Into The Wild (16)

CHƯƠNG 16: LÃNH THỔ ALASKA

 

Rocky Mountain bull elk bugling during the rutting or mating season - its breath hanging in the frosty morning air.

Ước gì tôi có được sự giản đơn, cảm xúc ngây thơ, và đức hạnh của đời sống hoang dã; để gạt bỏ bản thân khỏi những thói quen gây bè kết phái, định kiến và sự bất hảo của đời sống văn minh; … và để kiếm tìm, ở giữa sự đơn độc và hùng vĩ của miền tây hoang dã, những cái nhìn đúng đắn hơn về con người và về những ham muốn loài người. Mùa tuyết rơi được chào đón hơn hẳn, mà tôi hẳn tận hưởng nỗi niềm khoan khoái của sự chịu đựng, và cả sự hiểm nguy đầy kịch tính.

ESTWICK EVANS,
MỘT CHUYẾN ĐI BỘ, BỐN NGHÌN DẶM,
QUA CÁC BANG VÀ LÃNH THỔ PHÍA TÂY,
TRONG SUỐT MÙA ĐÔNG VÀ MÙA XUÂN 1818

 

Miền hoang dã hấp dẫn những kẻ buồn nản hoặc chán ghét trước con người hoặc công việc của mình. Nó không chỉ mang đến cơ hội trốn thoát khỏi xã hội mà còn là một sàn diễn lý tưởng cho những cá nhân lãng mạn để luyện tập tín ngưỡng mà anh ta vẫn thường thực hiện với chính tâm hồn mình. Sự cô đơn và tự do tuyết đối của miền đất hoang dã tạo ra một sự sắp đặt hoàn hảo cho cả nỗi u buồn lẫn niềm hân hoan.

RODERICK NASH,
THIÊN NHIÊN HOANG DÃ VÀ TÂM HỒN NGƯỜI MỸ

Ngày 15/4/1992. Chris McCandless rời Carthage, South Dakota, trong cabin của một chiếc xe tải chở hạt giống hoa hướng dương: Chuyến “du hành vĩ đại tới Alaska” của cậu đang ở phía trước. Ba ngày sau khi vượt biên giới Canada tại Roosville, British Columbia, và xin đi nhờ xe lên phương bắc qua Skookumchuck và Radium Junction, Lake Louise và Jasper, Prince George và Dawson Creek — nơi mà, ở trung tâm thị trấn, cậu có chụp lại tấm biển đánh dấu điểm chính thức bắt đầu của đường Cao tốc Alaska, DẶM “0,” tấm biển đề,  TỚI FAIRBANKS 1,523 DẶM.

Xin đi nhờ xe có vẻ là một việc khó khăn trên đường cao tốc Alaska. Chẳng phải một việc thông thường gì, ở phía bên ngoài Dawson Creek, khi bắt gặp khoảng chừng chục con người nom chừng sầu khổ đứng bên lề đường với ngón cái giơ lên. Một vài người trong số họ có thể phải chờ từ một đến hai tuần để được đi nhờ xe. Nhưng McCandless thì không phải trải qua sự trì hoãn ấy. Vào ngày 21 tháng 4, chỉ sáu ngày sau khi rời Carthage, cậu đã tới suối nước nóng Liard River, nơi ngưỡng cửa của Hạt Yukon.

Ở Liard River có một khu cắm trại công cộng, với đường đi bộ được lát ván kéo dài khoảng nửa dặm qua khu đầm lầy dẫn tới những hồ nước nóng tự nhiên. Đây là điểm dừng chân được biết đến nhiều nhất trên Đường cao tốc Alaska, và McCandless quyết định sẽ nghỉ lại đây, nhúng mình vào làn nước ấm. Tuy vậy, sau khi tắm rửa xong xuôi và cố bắt một chiếc xe để tiếp tục đi về phương bắc, cậu nhận ra vận may của mình đã thay đổi. Không một ai đồng ý cho cậu đi nhờ. Hai ngày sau khi tới nơi, cậu vẫn còn quẩn quanh tại Liard River, mất hết kiên nhẫn mà vẫn không đi được đâu cả.

Vào lúc 6:30 sáng một buổi sáng thứ Năm mát mẻ, mặt đất vẫn còn bị bao phủ bởi một lớp băng cứng, Gaylord Stuckey bước trên tấm ván lót để tới cái bể tắm lớn nhất, hy vọng rằng vẫn còn chỗ cho mình. Ông đã phải ngạc nhiên, khi nhìn thấy một người khác cũng ngâm mình trong làn nước bốc hơi, một anh chàng trẻ tuổi tự giới thiệu tên mình là Alex.

Stuckey — hói đầu và vui tính, là người vùng Hoosier sáu mươi ba tuổi với đôi má bánh đúc – đang trên đường từ Indiana tới Alaska để giao một chiếc xe nhà cho một nhà buôn xe RV của Fairbanks, đây là công việc bán thời gian mà ông đảm nhiệm kể từ khi về hưu sau hơn bốn mươi năm làm việc trong ngành kinh doanh nhà hàng. Khi ông kể với McCandless về điểm đến của mình, chàng trai thốt lên, “Ồ, cháu cũng đi đến chỗ đấy! Nhưng cháu bị kẹt ở đây vài ngày rồi, đang cố bắt xe mà không được. Chú có thể cho cháu đi cùng được không?”

“Ôi chao,” Stuckey trả lời. “Tôi cũng muốn lắm, con trai ạ, nhưng không thể. Công ty mà tôi đang làm việc rất nghiêm khắc về việc cho đi nhờ xe. Chuyện này có thể khiến tôi chết như chơi.” Và trong lúc ông tán gẫu cùng McCandless qua đám khói sặc mùi sulfur, thì, Stuckey bắt đầu suy nghĩ lại: “Alex có khuôn mặt nhẵn nhụi và mái tóc ngắn, và dựa trên thứ ngôn ngữ cậu ấy sử dụng thì tôi biết rằng cậu nhóc là một người thông minh. Cậu ấy không giống như những người bắt xe đi nhờ khác. Những người kia láu cá hơn nhiều. Tôi nghĩ rằng nếu một người không đủ tiền mua vé xe buýt thì hẳn phải có một vấn đề nào đó. Dù vậy, sau khoảng nửa tiếng đồng hồ, tôi nói với cậu ấy, ‘Tôi bảo cháu này, Alex: Liard cách Fairbanks tới hàng nghìn dặm. Tôi sẽ đưa cháu đi khoảng năm trăm dặm, tới Whitehorse; tại đó cháu có thể bắt xe khác để đi tiếp nhé.’”

Tuy nhiên, một ngày rưỡi sau đó, khi họ tới được Whitehorse — là thủ phủ của hạt Yukon và là thị trấn lớn nhất, đông dân cư nhất dọc theo Đường cao tốc Alaska —thì Stuckey lại đâm ra quyến luyến với McCandless nên một lần nữa ông thay đổi quyết định và đồng ý đưa chàng trai đi nốt chặng đường còn lại. “Ban đầu Alex không nói năng gì nhiều,” Stuckey kể lại. “Nhưng trong suốt chuyến đi dài và chậm rì. Chúng tôi ở bên nhau suốt ba ngày trên những con đường lát ván, đến cuối chuyến đi thằng bé dường như đã gỡ bỏ lớp vỏ phòng hộ của mình. Tôi phải nói với anh thế này: Thằng bé đúng là kiểu cậu ấm. Thực sự nhã nhặn, và thằng bé không hề chửi tục hay nói bậy gì cả. Vì thế anh có thể thấy ngay được thằng bé xuất thân từ một gia đình có văn hóa. Hầu hết thời gian Alex kể về em gái mình. Tôi đoán là anh chàng không quan hệ tốt lắm với những người còn lại trong gia đình. Thằng bé kể với tôi rằng bố nó là một thiên tài, một nhà khoa học về tên lửa của NASA, nhưng có lần đã ngoại tình — và điều này ít nhiều khiến Alex khó chịu. Cậu ấy nói với tôi rằng đã không gặp bố mẹ trong vài năm qua, kể từ khi tốt nghiệp đại học.”

McCandless tỏ ra thành thật với Stuckey về dự định dành cả mùa hè sống trong vùng hoang vu một mình của cậu. “Thằng bé nói đó là điều mà nó muốn làm từ khi còn nhỏ,” Stuckey kể. “Nói rằng nó không muốn phải nhìn thấy một người nào, một cái máy bay, hay bất kỳ dấu hiệu nào của nền văn minh hết cả. Thằng bé muốn chứng tỏ với bản thân rằng tự nó có thể tự sinh tồn, mà không cần đến sự trợ giúp của bất kỳ ai khác.”

Stuckey và McCandless tới Fairbanks vào chiều ngày 25 tháng 4. Người đàn ông già hơn thả chàng trai trẻ trước một cửa hàng thực phẩm, nơi cậu mua một túi gạo lớn, “và rồi Alex nói thằng bé muốn tới trường đại học để nghiên cứu về những loại cây có thể ăn được. Quả dại và những thứ tương tự như thế. Tôi bảo với thằng bé, ‘Alex, cháu vội vàng quá. Tuyết vẫn còn đang dày từ hai đến ba feet trên mặt đất. Vẫn chưa có thứ gì có thể mọc lên từ đó cả.’ Nhưng thằng bé đã quyết định rồi. Thằng bé nóng lòng với ý tưởng được ra ngoài kia và bắt đầu kế hoạch của mình.” Stuckey lái xe tới trường Đại học Alaska, nằm ở phía cực tây của Fairbanks, và thả McCandless xuống đó vào lúc 5:30 P.M.

“Trước khi để cậu ta đi,” Stuckey kể lại, “tôi dặn dò, ‘Alex, tôi đã đưa cháu đi một ngàn dặm. Tôi đã nuôi ăn cháu ba ngày liền. Điều nhỏ nhất cháu có thể làm là gửi thư cho tôi ngay khi cháu trở về từ Alaska nhé.’ Và cậu ta hứa sẽ thực hiện điều đó.

“Tôi cũng khuyên nhủ và thuyết phục cậu ấy gọi cho cha mẹ. Tôi không thể tưởng tượng nổi liệu còn gì tệ hơn việc có một cậu trai và không biết được nó đã lang bạt những nơi nào suốt năm này tới năm khác, không biết chắc liệu nó còn sống hay đã chết. ‘Đây là số thẻ tín dụng của tôi,’ tôi bảo thằng bé ấy.‘Hãy gọi cho cha mẹ mình, cháu nhé!’ Nhưng thằng bé chỉ nói ‘Có thể cháu sẽ gọi hoặc không.’ Sau khi thằng bé rời đi rồi, tôi lại nghĩ, ‘Ô, tại sao mình lại không lấy số của bố mẹ thằng bé và tự gọi cho họ nhỉ?’ Nhưng mọi thứ xảy ra quá nhanh.”

Sau khi thả McCandless ở trường đại học, Stuckey lái xe trở lại thị trấn để giao chiếc RV cho đại lý được chỉ định, chỉ để được nghe rằng người phụ trách kiểm tra chiếc xe mới đã về nhà và sẽ không quay trở lại cho tới sáng ngày thứ Hai, khiến Stuckey phải ở lại Fairbanks tới hai ngày trước khi ông có thể bay trở về Indiana. Vào sáng ngày Chủ nhật, với nhiều thời gian trong tay, ông quay trở lại khu trường học. “Tôi hi vọng rằng sẽ tìm thấy Alex và có thể dành cả ngày hôm ấy với thằng bé, đưa nó đi thăm thú đây đó hay gì đấy. Tôi tìm kiếm vài giờ liền, lái xe khắp mọi nơi, nhưng tôi chả tìm thấy bóng dáng thằng bé đâu cả. Alex đã đi mất rồi.”

Sau khi tạm biệt Stuckey vào tối ngày thứ Bảy, McCandless dành hai ngày và ba đêm ở quanh Fairbanks, hầu như là ở trường đại học. Trong hiệu sách của trường, vùi mình vào dãy giá sách cuối cùng về khu vực Alaska, cậu lướt qua các nghiên cứu về những loại cây địa phương, Tanaina Plantlore/Dena’ina K’et’una: Một nghiên cứu về thực vật học dân tộc của người da đỏ Dena’ina thuộc trung nam Alaska bởi tác giả Priscilla Russell Kari. Trên giá bưu thiếp ngay gần quầy tính tiền, cậu chọn ra hai tấm thiệp in hình con gấu trắng bắc cực, với những lời nhắn nhủ cuối cùng của cậu tới Wayne Westerberg và Jan Burres được gửi đi từ bưu điện của trường đại học.

Dựa trên một quảng cáo, McCandless tìm mua được một khẩu súng đã qua sử dụng, đó là một khẩu Remington bán tự động, nòng .22. Đó là một mẫu hàng có tên gọi Nylon 66, giờ đã không còn sản xuất nữa, và là một vật dụng yêu thích của những thợ săn Alaska vì nó nhẹ và đáng tin cậy. Cậu chốt cuộc mua bán tại một bãi đỗ xe, có thể đã thanh toán $125 cho món vũ khí, và rồi mua thêm bốn hộp một trăm viên đạn tròn tại một cửa hàng súng gần ngay đó.

Trong phần cuối cùng của công tác chuẩn bị ở Fairbanks, McCandless xếp đồ vào ba lô và bắt đầu đi bộ về phía tây của trường đại học. Rời khu học viện, cậu đi dọc qua Viện Địa vật lý, là một tòa nhà cao tầng được xây dựng từ chất liệu kính-bê tông với những đĩa vệ tinh khổng lồ. Những cái đĩa ấy, là một trong những vật dễ nhận biết nhất trên nền trời Fairbanks, luôn vươn cao để thu thập dữ liệu từ các vệ tinh và được đồng bộ với bộ rada nhân tạo mà Walt McCandless thiết kế. Trên thực tế Walt đã tới Fairbanks trong suốt thời gian trạm thu phát sóng được lắp đặt và đã viết một số phần mềm cần thiết nhằm phục vụ cho việc điều khiển. Nếu như Viện Địa vật lý có phần nào khiến Chris nghĩ tới cha mình trong lúc cậu đi lướt qua, thì chàng trai của chúng ta cũng không có bất kỳ một ghi nhận nào về điều đó.

Bốn dặm ngoài thị trấn về phía tây, trong một buổi tối buốt giá, McCandless dựng lều trên mặt đất đóng băng một nửa mà bao quanh là những cây bulô, không quá xa so với rìa của một con dốc đứng nhìn ra Gold Hill Gas & Liquor. Năm mươi yard tính từ lều của cậu là một con đường đất cắt ngang Đường cao tốc George Parks, con đường sẽ dẫn cậu tới đường mòn Stampede. Cậu thức dậy sớm vào sáng ngày 28 tháng 4, đi bộ xuống đường cao tốc trong bóng trời nhập nhoạng trước bình minh, vừa ngạc nhiên vừa hài lòng khi chiếc xe đầu tiên xuất hiện đồng ý cho cậu đi nhờ. Đó là một chiếc xe bán tải màu xám của hãng Ford với đề can phía sau có dòng chữ, TÔI CÂU CÁ VÌ THẾ TÔI Ở ĐÂY. PETERSBURG, ALASKA. Người lái xe tải, một thợ điện đang trên đường tới Anchorage, không già hơn McCandless là bao. Anh giới thiệu tên mình là Jim Gallien.

Ba giờ đồng hồ sau đó Gallien rẽ về phía tây khỏi đường cao tốc và đi xa nhất có thể xuống con đường gồ ghề, xấu xí. Khi anh thả McCandless xuống Đường mòn Stampede, nhiệt độ ngoài trời đang rất lạnh — và có thể xuống dưới âm mười độ khi đêm xuống — và một lớp tuyết cứng giòn, dày một foot rưỡi bao phủ toàn mặt đất. Chàng trai khó lòng kiềm chế nổi sự hào hứng của mình. Cậu ta, cuối cùng, cũng có thể một mình đặt chân vào vùng đất hoang vu Alaska rộng lớn.

Khi cậu chật vật đi xuống con đường mòn với chiếc áo khoác giả lông thú, với nòng súng trường lấp ló bên vai, thứ thức ăn duy nhất mà McCandless mang theo là túi gạo nặng mười pound — cùng với hai chiếc bánh mỳ kẹp và một túi bỏng ngô mà Gallien đưa cho cậu. Một năm trước đó cậu đã từng tồn tại hơn một tháng bên ngoài Vịnh California chỉ với năm pound gạo và hàng đống cá bắt được bằng chiếc cần câu rẻ tiền, một trải nghiệm khiến cậu cảm thấy tự tin rằng cậu sẽ kiếm đủ thức ăn để tồn tại và kéo dài chuyến hành trình ở Alaska này.

Thứ vật dụng nặng ký nhất mà McCandless mang trong chiếc ba lô của mình là thư viện nhỏ của cậu: chín đến mười cuốn sách bìa mềm, hầu hết trong số đó là quà của Jan Burres tặng cậu khi còn ở Niland. Trong số những cuốn sách kia, có đề tên những tác giả như Thoreau và Tolstoy và Gogol, nhưng McCandless không phải là kẻ quá đam mê văn chương: Cậu chỉ đơn giản là mang theo những thứ mà cậu nghĩ rằng cậu sẽ thích thú đọc, bao gồm cả những cuốn sách đại trà của tác giả Michael Crichton, Robert Pirsig, và Louis L’Amour. Và vì nghĩ rằng việc mang theo giấy viết quá đỗi lôi thôi, nên cậu bắt đầu viết những dòng nhật ký ngắn gọn lên một vài trang giấy trắng ở mặt sau của cuốn Tanaina Plantlore.

Điểm đến cuối cùng Healy nằm trên đường mòn Stampede thường được ghé qua bởi kha khá những chiếc xe chó kéo, xe trượt tuyết, và cả các cỗ máy đi được trên tuyết khác trong những tháng mùa đông, nhưng chỉ khi mặt sông đóng băng bắt đầu tan giá, vào cuối tháng Ba hay đầu tháng Tư. Vào thời điểm McCandless đi vào rừng cây bụi, nước chảy tràn qua các con suối lớn, và không một ai đi xuống tận vùng xa xôi này của con đường mòn trong suốt hai hoặc ba tuần qua; chỉ một vài vết tích của phương tiện di chuyển trên nền tuyết còn sót lại để cậu lần theo.

McCandless đến được Sông Teklanika vào ngày thứ hai. Dù cho nước có tràn lên hai bên bờ sông và bị đông lại thành những mũi băng lởm chởm, không có cây cầu băng nào bắc qua lòng sông, nên bắt buộc cậu phải lội qua. Vào đầu tháng 4 có một đợt nắng nóng làm tan băng, và thời điểm băng tuyết tan đến sớm hơn trong 1992, nhưng sau đó thời tiết lại trở lạnh, nên nước sông khá thấp khi McCandless vượt qua — có thể chỉ cao đến đùi là cùng — cho phép cậu lội qua bờ bên kia con sông mà không gặp khó khăn gì. Cậu đâu có ngờ rằng, vào thời điểm cậu quyết định lội qua con sông này, số phận của cậu đã được an bài. Trong con mắt thiếu kinh nghiệm của McCandless, không có thứ gì cho thấy rằng hai tháng sau, khi mà dòng sông băng và những vùng đất tuyết trên thượng nguồn con sông Teklanika tan chảy dưới nhiệt độ mùa hè, bởi khi tan chảy lượng nước sông sẽ tăng gấp chín tới mười lần, biến con sông thành một dòng nước lũ sâu và hung dữ không có một chút gì tương đồng với con suối hài hòa mà cậu vô tình lội qua vào tháng 4.

Qua nhật ký của cậu chúng ta biết được rằng vào ngày 29 tháng 4, McCandless đã ngã xuống hố băng ở đâu đó. Có thể điều này xảy ra khi cậu đi ngang qua những cái đầm lúc này đã tan băng của lũ hải ly ngay phía sau bờ sông Teklanika ở phía tây, nhưng không có bằng chứng nào cho thấy cậu chịu ảnh hưởng từ cú bước hụt này. Một ngày sau đó, khi con đường mòn dốc lên rặng núi, cậu lần đầu được chiêm ngưỡng ngọn núi McKinley cao sừng sững, chắc chắn như bức tường thành trắng xóa, và rồi một ngày sau đó, vào ngày 1 tháng 5, trên con đường mòn cách nơi mà Gallien đã thả cậu tầm hai mươi dặm, cậu lạc vào một chiếc xe buýt cũ bên dòng sông Sushana. Được trang bị với một chiếc giường và một chiếc lò nướng tròn, người ghé thăm trước đó đã bỏ lại trên xe những vật dụng cần thiết dành cho chỗ trú ẩn gồm diêm, thuốc chống côn trùng, và những vật dụng cần thiết khác. “Ngày tìm ra chiếc xe buýt kỳ diệu,” cậu đã ghi lại trong nhật ký như vậy. Cậu quyết định ở lại trong chiếc xe một thời gian và chiếm lấy tiện nghi này.

Cậu thấy phấn chấn khi tới được nơi này. Bên trong chiếc xe buýt, trên một tấm gỗ dán đã bạc phếch màu che ngang một khung cửa vỡ kính, McCandless nghuệch ngoạc mấy lời hoan hỉ tuyên bố về tự do:

HAI NĂM RÒNG ANH ĐI VÒNG QUANH TRÁI ĐẤT. KHÔNG ĐIỆN THOẠI, KHÔNG BỂ BƠI, KHÔNG THÚ CƯNG, KHÔNG THUỐC LÁ. TỰ DO TUYỆT ĐỐI. MỘT NGƯỜI CÓ QUAN ĐIỂM CỰC ĐOAN QUÁ KHÍCH. MỘT NHÀ DU HÀNH DUY MỸ NƠI MÁI NHÀ LÀ NHỮNG CON ĐƯỜNG. THOÁT KHỎI ATLANTA. VÀ SẼ KHÔNG QUAY VỀ, BỞI VÌ “MIỀN TÂY LÀ TUYỆT NHẤT”. “ VÀ GIỜ ĐÂY KHI HAI NĂM TRỜI LANG THANG ĐÃ TỚI HỒI KẾT THÚC VÀ CHUYẾN THÁM HIỂM VĨ ĐẠI. ĐỈNH CAO CỦA CUỘC CHIẾN LÀ LOẠI BỎ NHỮNG SAI SÓT BÊN TRONG VÀ KẾT THÚC MỘT CÁCH THẮNG LỢI VỚI CUỘC CÁCH MẠNG VỀ TINH THẦN. MƯỜI NGÀY ĐÊM TRÊN CHIẾC TÀU CHỞ HÀNG VÀ ĐI NHỜ XE ĐÃ MANG ANH TỚI MIỀN ĐẤT BĂNG GIÁ VĨ ĐẠI NƠI PHƯƠNG BẮC. KHÔNG CÒN BỊ ĐẦU ĐỘC BỞI ĐỜI SỐNG ỒN ÀO HIỆN ĐẠI ANH GIỜ ĐÃ CÓ ĐƯỢC TỰ DO, VÀ MỘT MÌNH TIẾN BƯỚC VÀO VÙNG ĐẤT ĐỂ TRỞ THÀNH LẠC LỐI NƠI HOANG DÃ.

ALEXANDER SIÊU LANG THANG
THÁNG 5 1992

Tuy nhiên, thực tế nhanh chóng xâm chiếm cơn mộng mơ của McCandless. Cậu xoay sở chật vật với trò săn bắn, và các trang nhật ký trong tuần đầu tiên cậu sống tại nơi hoang dã bao gồm “Yếu,” “Tuyết rơi,” và “Thảm họa.” Cậu trông thấy nhưng đã không thể bắn hạ một con gấu xám Bắc Mỹ vào ngày 2 tháng 5, cậu bắn trượt mấy con vịt trong ngày 4 tháng 5, và cuối cùng cũng giết và ăn thịt một con gà gô trắng vào ngày 5 tháng 5; nhưng tiếp theo đó cậu không săn được gì cho tới ngày 9 tháng 5, khi cậu bắn được một con sóc nhỏ duy nhất, theo như những gì cậu ghi lại trong nhật ký đó là “ngày thứ 4 chịu đói.”.

Nhưng sau đó vận may đột ngột chuyển hướng và đến với cậu. Vào giữa tháng 5 mặt trời chiếu rọi từ trên thiên đàng cao vời vợi, và đong đầy khu rừng taiga bằng ánh sáng mặt trời. Mặt trời lặn xuống bên dưới đường chân trời phương bắc chưa đến bốn tiếng đồng hồ trong mỗi chu kỳ hai tư giờ, và bầu trời lúc nửa đêm vẫn đủ sáng để có thể đọc sách. Ở bất kỳ nơi nào ngoài mặt dốc hướng về phía bắc và khe núi râm mát, các khối tuyết bắt đầu tan chảy, để lộ ra những quả mọng từ mùa trước, thứ mà McCandless có thể hái và ăn thật nhiều.

Cậu cũng thành công hơn hẳn trong trò chơi săn bắn và trong vòng sáu tuần liền thường xuyên chè chén với thịt sóc, gà gô trắng, vịt, và ngỗng và nhím. Vào ngày 22 của tháng 5, một miếng nạm răng bằng vàng của cậu bị rơi ra, nhưng sự kiện đó dường như không làm cậu cụt hứng cho lắm, bởi vì ngày tiếp theo cậu bò lên mô đất không tên, cao chừng ba nghìn foot nổi lên ngay phía bắc của chiếc xe buýt, giúp cậu có được cái nhìn toàn cảnh của dãy núi Alaska tuyết phủ và hàng dặm nối tiếp dặm của vùng đất hoang vu này. Trang nhật ký mà cậu ghi lại ngày hôm đó có tính chất ngắn gọn nhưng chứa đựng một niềm vui không tài nào nhầm lẫn được: “LEO NÚI!”

McCandless nói với Gallien rằng cậu dự định vẫn tiếp tục di chuyển trong bụi rậm. “Tôi sẽ lên đường và tiếp tục đi về hướng tây,” cậu từng nói. “Có thể tôi sẽ quốc bộ tới tận biển Bering.” Vào ngày 5 tháng 5, sau khi dừng chân bốn ngày nơi bụi rậm, cậu tiếp tục thăm thú thế giới. Từ những bức hình được rửa từ cuộn phim Minolta cậu chụp, có vẻ như McCandless đã lạc khỏi (hoặc cố tình bỏ qua) đường mòn Stampede và hướng về phía tây và phía bắc qua những ngọn đồi nằm trên con sông Sushana, tiêu khiển với thú vui săn bắn mỗi khi cậu lên đường.

Đó là một chuyến đi chậm chạp. Để nuôi sống mình, cậu phải dành phần lớn thời gian trong ngày để rình mồi. Hơn thế nữa, khi mặt đất tan băng, những con đường mà cậu đi qua thành ra đầy thách thức với những vũng lầy lầy lội và những bụi cây tổng quán sủi không thể xuyên qua, và McCandless dần nhận ra một chân lý cơ bản (nếu có khác thường) về phương Bắc: mùa đông, chứ không phải mùa hè, mới là mùa thích hợp để khám phá vùng đất hoang dã này.

Đối mặt với sự điên rồ hiển hiện trong tham vọng ban đầu, nếu cố đi bộ thêm năm trăm dặm nữa để vượt nước triều, cậu cân nhắc lại các kế hoạch của mình. Vào ngày 19 tháng 5, sau khi không đi bộ về phía tây xa hơn con sông Toklat — chưa đến năm mươi dặm qua chiếc xe buýt — cậu quay lại. Một tuần sau đó cậu quay trở lại chiếc xe buýt bỏ hoang, dường như không tiếc nuối gì. Cậu quyết định rằng con sông Sushana quá hung dữ để thực hiện dự định của mình và rằng chiếc xe buýt Fairbanks 142 sẽ là chỗ trú chân thích hợp cho phần còn lại của mùa hè.

Trớ trêu thay, vùng cây rậm bao quanh chiếc xe buýt — vùng đất hoang nơi mà McCandless quyết định “trở nên lạc lối trong vùng hoang dã” — không được xem là thật sự hoang dã theo tiêu chuẩn của Alaska. Chưa đến ba mươi dặm về phía đông là con đường lớn, đường Cao tốc George Parks. Chỉ cách đó mười sáu dặm về phía nam, phía sau một vách đứng của rặng núi Outer Range, hàng trăm khách du lịch vẫn đổ bộ hàng ngày tới Công viên Denali trên một con đường do Ban quản lý Công viên Quốc gia quản lý. Và không được biết đến bởi Nhà du hành Duy mỹ, nằm trong vòng bán kính sáu dặm của chiếc xe buýt là bốn cabin khác (dù cho trong mùa hè 1992 không có hàng hóa nào được chất tại đây).

Nhưng dù cho vị trí rất gần của chiếc xe buýt với nền văn minh, vì tất cả những mục đích cụ thể McCandless đã tách ra khỏi phần còn lại của thế giới. Cậu dành trọn gần bốn tháng trong bụi rậm, và trong suốt thời gian đó cậu không hề chạm trán với bất kỳ một người nào. Cuối cùng con sông Sushana cũng bắt cậu trả giá bằng chính mạng sống của mình.

Vào tuần cuối cùng của tháng 5, sau khi di chuyển một lượng ít ỏi đồ đạc của cậu vào xe buýt, McCandless viết ra một danh sách những những việc lặt vặt cần làm trên bề mặt đánh vani của chiếc ca nô làm bằng vỏ cây bulô: nhặt và giữ đá từ dòng sông để làm đông lạnh thịt, che khung cửa sổ bị vỡ bằng tấm nhựa, tích trữ củi, dọn sạch tro trong lò nướng. Và dưới dòng chữ “DÀI HẠN” cậu vạch ra một danh sách những nhiệm vụ mang đầy tham vọng: lập bản đồ vùng đất, chế tạo một cái bồn tắm, thu thập da và lông để làm thành quần áo, dựng cây cầu bắt ngang con lạch gần đó, dọn dẹp đống đồ đạc hỗn độn, khám phá các đường mòn đi săn.

Những mẩu nhật ký về sau ngày cậu trở lại chiếc xe buýt như một cuốn catalog những loại thịt thú rừng. 28 tháng 5: “Thịt vịt theo kiểu nhà hàng!” Ngày 1 tháng 6: “5 con sóc.” 2 tháng 6: “Nhím, Gà gô trắng xám, Sóc, Chim.” Ngày 3 tháng 6: “Một con nhím nữa! 4 con sóc, 2 con chim.” Ngày 4 tháng 6: “Con nhím thứ ba! Sóc, Chim.” Vào ngày mùng 5 tháng 6, cậu bắn được một con ngỗng trời Canada to bằng con gà tây trong bữa Giáng sinh. Rồi vào ngày 9 tháng 6, cậu tuyên bố chiến công lớn nhất: “NAI SỪNG TẤM!” trong nhật ký. Quá vui mừng, tay thợ săn kiêu hãnh ghi lại bức hình chụp chân dung mình đang quỳ gối bên chiến công, nòng súng trường vươn lên ngạo nghễ, thân người cậu uốn éo trong một nụ cười nhăn nhở đầy sung sướng và kinh ngạc, như thể một kẻ thất nghiệp đi mua sổ xố vào một ngày nọ và bỗng nhiên trúng thưởng một triệu đô.

Cho dù McCandless đủ thực tế để biết rằng săn bắn là một việc không thể tránh khỏi để sống sót ở vùng hoang dã, cậu luôn tỏ ra có những cảm xúc lẫn lộn về việc phải giết những con thú. Sự nước đôi này trở thành sự ăn năn ngay sau khi cậu bắn hạ con nai sừng tấm. Đó là con vật nhỏ, nặng tầm sáu hoặc bảy trăm pound, nhưng lại cung cấp một lượng lớn thịt. Tin rằng sẽ là vô đạo đức nếu bỏ phí bất kỳ phần nào của một con vật bị bắn hạ để làm thức ăn, McCandless đã dành trọn sáu ngày lao động cực nhọc để bảo quản những gì cậu đã giết trước khi bị hỏng. Cậu xẻ thịt cái xác thú ngay bên dưới một đám ruồi bọ đặc kín, luộc đống nội tạng, và rồi cần mẫn đào một cái hang trên bề mặt đá sỏi nơi bờ suối nằm gần chỗ chiếc xe buýt, để cố gắng cứu chữa đống thịt, bằng cách hun khói những tảng thịt màu tím lớn.

Những thợ săn người Alaska đều biết rằng cách đơn giản nhất để lưu giữ thịt là cắt chúng thành những lát mỏng rồi phơi trong không khí trên một bề mặt thoáng khí. Nhưng McCandless, với tất cả sự ngây thơ của mình, đã tin vào lời của một thợ săn mà cậu gặp tại South Dakota, với vài lời khuyên cho cậu rằng cần phải hun khói thịt, và đây chắc chắn không phải là nhiệm vụ dễ dàng trong hoàn cảnh của cậu. “Mổ thịt thật quá khó,” cậu ghi lại trong nhật ký vào ngày 10 tháng 6. “Ruồi muỗi tụ lại thành bầy. Phải bỏ đi ruột, gan, thận, 1 lá phổi, phần thịt sườn. Vứt nửa sau và chân xuống dòng suối.”

Ngày 11 tháng 6: “Bỏ tim và hai lá phổi. Hai chân trước và đầu. Phần còn lại vứt xuống suối. Lôi thịt xuống gần hang. Cố gắng giữ thịt bằng khói.”

Ngày 12 tháng 6: “Bỏ đi nửa phần lườn và sườn. Chỉ có thể làm việc vào ban đêm. Tiếp tục hun khói.”

Ngày 13 tháng 6: “Lấy phần lườn còn lại, thịt vai và cổ từ trong hang ra. Bắt đầu hun khói.”

Ngày 14 tháng 6: “Thịt đã bắt đầu có giòi! Hun khói có vẻ không được hiệu quả. Mình không biết nữa, có vẻ như thất bại rồi. Giờ thì mình chỉ ước là đã không bắn con nai đó. Đúng là một trong những thảm kịch lớn nhất cuộc đời mình.”

Tại điểm này cậu bỏ cuộc trong việc bảo quản khối thịt và bỏ lại cái xác cho lũ sói. Cho dù cậu trách móc bản thân thậm tệ về việc lãng phí một sinh vật mà cậu đã lấy đi mạng sống, một ngày sau đó McCandless có vẻ như đã lấy lại tinh thần, trong nhật ký cậu ghi, “từ nay về sau mình sẽ học cách chấp nhận sai lầm của bản thân, cho dù chúng có nghiêm trọng đến nhường nào.”

Không lâu sau sự kiện con nai sừng tấm McCandless bắt đầu đọc tác phẩm Walden của Thoreau. Trong chương sách có tên“Quy luật tối cao” mà Thoreau chiêm nghiệm về phương diện đạo đức của việc ăn uống, McCandless đã đánh dấu đoạn, “khi mà tôi bắt được và làm sạch và nấu và ăn cá, chúng dường như đã không làm tôi no bụng về mặt cơ bản. Chúng thật sự không quan trọng và không cần thiết, và có cái giá lớn hơn nhiều so với vẻ bề ngoài của nó.”

“CON NAI SỪNG TẤM,” McCandless viết bên rìa trang sách. Và trong cùng một đoạn văn, cậu ghi lại,

Sự phản đối với thức ăn từ động vật không phải là tác động của trải nghiệm, mà là một bản năng. Sẽ tốt đẹp hơn nhiều nếu sống khiêm nhường và kham khổ trong nhiều khía cạnh; và dù cho mình chưa từng thực hiện điều này, mình cũng đã đi đủ xa để thỏa mãn trí tưởng tượng. Mình tin rằng mỗi một con người mà đã từng tha thiết để bảo vệ những khả năng của thân thể và trí óc trong điều kiện tốt nhất đã có phần nghiêng về việc bỏ phiếu chống cho thức ăn từ động vật, và đối với nhiều loại thức ăn ….

Thật khó để cung cấp và nấu nướng một cách đơn giản và sạch sẽ một bữa ăn chay mà không xúc phạm tới trí tưởng tượng; nhưng điều này, theo mình nghĩ, là để được nuôi dưỡng khi ta nạp thức ăn vào cơ thể; hai thứ đó là không thể tách rời. Và có thể điều này là đủ. Các loại hoa quả ăn vào có chừng mực không khiến cho chúng ta cảm thấy xấu hổ về sự thèm ăn, hay gây cản trở việc kiếm tìm sự đáng giá. Nhưng thêm vào một chút ít gia vị trong món ăn, và nó sẽ đầu độc ta.

“ĐÚNG,” McCandless viết và, ở hai trang sau đó, “Ý thức về thức ăn. Ăn và nấu nướng với sự chú tâm…. Thức ăn của Chúa trời.” Ở mặt sau của cuốn sách mà cậu trưng dụng làm nhật ký, có ghi:

 

Tôi như được tái sinh. Đây là buổi bình minh của tôi. Cuộc đời thực chỉ vừa mới bắt đầu.

Lối sống chủ tâm: Dồn toàn bộ sự chú ý vào những điều cơ bản của cuộc sống, và sự chú ý không tác động tới môi trường trung gian và những vấn đề liên quan tới nó, ví dụ – Một công việc, một nhiệm vụ, một cuốn sách; bất kỳ thứ gì đòi hỏi sự tập trung một cách có hiệu quả (Các tình huống không hề mang một giá trị gì cả. Đó là cách thức mà một người liên hệ với một tình huống có giá trị. Tất cả những ý nghĩa thực sự hiện diện trong mối quan hệ cá nhân với một sự nhận thức bằng giác quan, những gì mà nó có ý nghĩa đối với ta).

Sự Thần thánh Diệu kỳ của THỨC ĂN, Luồng Nhiệt thiết yếu.

Chủ nghĩa thực chứng, sự Không thể vượt qua Niềm vui của Cuộc đời có Thẩm mỹ.

Sự thật và Chân thực tuyệt đối.

Thực tế.

Độc lập.

Cuối cùng — Sự kiên định — Trước sau như một.

Khi McCandless dần ngừng quở trách bản thân về việc lãng phí con nai sừng tấm, sự mãn nguyện từ giữa tháng 5 bắt đầu quay trở về và dường như kéo dài sang tới đầu tháng 7. Rồi, ngay giữa cảnh điền viên này, bỗng xảy đến hai trở ngại then chốt đầu tiên.

Dường như hài lòng với những gì cậu học được trong suốt hai tháng trời sống đơn độc nơi hoang dã, McCandless quyết định quay trở về với thế giới văn minh: Đó là thời điểm để đưa “chuyến phiêu lưu cuối cùng và là hoành tráng nhất” tới hồi kết thúc và đưa bản thân cậu trở về với thế giới của những người đàn ông và phụ nữ, nơi mà cậu có thể cụng một vại bia, cùng đàm luận về những vấn đề triết học, làm mê mệt những con người xa lạ với những câu chuyện về các chuyến đi của cậu. Cậu có vẻ như đã vượt xa nhu cầu của bản thân về việc đòi hỏi một cách cứng rắn về sự tự do ý chí, sự cần thiết của cậu về việc chia tách mình khỏi các bậc phụ huynh. Có lẽ cậu đã sẵn sàng để tha thứ cho sự thiếu hoàn thiện nơi con người họ; và có lẽ cậu cũng đã sẵn để tha thứ cho chính bản thân mình. McCandless đã sẵn sàng, rất có thể, để trở về nhà.

Hoặc có thể là không; chúng ta không thể làm gì hơn ngoài việc suy đoán về những dự định của cậu sau khi rời khỏi vùng hoang dã. Tuy nhiên, việc cậu quyết định ra đi là hoàn toàn chắc chắn.

Viết lên trên một miếng vỏ ca nô làm từ gỗ bulô, cậu lập một danh sách những việc cần làm trước khi rời đi: “Vá quần jean, Cạo râu!, Xếp đồ vào ba lô….” Ngay sau đó cậu dựng chiếc máy ảnh Minolta trên một thùng dầu rỗng và tự chụp mình đang khua một chiếc dao cạo râu màu vàng và cười toe toét với ống kính máy ảnh, cạo râu sạch sẽ, với một miếng vá mới từ chiếc áo khoác quân đội được vá vào vết rách trên đầu gối của chiếc quần jean bẩn. Cậu nom khỏe mạnh nhưng hốc hác một cách đáng lo ngại. Hai bên má của cậu hóp lại. Gân cổ cậu nổi lên như những dây cáp kéo căng.

Ngày 2 tháng 7, McCandless đọc xong tác phẩm “Niềm hạnh phúc trong gia đình” của Tolstoy, đánh dấu nhiều đoạn làm cậu xúc động:

 

Ông đã đúng khi nói rằng niềm hạnh phúc chắc chắn nhất trong cuộc đời là sống vì người khác —

Tôi đã sống quá đủ, và giờ tôi cho rằng tôi đã nhận ra điều gì là cần thiết cho hạnh phúc. Một cuộc sống nơi miền quê hẻo lánh, với khả năng trở thành hữu ích cho những người mà rất dễ dàng để làm điều tốt, và không bỏ nhiều công sức để toan tính về việc ta làm điều gì đó cho họ; rồi thực hiện những việc mà một người hy vọng sẽ mang đến một ích lợi nào đó; rồi nghỉ ngơi, thiên nhiên, sách vở, âm nhạc, yêu thương con người — là những suy nghĩ của tôi về hạnh phúc. Và rồi, trên tất cả, có em như một người bạn, và lũ trẻ, rất có thể — liệu trái tim của một con người còn có thể khát khao được điều gì hơn thế?

 

Rồi, vào ngày 3 tháng 7, cậu khoác ba lô trên vai và bắt đầu đi bộ hai mươi dặm trên con đường đã được phát quang. Hai ngày sau đó, khi đã đi được nửa quãng đường, cậu tiến tới một cái đập do lũ hải ly dựng lên làm chắn ngang đường về bờ tây của con sông Teklanika trong cơn mưa lớn. Vào tháng 4 tất cả vẫn còn chìm trong băng giá và không hiện diện bất kỳ khó khăn nào. Giờ đây cậu ắt hẳn phải gặp khó khi gặp một cái hồ có diện tích ba mẫu đã bao phủ cả con đường mòn. Để tránh phải lội qua dòng nước bùn cao tới ngực, cậu bắt đầu bò lên một sườn đồi dốc, vượt qua cái hồ ở phía bắc, và rồi trượt xuống dòng sông ngay miệng một con đèo.

Lần đầu tiên khi cậu vượt qua dòng sông, sáu mươi bảy ngày trước đó trong cái giá lạnh của tháng 4, nó vẫn còn là một con lạch đầy nước giá chỉ ngập đến ngang đầu gối, và cậu dễ dàng lội qua. Tuy nhiên, vào ngày 5 tháng 7, con sông Teklanika đầy nước lũ, dâng cao bởi mưa lớn và băng tan từ những dòng sông băng ở phía trên trên rặng núi Alaska, nước lạnh và chảy xiết.

Nếu cậu có thể tiếp cận bờ sông phía xa, phần còn lại của chuyến đi sẽ trở nên dễ dàng, nhưng để tới được đó cậu phải vượt qua một con kênh rộng chừng trăm foot. Dòng nước, mờ đục cùng với các cặn băng và chỉ ấm hơn vài độ so với đá lạnh, có màu như bê tông ướt. Quá sâu để có thể lội qua, và vang lên tiếng ầm ầm như một đoàn tàu chở hàng. Dòng nước dữ dội sẽ nhanh chóng cuốn trôi cậu đi.

McCandless không có năng khiếu trong môn bơi lội và cậu từng thú nhận với nhiều người rằng cậu thực ra rất sợ nước. Nỗ lực bơi qua dòng nước xiết băng giá hoặc ngay cả lội qua với một khúc gỗ cũng là hành động quá nguy hiểm để cân nhắc. Chỉ ngay dưới hạ lưu nơi con đường mòn gặp khúc sông, con sông Teklanika phình ra ra thành một dòng nước sủi bọt trắng xóa hỗn loạn khi nó lách qua một cái đèo hẹp. Trước cả khi cậu có thể bơi hoặc lội sang bờ bên kia, thì cậu sẽ bị kéo đi bởi dòng nước xiết và sẽ sớm bị nhấn chìm.

Giờ đây trong nhật ký cậu ghi lại, “Đúng là một thảm họa…. Trời mưa không ngừng. Con sông trở nên hung dữ. Cô đơn, sợ hãi.” Cậu kết luận, hoàn toàn chuẩn xác, rằng có thể cậu sẽ bị cuốn trôi và chết đuối nếu cố vượt sông Teklanika tại thời điểm đó, trong những điều kiện như vậy. Như thế sẽ là tự sát; và nó đơn giản không phải là một lựa chọn.

Nếu như McCandless chịu khó đi thêm một dặm hoặc lên phía trên thượng nguồn, thì cậu sẽ phát hiện ra rằng lòng sông sẽ chia ra thành một mê cung các nhánh sông nhỏ. Và nếu như cậu thăm dò cẩn thận, bằng cách thử và loại, thì cậu sẽ tìm thấy có chỗ nước chỉ ngập tới ngang ngực. Áp lực nước cũng mạnh như dòng chảy, nó sẽ khiến cậu không thể đứng vững trong nước, nhưng nếu như cậu cố đạp chân và lặn ngụp khi dòng nước cuốn cậu xuống hạ lưu, thì cậu có thể sẽ sang được bờ bên kia trước khi bị đưa tới cái đèo hoặc buông xuôi vì sự giảm nhiệt cơ thể.

Nhưng cho dù nếu có là như vậy đi chăng nữa thì đây vẫn là một lựa chọn rủi ro, và tại thời điểm đó McCandless không có lý do nào để đón nhận mức độ rủi ro như vậy. Cậu đã giữ mình khá tốt ở nơi này. Cậu có thể hiểu rõ rằng nếu như cậu đủ kiên nhẫn và chờ đợi, thì mực nước trên dòng sông sẽ giảm xuống đủ để cậu có thể an toàn vượt qua. Do đó, sau khi cân nhắc các lựa chọn, cậu chốt hạ với giải pháp an toàn nhất. Cậu quay lại và bắt đầu đi về phía tây, trở lại chỗ chiếc xe, quay trở lại với trái tim kiên định của bụi rậm.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: