vùng hoang dã rộng lớn Vành đai cuối. Không chỉ có mình McCandless phải bỏ mạng vì sự ngu ngốc của chính mình, một người dân Alaska viết trong thư như vậy, mà “dù cho phạm vi của những cuộc phiêu lưu mang phong cách cá nhân của cậu ta rất nhỏ nhưng cũng đủ để khuấy động một làn sóng thương cảm — chiếm dụng một chiếc xe buýt hỏng cách thị trấn Healy chỉ một vài dặm, bắn hạ lũ chim giẻ cùi và đám sóc, nhầm lẫn một con tuần lộc với một coi nai sừng tấm (mà điều này rất khó xảy ra)…. Chỉ có một từ duy nhất dành cho anh chàng này: kém cỏi.”
Trong số những lá thư đả kích McCandless, hầu như tất cả những bức thư mà tôi nhận được đều có nhắc đến sự kiện cậu nhầm lẫn con tuần lộc như là một bằng chứng cho thấy cậu không biết đến quy tắc đầu tiên để sống sót ở nơi hoang dã. Tuy nhiên, điều mà những người viết thư đầy giận dữ này không biết tới, là con vật bốn chân mà cậu bắn hạ đúng là con vật mà cậu đã kể tên. Hoàn toàn trái ngược với những gì mà tôi ghi lại trong bài báo trên tạp chí Outside, con vật đó thực sự là một con nai sừng tấm, khi một cuộc nghiên cứu cụ thể về phần còn sót lại của con vật đã cho thấy như vậy và hàng loạt các tấm ảnh của McCandless cũng minh chứng cho điều đó. Chàng trai đã phạm phải một vài sai sót trên đường mòn Stampede, nhưng việc nhầm lẫn một con tuần lộc với một con nai sừng tấm không nằm trong số đó.
Lướt qua đống xương của con nai, tôi tiếp cận với chiếc xe buýt và bước vào trong qua cửa thoát hiểm ở sau xe. Ngay bên trong cửa là tấm đệm đã rách, ố bẩn và nát bấy, nơi mà McCandless trút hơi thở cuối cùng. Vì một số lý do nhất định tôi bước lùi lại và tìm thấy các vật dụng còn lại của cậu rải rác xung quanh tấm nệm: một bi đông đựng nước bằng nhựa màu xanh lá; một lọ nhỏ đựng các viên lọc nước; một thỏi son dưỡng Chap Stick đã dùng gần hết; một chiếc quần nhảy dù là loại chỉ có thể tìm thấy trong những cửa hàng quân trang chuyên dụng; một cuốn bìa mềm tác phẩm bán chạy O Jerusalem!, gáy sách bị gãy; đôi găng tay len hở ngón; một bình xịt chống muỗi hiệu Muskol; một hộp diêm đầy; và một đôi ủng lao động bằng cao su màu nâu với cái tên Gallien được viết lên trên nó bằng mực đen đã phai màu.
Dù cho khung cửa đã bị hỏng, không khí bên trong chiếc xe dài ngoằng này vẫn có cái mùi ôi thiu và ẩm mốc. “Ối,” Roman kêu lên. “Trong này có mùi như chim chết.” Một giây sau đó tôi bước tới nơi phát ra mùi thối: một túi rác chất đầy lông chim, lông tơ, và những cái cánh còn lại của những con chim. Có vẻ như McCandless đã giữ chúng lại để làm quần áo hoặc là một chiếc gối lông vũ.
Ở phía trước chiếc xe, nồi niêu và bát đĩa của McCandless được chất trên một chiếc bàn gỗ dán tạm bên cạnh một cái đèn dầu. Một cái bao bọc dao bằng da được trang trí một cách đầy tinh tế với các chữ cái được viết hoa R. F: vỏ con dao rựa mà ông Ronald Franz đã đưa cho McCandless khi cậu rời thành phố Salton.
Chiếc bàn chải màu xanh của chàng trai được đặt cạnh một tuýp kem đánh ranh Colgate còn một nửa, một hộp chỉ nha khoa, và mẩu nạm răng bằng vàng, theo như trong nhật ký của cậu ghi lại, rơi khỏi răng cậu sau ba tuần tạm trú. Cách đó chỉ vài cm là một cái đầu lâu có cỡ quả dưa hấu, chiếc răng nanh to thòi ra từ hàm trên trắng bóng. Đó là đầu lâu của một con gấu, phần còn lại của một con gấu xám Bắc Mỹ đã bị ai đó bắn hạ khi ghé qua chiếc xe buýt nhiều năm trước chuyến đi của McCandless. Chữ của Chris được viết nắn nót gần chỗ lỗ đạn: HIỆU TRIỆU CON MA GẤU, CON QUÁI VẬT NGỰ TRỊ TRONG MỖI CHÚNG TA. ALEXANDER SIÊU LANG THANG. THÁNG 5/ 1992.
Ngước nhìn lên, tôi nhận thấy rằng thành kim loại của chiếc xe được bao phủ bởi những hình vẽ do vô số những người ghé qua đã để lại trong suốt những năm qua. Roman chỉ vào một dòng chữ mà anh ấy đã viết khi ghé qua chiếc xe này vào bốn năm trước đó, trong khi đi ngang qua rặng núi Alaska: NGƯỜI ĂN MỲ ĐANG TRÊN ĐƯỜNG ĐI TỚI HỒ CLARK 8/89. Cũng giống như Roman, hầu hết mọi người đều để lại những dấu ấn nhiều hơn một cái tên và một ngày tháng. Thông điệp dài nhất, hùng hồn nhất là một trong số những dòng chữ của McCandless, lời tuyên bố về niềm vui sướng bắt đầu với một trích đoạn trong bài hát yêu thích của cậu được sáng tác bởi Roger Miller: HAI NĂM TRỜI ANH ĐI VÒNG QUANH TRÁI ĐẤT, KHÔNG ĐIỆN THOẠI, KHÔNG BỂ BƠI, KHÔNG THÚ NUÔI, KHÔNG THUỐC LÁ. TỰ DO TUYỆT ĐỐI. MỘT NGƯỜI CÓ QUAN ĐIỂM CỰC ĐOAN QUÁ KHÍCH. NHÀ DU HÀNH DUY MỸ NƠI MÁI NHÀ LÀ NHỮNG CON ĐƯỜNG….
Ngay bên dưới vị trí của bản tuyên ngôn này là chiếc lò nướng, được chế từ một thùng đựng dầu đã han rỉ. Một khối củi gỗ cây vân sam chất nơi cửa lò, và bên kia khúc gỗ treo hai chiếc quần bò Levi’s bạc phếch, đang chờ khô. Một chiếc quần — cỡ ba mươi, hoặc là ba mươi hai — được vá sơ sài với một sợi dây bằng bạc; chiếc còn lại được chỉnh trang cẩn thận hơn, với mảnh vá của một tấm ga trải giường đã phai màu nơi đầu gối. Chiếc quần thứ hai cũng được cài một chiếc thắt lưng được bện từ những sợi vải kéo ra từ một chiếc chăn. McCandless, theo như những gì tôi thấy, hẳn đã phải làm chiếc thắt lưng này sau khi gầy đi và không thể mặc vừa quần được nữa.
Ngồi xuống cái bệ vắt ngang lò nướng để suy nghĩ về cảnh tượng kỳ quái này, tôi chạm trán với bằng chứng về sự hiện diện của McCandless ở bất cứ nơi nào tôi đưa mắt nhìn tới. Đây là cái bấm móng tay của cậu, kia là chiếc lều bằng ni lông màu xanh mà cậu dùng để che ô cửa sổ trống. Đôi ủng leo núi mua ở Kmart được cất gọn gàng bên dưới lò nướng, dầu cho cậu sẽ sớm cột dây giầy và đi tới chỗ con đường mòn. Tôi thấy không thoải mái chút nào, như thể tôi là một kẻ đột nhập, một kẻ tọc mạch chui vào phòng ngủ của McCandless trong khi cậu vừa mới vắng nhà. Bỗng nhiên cảm thấy nôn nao, tôi loạng choạng bước ra khỏi chiếc xe buýt để đi dạo dọc bờ sông và hít thở không khí trong lành.
Một giờ sau đó tôi đốt lửa trại ở ngoài trời trong khi ánh sáng đang nhạt dần. Cơn mưa ập xuống, lúc này đã tạnh, gột rửa khói bụi trong tầng không, và đằng xa, những triền đồi hiện lên sắc lạnh trong điều kiện ngược sáng. Một mảnh trời nóng sáng như bùng cháy lên bên dưới những đám mây nơi đường chân trời tây bắc. Roman lấy một ít thịt sườn của một con nai sừng tấm mà anh từng săn được vào tháng 9 năm ngoái tại dãy núi Alaska ra khỏi giấy bọc và đặt chúng trên một cái vỉ nướng cháy đen rồi đặt trên đống lửa, chính là cái vỉ nướng mà McCanless vẫn dùng để nướng thịt. Mỡ của con nai chảy xuống và cháy xèo xèo trên mặt than. Thưởng thức thứ thịt sườn sụn bằng tay, chúng tôi vừa đập muỗi và cùng nói chuyện về một con người mà không một ai trong số chúng tôi từng gặp mặt, cố gắng có thể xoay xở ra lý do vì sao cậu lại đi đến một tấm thảm kịch như vậy, cố gắng để hiểu được vì sao có những con người lại căm ghét cậu đến thế vì đã bỏ mạng nơi đây.
Một cách có chủ đích McCandless đã tới vùng đất này mà chẳng chuẩn bị gì nhiều, và cậu thiếu những vật dụng mà những người dân Alaska luôn xem là cần thiết: một khẩu súng săn lớn, một tấm bản đồ và một cái la bàn, một cái cưa. Và điều này cho thấy bằng chứng của sự không chỉ là ngu ngốc thôi mà còn cả tội danh lớn hơn, chính là sự kiêu ngạo. Một số lời phê bình còn dẫn chứng tới sự tương đồng giữa McCandless và tấn thảm kịch nổi tiếng nhất của Bắc Cực, Sir John Franklin, một sĩ quan hải quân Hoàng gia Anh thuộc thế kỷ 19, người mà vì tính tự mãn thiển cận và ngạo mạn của mình đã liên đới tới 140 cái chết, trong đó có ông.
Vào năm 1819, Hải quân hoàng gia chỉ thị cho Franklin dẫn đầu một cuộc thám hiểm vào vùng hoang dã nằm ở phía tây bắc của Canada. Hai năm ròng rời khỏi nước Anh, mùa đông chế ngự đội ngũ nhỏ bé của ông khi họ khó nhọc vượt qua vùng lãnh nguyên bao la và trống trải mà họ đặt tên thánh cho nó là Barrens, cái tên cho tới tận ngày nay vẫn còn được sử dụng. Lương thực cạn dần. Mọi thứ trở nên khan hiếm, buộc Franklin và những người của mình phải tồn tại dựa vào việc nhổ cây địa y trên những tảng đá cuội, lần theo dấu vết của những con hươu, ăn thịt thối rữa của động vật còn dính lại trên những khúc xương, ăn cả những đôi ủng da của họ, và cuối cùng là ăn thịt lẫn nhau. Trước khi cuộc thử thách có thể kết thúc, ít nhất hai người trong đoàn đã bị giết hại và ăn thịt, nghi phạm giết người ngay tức khắc bị khành quyết, và tám người khác thì chết vì bệnh tật và đói khát. Franklin ở trong tình trạng chỉ còn sống được thêm một hay hai ngày nữa khi ông và những người còn sống khác được giải cứu bởi một nhóm người lai.
Là một quý ông lịch lãm thuộc thời đại Victoria. Franklin được đánh giá là một công chức đôn hậu, gan góc và thiếu kỹ năng cần thiết, với những lý tưởng ngây thơ của một đứa trẻ và một sự khinh thường đối với kỹ năng sinh tồn nơi hoang dã. Ông đã thiếu mất sự chuẩn bị khi dẫn đầu đội thám hiểm Bắc Cực, và khi quay trở về Anh quốc, ông được biết đến với cái tên Kẻ Ăn Giày — dù biệt hiệu này được đặt cho ông với sự kính trọng hơn là nhạo báng. Ông được chào đón như là vị anh hùng của dân tộc, được thăng cấp Đô đốc Hải quân, được trả nhiều tiền để viết sách về cuộc viễn chinh của mình, và, vào năm 1825, nhận được lệnh thám hiểm Bắc cực lần thứ hai.
Chuyến đi xuôi chèo mát mái, nhưng vào năm 1845, với hy vọng cuối cùng cũng khám phá ra Con đường Tây bắc trong truyền thuyết, Franklin đã phạm phải sai lầm khi quay trở lại Bắc cực lần thứ ba. Không có bất kỳ tin tức gì về ông và 128 người dưới quyền chỉ huy của mình. Đoàn bốn mươi nhà thám hiểm được cử đi tìm kiếm họ cung cấp những bằng chứng cho thấy rằng tất cả đều đã bỏ mình, trở thành nạn nhân của chứng bệnh sco-bút (bệnh của máu do thiếu Vitamin C trong đồ ăn thường ngày) tầm thường, đói ăn, và cả những sự dằn vặt không thể kể đến khác.
Khi McCandless tử nạn, cậu được liên hệ tới Franklin không chỉ đơn giản bởi vì cả hai người đàn ông đều chết đói mà còn bởi cả hai đều được xem là không có đủ sự khiêm tốn cần thiết; cả hai đều được cho rằng thiếu sự tôn trọng cần thiết dành cho vùng đất này. Một thế kỷ sau cái chết của Franklin, nhà thám hiểm xuất chúng Vilhjalmur Stefansson chỉ ra rằng nhà thám hiểm người Anh không bao giờ chịu nhọc công học hỏi những kỹ năng sinh tồn của người thổ dân da đỏ và của người Eskimo — những con người đã xoay sở để phát triển khỏe mạnh “hàng thế hệ, sinh con đẻ cái và quan tâm tới tuổi tác của mình” trên cùng một vùng đất khắc nghiệt đã giết chết Franklin. (Stefansson thuận tiện bỏ qua việc nhắc tới rằng rất, rất nhiều những người da đỏ và Eskimos cũng đã chết đói nơi mảnh đất phương bắc này.)
Tuy nhiên, tính kiêu ngạo của McCandless không hề giống với của Franklin. Franklin coi thiên nhiên như là một vật đối kháng mà chắc chắn có thể thuần phục được bằng sức mạnh, nền tảng giáo dục tốt, và những kỷ luật dưới thời Victoria. Thay vì chung sống hài hòa với vùng đất, thay vì tin tưởng vào vùng đất với khả năng nuôi dưỡng ta như những gì người thổ dân vẫn làm, ông đã cố cách ly bản thân mình với môi trường phương bắc bởi những dụng cụ và kỷ luật quân đội không phù hợp. Còn McCandless lại đi quá xa theo chiều hướng ngược lại. Cậu đã cố gắng sống hoàn toàn phụ thuộc vào vùng đất — và cậu cố gắng làm điều đó mà chẳng hề bận tâm tới việc làm chủ những kỹ năng sinh tồn cần thiết trước đấy.
Dù vậy, có thể là thiếu chính xác, khi khiển trách McCandless vì đã thiếu chuẩn bị. Cậu còn trẻ, và cậu đánh giá quá cao tính kiên cường của mình, nhưng cậu đã trải qua mười sáu tuần chỉ với trí thông minh của mình và với chỉ mười pound gạo. Và cậu cũng hoàn toàn nhận thức được khi đi vào vùng hoang dã rằng cậu đang đẩy mình vào nguy hiểm dù chỉ với một sai phạm. Cậu hiểu rõ cái giá của vụ đánh cược này.
Quả chẳng thể nói là bất thường khi một thanh niên trẻ lại bị thu hút bởi việc theo đuổi những gì được xem là mạo hiểm bởi những người lớn tuổi; tham dự vào một hành vi mạo hiểm là một sự trải nghiệm có tính nghi thức trong nền văn hóa của chúng ta cũng như là những nền văn hóa khác. Hiểm nguy luôn chứa đựng trong nó sự cám dỗ nhất định. Điều đó, là lý do chủ yếu của việc tại sao rất nhiều thanh thiếu niên lại lái xe quá nhanh và sử dụng chất gây nghiện, và cũng là lý do tại sao mà một quốc gia lại có thể dễ dàng chiêu mộ các nam thanh niên tham gia quân ngũ đến như vậy. Nó có thể được biện minh rằng sự táo bạo của tuổi trẻ trên thực tế là việc mở ra khả năng thích ứng với sự tiến hóa, một hành vi đã ăn sâu vào trong bản chất của giống loài của chúng ta. Và McCandless, theo cách của mình, có lẽ cũng mạo hiểm theo đúng logic này.
Cậu có nhu cầu kiểm tra bản thân mình theo một số cách nhất định, như cậu vẫn thường nói rằng, “điều đó là quan trọng.” Cậu sở hữu rất nhiều — mà có một số người có thể nói rằng quá nhiều — tham vọng về mặt tinh thần. Theo như sự chuyên chế về mặt đạo đức mà đã hình thành nên tính cách của McCandless, một thách thức mà kết quả thành công được đảm bảo thì không thể được xem là thử thách.
Dĩ nhiên, không chỉ đơn thuần người trẻ tuổi mới bị thu hút bởi những việc mạo hiểm. John Muir chủ yếu được nhớ tới như là người ủng hộ công cuộc bảo vệ môi trường thiên nhiên cuồng nhiệt và là người thiết lập kiêm chủ tịch của Câu lạc bộ Sierra, nhưng ông cũng là một nhà thám hiểm dũng cảm, một tay đua mô tô không biết sợ là gì qua những đỉnh núi, những dòng sông băng, và những thác nước và nổi tiếng nhất với bài viết gây sự chú ý của dư luận do suýt nữa thì mất mạng, vào năm 1872, trong khi leo ngọn núi Ritter ở California. Trong bài viết khác Muir hào hứng mô tả lại việc thoát khỏi cơn bão hung tàn đổ bộ qua Sierra một cách đầy tình cờ, trên những nhánh cao nhất của cây linh sam cao tới một trăm foot tại Douglas:
[Chưa]bao giờ trước đây tôi trải qua sự vận động lạ kỳ đến như vậy. Ngọn cây gầy guộc như bay phần phật và kêu vun vút trong trong cơn mưa xối xả, cong xuống và xoáy trước ra sau rồi từ sau ra trước, vòng quanh và vòng quanh, hòa làm một đường thẳng đứng với đường chân trời cong cong, trong khi tôi bám víu lấy nó với các cơ căng lên, như một chú se sẻ con trên đám sậy.
Ông ba mươi sáu tuổi vào thời điểm đó. Có người ngờ rằng Muir sẽ không xem McCandless là kỳ quặc hay không thể hiểu nổi.
Ngay cả Thoreau hay trầm mặc và khó tính, người nổi tiếng với tuyên bố rằng việc có được “một chuyến đi hòa hợp” là quá đủ, cũng cảm thấy cưỡng bách khi tới những vùng đất hoang dã Maine hoang vu vào thế kỷ 19 và leo ngọn núi Katahdin. Chuyến leo lên đỉnh núi của ông “thật hoang vu và khủng khiếp, nhưng thật đẹp” đã xây đắp thành lũy hoảng hốt và sợ hãi trong ông, nhưng nó cũng mang tới một cơn choáng ngợp phù phiếm. Cảm giác bất an trong ông về độ cao của ngọn núi đá Katahdin đã tạo cảm hứng cho một số những bài viết hùng hồn nhất của ông và đặt nền móng cho việc hình thành nên lối suy nghĩ trong ông về trái đất trong trạng thái thô sơ, chưa được thuần hóa của nó về sau này.
Không giống như Muir và Thoreau, McCandless đi vào vùng hoang dã không hoàn toàn chỉ để chiêm nghiệm về thiên nhiên hay thế giới nói chung, thay vì vậy, là để khám phá vùng đất bên trong tâm hồn cậu. Tuy nhiên, cậu rồi sớm nhận ra những điều mà Muir và Thoreau đều đã biết: Sự trở lại lâu dài nơi vùng đất hoang vu chắc chắn sẽ ảnh hưởng tới sự chú tâm của một con người cả ở bên trong lẫn bên ngoài, và sẽ là điều không tưởng khi sống trong vùng hoang dã mà không phát triển cả sự hiểu biết sâu sắc, và cả mối liên hệ cảm xúc mạnh mẽ, về vùng đất và những gì thuộc về nó.
Những trang nhật ký của McCandless đều bao hàm những cách nhìn trừu tượng về thiên nhiên hoang dã, vì lẽ đó, nhiều vấn đề được lặp đi lặp lại. Rất hiếm khi có sự đề cập tới khung cảnh xung quanh. Thực vậy, một người bạn của Roman tên Andrew Liske chỉ ra sau khi đọc bản sao của cuốn nhật ký rằng, “Các bài viết này hầu như toàn nói về những thứ cậu ta ăn. Cậu ta chẳng viết gì ngoại trừ thức ăn.”
Andrew không hề cường điệu: Cuốn nhật ký hầu như không có gì ngoài việc liệt kê những loại cây cậu đã ăn vào và trò chơi giết chóc. Tuy nhiên, có thể đó là một sai lầm, khi đưa ra kết luận từ đó rằng McCandless đã không đánh giá đúng mức về vẻ đẹp của thiên nhiên bao quanh cậu, và rằng cậu không hề chịu xê xích bởi sức mạnh của vùng đất này. Như nhà sinh thái học Paul Shepard nhận định,
Những người du cư không yêu mê mẩn phong cảnh, những vùng đất đẹp như tranh, hay là lịch sử của tự nhiên …. Cuộc đời của họ gắn kết sâu sắc với tính cách tự nhiên rằng không có chỗ cho sự trừu tượng hay tính duy mỹ hay một thứ “triết lý tự nhiên” mà có thể tách biệt với phần còn lại của cuộc đời mình …. Thiên nhiên và mối quan hệ của họ với nó là một vấn đề tuyệt đối, được quy định bởi những lệ thường, sự bí ẩn, và tính nguy hiểm. Sự nhàn nhã của cá nhân họ được nhắm vào việc tránh xa khỏi những trò nhàn rỗi vu vơ hay thoát khỏi việc can thiệp vào các quy trình tự nhiên. Nhưng họ xây dựng trong cuộc đời mình sự nhận biết về sự tồn tại đó, về địa vật, về sự thất thường của thiên nhiên, về những hiểm họa khó lường mà họ phải chịu đựng.
Những điều tương tự cũng có thể được dùng để nói về McCandless trong suốt những ngày tháng cậu sống bên dòng sông Sushana.
Sẽ thật dễ dàng để rập khuôn Christopher McCandless như là một chàng trai suy nghĩ quá nhiều, một chàng trai trẻ điên rồ đã đọc quá nhiều sách và thiếu mất một chút thường thức. Nhưng sự rập khuôn này không hề phù hợp. McCandless đâu phải một kẻ phất phơ vô trách nhiệm, phiêu bạt và bối rối, rồi chịu sự tiêu tan thành mây khói bởi một nỗi tuyệt vọng hiện sinh. Trái lại: Cuộc đời cậu được bao bọc bởi ý nghĩa và mục đích. Nhưng ý nghĩa mà cậu đã phần nào bóp méo về việc tồn tại lại không phải ở trên con đường dễ chịu gì: McCandless xem thường giá trị của những thứ có thể dễ dàng có được. Cậu đòi hỏi ở mình quá nhiều — nhiều hơn cả khả năng của cậu.
Cố gắng lý giải hành vi dị biệt của McCandless, một số người đã dựa vào khía cạnh rằng giống như John Waterman, cậu là một người nhỏ con và có thể cũng chịu đựng “nỗi ám ảnh của người thấp bé,” một sự bất an lớn mà đã khiến cậu phải chứng tỏ tính đàn ông của mình qua những thách thức cực đoan về thể xác. Những người khác đưa ra lập trường rằng một sự mâu thuẫn thuộc mặc cảm Ơ-đip không thể giải quyết được chính là gốc rễ đưa đến cuộc hành trình thảm họa của cuộc đời cậu. Dù cho có thể tồn tại một sự thật nào đó trong cả hai giả thuyết trên, sự phân tích tâm lý dựa trên những chi tiết sau cái chết này cũng thật mơ hồ, có tính chất suy đoán đầy rủi ro mà chắc hẳn thiếu ý kiến chuyên nghiệp của một nhà phân tâm học. Không có gì cho thấy rõ rằng có thể giảm thiểu cuộc tìm kiếm kỳ lạ về mặt tinh thần của Chris McCandless thành một danh sách ngắn các triệu chứng rối loạn tâm thần.
Roman và Andrew và tôi nhìn chằm chằm vào đống than hồng và nói chuyện về McCandless cho tới tận khuya. Roman, ba mươi hai tuổi, hay tò mò và trực tính, có bằng tiến sĩ về sinh học tại trường Stanford, không bao giờ tin vào những sự thông thái cổ xưa. Anh cũng sống những năm tháng thời niên thiếu tại cùng khu vực ngoại ô Washington, D.C., như McCandless và nhận ra mỗi một khoanh đất ở đó đều khiến anh ngạt thở. Anh đến Alaska lần đầu tiên vào năm chín tuổi, tới thăm ba người bác đang làm việc trong khu mỏ ở Usibelli, một khu mỏ cách một vài dặm về phía đông Healy, và ngay lập tức mê mệt mọi thứ về phương bắc. Trong suốt những năm sau đó, anh thường xuyên quay trở lại bang thứ bốn mươi chín này. Vào năm 1977, sau khi tốt nghiệp trung học ở tuổi mười sáu với vị trí đầu lớp, anh chuyển tới Fairbanks và biến Alaska thành quê hương thứ hai của mình.
Hiện nay Roman giảng dạy tại trường Đại học Alaska Pacific, ở Anchorage, và tận hưởng danh tiếng khắp bang vì những cuộc phiêu lưu dài vào vùng nông thôn thưa người: Anh đã — cùng với những kẻ can đảm khác — vượt qua toàn bộ dãy núi Brooks dài 1000 dặm bằng đôi chân và mái chèo, trượt tuyết qua 250 dặm đường thuộc Khu bảo tồn Thiên nhiên hoang dã Quốc gia tại Bắc cực trong cái lạnh trời đông dưới không độ C, vượt qua chiều dài 700 dặm của rặng núi Alaska, và tiên phong trong hơn ba mươi chuyến thám hiểu đầu tiên lên những đỉnh núi và vách đá cheo leo ở phía bắc. Và Roman không thấy có sự khác biệt lớn giữa những việc làm đáng ngưỡng mộ của anh với cuộc phiêu lưu của McCandless, ngoại trừ việc McCandless đã không may bỏ mình.
Tôi đưa ra những luận điểm về các sai lầm ngu ngốc và xấc xược mà McCandless đã phạm phải — hai hay ba việc ngớ ngẩn mà hoàn toàn có thể tránh được mà dẫn đến kết cục với cái giá là mạng sống của cậu. “Vâng, thì đúng là cậu ta có xử lý kém thật,” Roman trả lời, “nhưng tôi thấy ngưỡng mộ trước những điều mà cậu ta cố gắng thực hiện. Sống hoàn toàn đơn độc trong vùng hoang dã như vậy, hết tháng này sang tháng khác, là một việc vô cùng khó khăn. Tôi chưa bao giờ làm được như thế. Và tôi cá với anh rằng có rất ít, nếu như là có, những người gọi McCandless kém cỏi lại làm được điều đó giống như cậu ta, mà cùng lắm là cũng trong chỉ một tới hai tuần. Sống trong bụi rậm trong một thời gian kéo dài, tồn tại hoàn toàn chỉ với những gì mà anh săn bắn và hái lượm được — hầu như mọi người đều không hiểu được điều ấy thực sự khó đến nhường nào. Và McCandless gần như đã làm được điều đó.
“Tôi cho là tôi cũng không giúp ích được gì trong việc nhận định về chàng trai này,” Roman tiếp tục khi anh cời than bằng một cành cây. “Và tôi ghét khi phải thừa nhận điều này, nhưng cách đây độ vài năm có lẽ tôi cũng dễ phải ở trong tình trạng khó khăn kiểu đấy. Khi tôi mới đặt chân tới Alaska, tôi nghĩ tôi cũng rất giống với McCandless: cũng trẻ người non dạ, cũng hào hứng như thế. Và tôi chắc rằng còn có rất nhiều người Alaska khác cũng có nhiều điểm chung với McCandless khi họ mới tới đây, bao gồm cả nhưng kẻ phê phán cậu ta nữa. Có lẽ đấy chính là lý do vì sao mà họ lại khắc nghiệt với cậu ấy đến thế. Rất có thể McCandless gợi cho họ nhớ tới quá nhiều điều về bản thân mình.”
Quan điểm của Roman mở ra sự lý giải về việc tại sao những người như chúng ta lại khắt khe đến vậy khi bận tâm một cách vô vị với những lo lắng về tuổi trưởng thành, khi nhớ lại về việc chúng ta từng bị ép buộc như thế nào khi đối mặt trước nhiều lựa chọn cùng với nhiệt huyết và khát khao của tuổi trẻ. Như cha của Everett Ruess nhận xét nhiều năm sau khi cậu con trai hai mươi tuổi của ông mất tích nơi hoang mạc, “Người lớn tuổi hơn không nhận biết được trận chiến về mặt tinh thần mà một vị thành niên phải đối mặt. Tôi nghĩ rằng tất cả chúng tôi đều hiểu sai về Everett.”
Roman, Andrew, và tôi thức qua nửa đêm, cố gắng cảm nhận về cuộc sống và cái chết của McCandless, và bản chất của cậu vẫn khó nắm bắt, mơ hồ, khó hiểu. Dần dần, cuộc nói chuyện chậm lại và ngắt quãng. Khi tôi rời đống lửa để tìm chỗ trải chiếc túi ngủ, dấu hiệu mờ nhạt đầu tiên của buổi bình minh đã xuất hiện nơi rìa trời phương bắc. Dù cho muỗi đêm nay thật nhiều và chiếc xe buýt không nghi ngờ gì cả là một chỗ trú thật ổn, tôi quyết định không vào ngủ trong chiếc xe buýt Fairbanks 142. Và như tôi nhận thấy trước khi chìm vào giấc ngủ không mộng mị, những người kia cũng vậy.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: