Into The Wild (15)

CHƯƠNG 15: ĐỈNH NÚI TUYẾT STIKINE

 

The Devil Thumb source: Flickr

The Devil Thumb
source: Flickr

Nhưng những gì mà ta biết được thật vô cùng nhỏ bé cho tới khi cố sức biết bao nhiêu trước những điều không thể kiểm soát nổi trong mỗi chúng ta, thúc giục ta vượt qua sông băng và nước xiết, và chinh phục những độ cao nguy hiểm, hãy để cho sự phán xét bị ngăn chặn như nó đáng lẽ ra phải thế.

JOHN MUIR,
NHỮNG NGỌN NÚI CỦA CALIFORNIA

Nhưng anh có để ý đường cong nhẹ nơi khóe miệng của Sam II, khi ông ta nhìn anh? Điều này có nghĩa ông ta không muốn anh gọi ông ta là Sam II, một là như vậy, và hai là ông ta có khẩu súng cưa nòng đặt trên đùi bên trái, và trên đùi phải là con dao quắm, và sẵn sàng giết chết anh với một trong số đó, nếu có được cơ hội. Người cha lui về phía sau. Điều mà ông ta thường vẫn nói, trong mỗi lần đối mặt, làTa đã từng thay tã cho mi đấy, thằng nhóc.” Đó không phải là lời nói thích hợp. Đầu tiên, điều đó là không đúng (các bà mẹ mới là người thay chín trong số mười cái tã), và thứ hai là, nó ngay lập tức nhắc nhớ Sam II về lý do mà ông ta lại phát khùng lên. Ông ta nổi nóng vì ngày càng trở nên nhỏ bé trong khi anh to lớn, nhưng không, điều này cũng không phải nốt, ông ta nổi điên vì trở nên vô dụng khi mà anh mạnh mẽ, nhưng không, cả điều này cũng không chính xác, ông ta nổi cơn tam bành bởi vì trở nên phụ thuộc trong khi anh là thiết yếu, mà cũng không hẳn, ông ta điên tiết bởi vì ông ta yêu quý anh, thế mà anh lại chẳng để tâm.

DONALD BARTHELME,
NGƯỜI CHA ĐÃ KHUẤT

Sau khi tôi xuống khỏi rìa ngọn Devils Thumb, tuyết bắt đầu rơi nặng hạt và gió giật mạnh khiến tôi phải ở nguyên trong lều trong suốt ba ngày tiếp theo. Thời gian trôi như rùa bò. Để chóng qua ngày, tôi đốt hết điếu thuốc này tới điếu thuốc khác, và rồi tôi đọc. Khi không còn gì để đọc nữa, tôi chuyển sang nghiên cứu những họa tiết được dệt trên nóc lều. Nội việc này tôi cũng mất đến vài giờ đồng hồ, tôi đặt lưng xuống nền đất, trong khi tham dự vào một cuộc tranh luận đầy sôi nổi với bản thân: Liệu tôi có nên di chuyển tới bờ biển ngay sau khi thời tiết thay đổi, hay tôi nên ở lại để thử sức thêm một lần nữa?

Thực ra hành động phiêu lưu nơi mặt bắc khiến tôi cảm thấy hoang mang, và tôi không muốn lại leo lên ngọn Thumb lần nữa. Nhưng ý tưởng quay lại Boulder trong thất bại cũng chẳng sáng sủa gì: Tôi có thể dễ dàng hình dung được cái sự thỏa mãn ẩn sau những lời chia buồn mà tôi nhận được từ những kẻ chắc chắn về sự thất bại của tôi ngay từ điểm ban đầu.

Vào buổi chiều thứ ba của cơn bão, tôi không thể chịu đựng thêm nữa: hàng cục tuyết băng giá thọc vào lưng tôi, thành lều lạnh và ẩm ướt cứ đập vào mặt tôi, cả cái mùi hôi hám tỏa ra từ sâu bên trong cái túi ngủ của tôi nữa. Tôi bới trong đống lộn xộn dưới chân mình cho tới khi tìm thấy một túi nhỏ màu xanh, nơi bên trong có một miếng kim loại có thể dùng để quấn một điếu xì gà. Tôi dự định để dành nó cho hành trình trở về từ đỉnh núi, nhưng dù sao thì cũng có vấn đề gì đâu – bởi dường như tôi sẽ không lên được đỉnh núi nhanh đến thế. Tôi đổ phần lớn thứ trong cái hộp vào một cái giấy gói thuốc lá, cuộn nó lại thành một điếu thuốc, rồi đốt thuốc lên.

Cần sa dĩ nhiên chỉ khiến cho túp lều trở nên bức bí hơn, ngột ngạt hơn, và khó có thể chịu đựng hơn. Nó còn làm cho tôi đói khủng khiếp. Tôi quyết định một chút cháo yến mạch sẽ khiến mọi chuyện trở nên suôn sẻ. Tuy nhiên, nấu nướng lại là một quá trình dài đằng đẵng và lố bịch: Cần phải gom góp một nồi đầy tuyết ở bên ngoài túp lều, dựng bếp và nhóm lửa, phải chuẩn bị bột yến mạch và đường, phải gột bỏ những thứ còn thừa lại trong bát từ bữa tối hôm qua. Tôi đang chuẩn bị bếp và đun chảy tuyết khi ngửi thấy mùi cháy khét. Tôi kiểm tra lại bếp và không phát hiện thấy có vấn đề gì cả. Hoang mang, tôi thấy mình sẵn sàng trước viễn cảnh tồi tệ nhất với trí tưởng tưởng được gia tăng bởi hóa chất xúc tác lên bộ não khi tôi nghe thấy có thứ gì đó nứt vỡ sau lưng mình.

Tôi quay xung quanh và nhìn vào túi rác – nơi mà tôi vừa vứt vào que diêm châm bếp – đang cháy sáng với lập lòe. Dập lửa bằng bàn tay mình, tôi kiểm soát được ngọn lửa ngay trong vòng vài giây, nhưng không phải là trước khi một mảng lớn thành bên trong của bức lều bám đầy hơi nước rơi xuống trước mặt tôi. Thứ gắn liền vào lều đã ra đi cùng đống lửa, dù nó vẫn có thể chống đỡ lại thời tiết đôi chút, nhưng có lẽ giờ nhiệt độ trong lều đã giảm xuống ba mươi độ.

Lòng bàn tay trái của tôi bắt đầu đau nhức. Tôi kiểm tra bàn tay và phát hiện ra một vết bỏng màu hồng. Dù vậy, điều làm tôi vật vã nhất, là túp lều không phải của tôi: tôi đã đi mượn cái vật trú ẩn đắt tiền này từ cha mình. Nó còn mới toanh trước lúc tôi lên đường — nhãn mác vẫn còn chưa được gỡ ra — và nó được cho mượn một cách vô cùng miễn cưỡng. Tôi ngồi chết lặng một hồi lâu, nhìn chằm chằm vào túp lều từng ở trong tình trạng hoàn hảo giữa cái mùi cay xè của tóc và ni lông cháy. Cha đã đưa nó cho mình, tôi nghĩ: tôi phải cố mà vượt qua được cơn thịnh nộ của ông già.

Cha tôi là một người hay thay đổi, một con người cực kỳ phức tạp, sở hữu một tính cách nóng nảy che đậy bên ngoài sự thiếu cân bằng sâu sắc của tinh thần. Nếu ông từng bao giờ thừa nhận rằng mình đã phạm sai lầm trong cuộc đời, thì vào thời điểm ấy tôi chưa từng có mặt để chứng kiến. Nhưng ông là cha tôi, một nhà leo núi vào những dịp cuối tuần, người đã đưa tôi đến với môn thể thao này. Ông mua cho tôi sợi dây thừng và cái cưa đá đầu tiên khi tôi tròn tám tuổi và đưa tôi đến dãy núi Cascade Range và làm cuộc đột kích trên ngọn núi South Sister, một ngọn núi lửa cao khoảng mười ngàn foot không quá xa ngôi nhà của chúng tôi ở Oregon. Chưa từng bao giờ xảy ra đối với ông rằng tôi một ngày nào đó sẽ cố gắng định hình cuộc đời mình qua việc leo núi.

Là người đàn ông tử tế và tốt bụng, Lewis Krakauer yêu sâu sắc năm đứa con của mình, theo một cách thức chuyên quyền độc đoán, thế giới quan của ông được tô màu bởi sự nghiệt ngã không ngừng nghỉ của thiên nhiên. Cuộc đời, như ông thấy, là một cuộc tranh đấu. Ông đọc đi đọc lại tác phẩm của Stephen Potter — nhà văn người Anh đã phát kiến ra cụm từ one-upmanship (thuật giành và giữ lợi thế đối với người khác) và gamesmanship (tài làm cho đối thủ lãng trí để được cuộc) — không phải là một nghệ thuật trào phúng xã hội mà là một chiến thuật mưu mẹo tự biên. Ông tham vọng ở mức độ tuyệt đối nhất, và cũng như Walt McCandless, khát vọng của ông được áp đặt lên cả con cái ông.

Trước cả khi tôi bước chân vào mẫu giáo, ông đã bắt đầu chuẩn bị để tôi tỏa sáng với sự nghiệp của dược sĩ — hoặc, nếu như thất bại, thì làm luật sư cũng là sự an ủi phần nào. Vào dịp Giáng sinh và những ngày sinh nhật tôi được nhận những món quà như kính hiển vi, bộ dụng cụ thí nghiệm hóa học, và cuốn Bách khoa thư. Ngay từ trường tiểu học tới trung học, các anh chị em và tôi được kỳ vọng sẽ đạt kết quả xuất sắc ở mọi môn học, dành được huân chương ở các hội chợ khoa học, được chọn làm nữ hoàng của đêm dạ hội, được trúng cử vào Hội học sinh. Vì thế và chỉ bởi vì thế, chúng tôi học được rằng, chúng tôi có thể được kỳ vọng để dành được quyền vào học trường đại học phù hợp, mà hóa ra là sẽ đưa chúng tôi tới Trường Dược Harvard: một con đường chắc chắn tới một cuộc đời thành công đầy ý nghĩa và hạnh phúc bất tận.

Niềm tin của cha tôi vào kế hoạch chi tiết này là không gì lay chuyển nổi. Xét cho cùng, nó là con đường mà cha theo đuổi để đến với sự phồn thịnh. Nhưng tôi đâu phải là một bản sao như đúc của cha. Trong suốt những năm thiếu thời, tôi bước vào sự nhận thức này, tôi dần dần tự mình xoay trở từ những điểm nhỏ nhặt, và rồi mạnh mẽ hơn. Sự nổi dậy của tôi gây ra một trận cuồng phong dữ dội. Những ô cửa sổ trong nhà chúng tôi rung lên với cơn sấm sét của những tiếng la hét và tối hậu thư. Vào lúc tôi rời Corvallis, Oregon, để vào một trường đại học xa nhà mà không thuộc hàng danh giá, tôi bắt đầu nói chuyện với cha mình trong tiếng nghiến răng hoặc là không một lời nào cả. Khi tôi tốt nghiệp bốn năm sau đó và không vào nổi trường Harvard hay bất kỳ một trường y nào mà trở thành một thợ mộc và lang thang leo núi, khoảng cách giữa chúng tôi càng trở nên một xa hơn nữa.

Tôi đã được trao cho sự tự do và trách nhiệm khác thường ở cái tuổi còn rất trẻ, mà đáng lý ra tôi nên cảm thấy vô cùng biết ơn, nhưng tôi không hề như vậy. Thay vì thế, tôi cảm thấy bị đè nặng bởi sự kỳ vọng của ông già. Nó tạo ra trong tôi cái luận điểm rằng bất cứ điều gì mà ít ỏi hơn sự chiến thắng thì đều là thất bại. Trong cái cách mà những thằng con trai rất dễ bị ảnh hưởng, tôi đã không cân nhắc tới phép tu từ này; tôi chấp nhận con người ông như những gì ông nói. Và vì thế mà về sau này, khi bí mật được gìn giữ lâu ngày của gia đình được đưa ra ánh sáng, khi tôi nhận ra rằng vị thánh này – người mà chỉ đòi hỏi có sự hoàn hảo, bản thân ông lại không hoàn hảo, rằng thực tế ông không hề hoàn hảo tí nào cả — ôi, tôi cũng không tài nào rũ bỏ nó đi được. Thay vì thế tôi tích tụ trong mình một sự căm giận mù quáng. Sự phát giác ra rằng ông chỉ đơn giản là một con người, và khủng khiếp như vậy, nằm ngoài khả năng tha thứ của tôi.

Hai thập kỷ sau tôi phát hiện ra rằng nỗi niềm chán ghét của tôi biến mất, và đã tan biến từ rất lâu trước đó. Nó được thay thế bởi một sự cảm thông buồn bã và một điều gì đó không phải là không giống với cảm giác yêu thích. Tôi hiểu ra rằng tôi đã từng gây trở ngại và làm điên đầu cha tôi cũng nhiều như những gì ông đã làm với tôi. Tôi thấy rằng tôi đã ích kỷ và ương ngạnh và gây khó chịu đến nhường nào. Ông đã cố gắng xây dựng cây cầu đặc ân cho tôi, một tấm vé trao tay tới cuộc đời tươi đẹp, và tôi trả công ông bằng việc đốt cháy nó và đập phá tan tành.

Nhưng sự giác ngộ này chỉ xảy ra sau sự can thiệp của thời gian và những điều không may mắn, khi sự tồn tại đầy tự hào về bản thân của cha tôi đã sụp đổ bên trong con người ông. Nó bắt đầu với sự phản bội của thân xác ông: Ba mươi năm sau một cuộc vật lộn với căn bệnh nhiễm khuẩn làm viêm tủy sống, một triệu chứng bệnh mà vẫn còn nằm trong vòng bí ẩn. Những cơ bắp bệnh tật dần khô héo, các khớp thần kinh không còn hoạt động, những cái chân thừa thãi từ chối di chuyển. Từ cuốn nhật ký y tế ông truy tìm căn nguyên rằng ông đã phải chịu đựng một chứng bệnh mới mà được biết đến với tên gọi là triệu chứng tiền bại liệt. Đau đớn, khổ sở trong nhiều thời điểm nhất định, lấp đầy những ngày tháng của ông như những tiếng rít nhức óc và những tiếng ồn ào không bao giờ dứt.

Trong một nỗ lực yếu ớt để kết thúc việc suy giảm khả năng của cơ thể, ông bắt đầu tự kê đơn cho mình. Ông không bao giờ đi đâu mà không có cái túi giả da nhỏ chất hàng tá những lọ thuốc viên màu cam. Cứ mỗi một hoặc hai giờ ông sẽ dò dẫm trong cái túi thuốc, liếc nhìn những nhãn chai, và lắc ra mấy viên Dexedrine[1] và Prozac[2] và deprenyl[3]. Ông nuốt mấy viên thuốc đầy vất vả mà không chiêu nước. Những ống tiêm và ống thuốc tiêm rỗng đã qua sử dụng nằm chỏng trơ trong bồn tắm. Càng ngày cuộc đời ông càng điên cuồng xoay quanh một sự tự quản lý kho thuốc với những steroid[4], amphetamine[5], thuốc tăng cảm xúc (mood elevators), và thuốc giảm đau, và các loại thuốc làm quẫn trí óc từng rất ghê gớm của ông.

Khi thái độ của ông ngày càng phi lý hơn, ngày càng ảo tưởng hơn, những người bạn cuối cùng cũng từ bỏ ông. Người mẹ can trường của tôi cuối cùng cũng chẳng còn lựa chọn nào khác ngoài việc bỏ đi. Cha tôi vượt qua ranh giới của sự điên loạn và cuối cùng dường như suýt chạm tới sự thành công của việc kết liễu cuộc đời mình – một hành động mà ông chắc rằng tôi có mặt để tham dự.

Sau nỗ lực tự vẫn không thành, ông được đưa tới một bệnh viện tâm thần gần Portland. Khi tôi tới thăm, tay chân ông bị chằng vào giường. Ông luôn miệng quát mắng những lời lẽ không rõ ràng và tự làm bẩn mình. Đôi mắt ông điên dại. Ánh lên tia thách thức trong một khoảnh khắc, hoảng hốt đầy khó hiểu trong khoảnh khắc tiếp sau, chúng chuyển động theo hai hướng khác nhau trong hốc mắt, thể hiện rõ mồn một sự khủng khiếp của tình trạng tinh thần bị dày vò. Khi những người hộ sỹ cố thay tấm khăn trải giường của ông, ông quẫy đạp khỏi sự giam giữ mình và nguyền rủa họ, nguyền rủa tôi, nguyền rủa số phận. Rằng kế hoạch cuộc đời hết sức rõ ràng của ông đã kết thúc bằng việc đưa ông tới nơi này, nơi bến đỗ ác mộng này, là một sự mỉa mai không mang lại cho tôi bất kỳ sự thỏa mãn nào và cùng lúc giúp tôi trốn thoát khỏi sự chú ý của ông.

Còn có một sự mỉa mai khác mà ông không học được cách chấp nhận: Ông vất vả đóng khuôn tôi theo hình dung của mình cuối cùng cũng đã thành công. Con hải mã già trên thực tế cố gắng làm cho thấm nhuần trong tôi một khát vọng to lớn và bùng cháy; nó đơn giản là đã được thể hiện trong một sự theo đuổi không theo ý định. Ông chẳng bao giờ hiểu được rằng ngọn Devils Thumb cũng giống với trường y, chỉ có khác nhau ở tên gọi mà thôi.

Tôi đoán rằng đó chính là sự thừa hưởng từ ông, khát vọng này đã giữ tôi khỏi việc thừa nhận rằng mình thất bại trước chỏm núi băng Stikine sau nỗ lực lần đầu của tôi khi trèo ngọn Thumb bị thất bại, ngay cả sau khi gần như đốt cháy căn lều. Ba ngày sau khi trở về từ lần thử sức đầu tiên, tôi lại đi lên mặt bắc lần nữa. Lần này tôi chỉ trèo lên 120 feet phía trên khe nứt trước khi mất đi sự bình tĩnh và cơn gió giật kèm theo mưa tuyết ập đến buộc tôi phải quay đầu.

Thay vì đi trở xuống nơi cắm trại trên chỏm băng, tôi quyết định nghỉ đêm bên sườn dốc núi, ngay bên dưới điểm đích của tôi ở trên cao. Và điều này nhanh chóng cho thấy đó là một quyết định sai lầm. Vào chiều muộn trận mưa tuyết chuyển biến thành một cơn bão mạnh. Tuyết trút xuống từ những đám mây với độ dày một inch mỗi giờ. Khi tôi co mình trong trong cái túi ngủ ngay bên dưới gờ khe nứt, bụi nước dồn dập đổ xuống từ bức tường phía trên và quét qua tôi như một cơn lũ, chầm chậm chôn vùi gờ đá nơi tôi ẩn mình.

Mất gần hai mươi phút để đám bụi nước phủ ngập cái túi ngủ của tôi – một cái bọc nylon mỏng mảnh có hình dạng như cái túi đựng bánh mỳ kẹp Baggies, khác chăng chỉ là ở kích cỡ to hơn — cho tới khi chỉ còn chừa lại một khe hở nhỏ để hít thở. Sự việc ấy cứ lặp lại như thế bốn lần, và trong cả bốn lần tôi phải tự bới tuyết mà thoát ra. Sau lần bị chôn vùi thứ năm, tôi thấy rằng như thế là quá đủ. Tôi nhét hết toàn bộ đồ đoàn vào ba lô và quay trở lại lều cắm trại.

Cuốc trèo xuống thật vô cùng đáng sợ. Bởi vì mây, bên dưới mặt đất là cả một trận bão tuyết, và ánh sáng thì mờ mịt trên miền đất phẳng, tôi không thể nhận biết được độ nghiêng của sườn dốc khi nhìn từ trên cao xuống. Tôi lo lắng, bởi rất nhiều lý do, rằng tôi có thể sẽ bước hụt chân khỏi một khe nứt và kết cục dành cho tôi sẽ là đáy sâu của bờ vực Witches Cauldron, chỉ cách nơi tôi đứng có nửa dặm. Khi cuối cùng tôi cũng tới được bề mặt phẳng của chỏm băng, tôi nhận ra những ký hiệu đánh dấu mà mình để lại đã bị xóa sạch từ lâu. Tôi không có một manh mối nào để định vị túp lều trong thung lũng phủ đầy băng tuyết trắng xóa mênh mông này. Tôi cứ hy vọng rằng tôi sẽ may mắn và sẩy chân ngã trúng vào cái lều của mình – cho tới khi tôi đặt một chân vào một khe nứt nhỏ và nhận ra mình đang hành động như một kẻ ngớ ngẩn – rằng lẽ ra tôi nên ngồi xuống ngay lập tức và đợi chờ cho bão tan.

Tôi đào một hố nông, bọc mình trong cái túi ngủ, và ngồi lên cái ba lô của mình giữa cơn lốc xoáy tuyết. Tuyết phủ dầy trên người tôi. Bàn chân tôi lạnh cóng. Một cơn rùng mình chạy dọc sống lưng, khi mà những bông tuyết len lỏi vào chiếc áo bông và thấm ướt áo sơ mi bên trong. Lúc ấy tôi đã nghĩ, ước gì giờ này mình có một điếu thuốc, chỉ cần một điếu thuốc mà thôi, là tôi có thể gom góp lại một chút tính cách mạnh mẽ mà trưng ra cái sắc mặt bất cần trước cái tình thế khốn kiếp này, và trước cả chuyến đi khốn kiếp này nữa. Tôi xiết cái túi ngủ chặt hơn quanh vai mình. Gió gào thét ngay sau lưng tôi. Quá đỗi nhục nhã, tôi vùi đầu vào hai bàn tay và bắt đầu một cơn tự thương hại bản thân đầy điên cuồng.

Tôi biết đôi khi vẫn có người chết vì leo núi. Nhưng ở cái tuổi hai mươi ba, quan niệm về cái chết —ý tưởng về cái chết của bản thân tôi — vẫn là cái gì đó quá xa vời so với khả năng nhận thức của mình. Khi tôi nhổ trại ở Boulder để tới Alaska, đầu óc tôi tràn ngập với hình ảnh về chiến thắng huy hoàng rực rỡ và sự cứu chuộc trên đỉnh ngọn Devils Thumb, chứ nào có đâu rằng cái khả năng tôi phải chịu cùng một mối quan hệ nhân quả mà đã chi phối hành động của những con người khác. Bởi vì tôi đã khát khao được trèo lên ngọn núi, bởi vì tôi đã trăn trở về ngọn Thumb trong quá dài lâu, có vẻ như một trở ngại thứ yếu như thời tiết hay khe nứt hay sương muối phủ đầy mặt đá đều không thể ngăn trở lòng quyết tâm nơi tôi.

Khi hoàng hôn buông xuống gió cũng lặng, và nền trời nâng lên 150 feet khỏi dòng sông băng, cho phép tôi định vị túp lều của mình. Tôi quay trở lại túp lều vẫn còn nguyên vẹn, nhưng không còn có thể phớt lờ lâu hơn nữa sự thật rằng ngọn Thumb đã nghiền nát kế hoạch ban đầu của tôi. Tôi bị buộc phải nhận thức rằng chỉ có ý chí thôi, dù có mạnh mẽ tới đâu, thì cũng không thể nào đưa được tôi tới đỉnh núi theo hướng bắc. Rốt cục, tôi cũng nhận ra, rằng không có bất kỳ điều gì giúp đem lại khả năng ấy.

Tuy nhiên, vẫn còn sót lại một cơ hội cứu vãn cuộc viễn chinh. Một tuần trước đó tôi đã trượt xuống mặt đông nam của ngọn núi để quan sát cung đường mà tôi dự định sẽ trở xuống sau khi chinh phục đỉnh núi từ hướng bắc, một cung đường mà Fred Beckey, nhà leo núi lừng danh, đã thực hiện vào năm 1946 khi lần đầu tiên leo lên ngọn núi Thumb. Trong lần khảo sát ấy, tôi nhận ra rõ rệt một con đường chưa từng được đặt chân tới ở ngay bên trái con đường của Beckey — đó là một mạng lưới chằng chịt những mỏm băng chìa ra từ mặt đông nam — dường như là một phương thức tương đối dễ dàng để lên được tới đỉnh núi. Vào lúc ấy, tôi đã coi con đường này là không đáng bận tâm. Nhưng giờ đây, sau những trải nghiệm về tình cảnh khó khăn nơi mặt bắc, tôi sẵn sàng hạ thấp tầm nhìn.

Vào buổi chiều của ngày 15 tháng 5, khi mà cơn bão tuyết cuối cùng rồi cũng dịu đi, tôi quay trở lại mặt đông nam và leo lên đỉnh của một chỏm núi mỏng manh mà tiếp giáp với đỉnh núi cao hơn như một trụ ốp tường trong một nhà thờ mang kiến trúc Gothic đang bay lơ lửng trên không trung. Tôi quyết định nghỉ đêm tại đó, trên một chỏm núi hẹp, 1600 feet bên dưới điểm đích. Bầu trời đêm lạnh lẽo và không mây. Tôi có thể trông thấy toàn bộ vùng nước triều lên và còn xa hơn thế nữa. Và trong ánh chiều chập choạng tôi dõi theo, lặng người, khi những ánh đèn của thị trấn Petersburg nhấp nháy lên từ phía tây. Ấy là thứ gần gũi nhất mà tôi có được từ mối liên hệ với loài người kể từ khi áp suất khí hạ xuống, những ánh đèn xa xôi làm dấy lên trong tôi cơn lũ xúc cảm và khiến tôi bất lực. Tôi tưởng tượng ra cái cảnh người đời đang chăm chú dõi theo một trận đấu bóng chày được tường thuật trực tiếp trên một kênh truyền hình, ngấu nghiến món gà rán trong căn bếp sáng choang ánh đèn, nốc bia, làm tình. Khi tôi đặt lưng nằm xuống, tôi thấy mình kiệt sức bởi một nỗi cô đơn trào dâng mạnh mẽ. Trong đời mình, tôi chưa từng bao giờ ở trong một trạng thái cô độc đến thế.

Đêm hôm ấy tôi gặp cơn ác mộng, về cảnh sát khám xét chỗ ở và lũ ma cà rồng và một cuộc hành quyết theo kiểu giang hồ. Tôi nghe thấy như có tiếng ai đó thì thầm, “Tôi nghĩ là hắn ở đó ….” Tôi ngồi bật dậy và mở mắt. Mặt trời vừa mới mọc. Cả bầu trời nhuốm màu đỏ tươi. Trời vẫn trong, nhưng một lớp váng mây ti mỏng đã trải khắp bầu khí quyển, và một cơn gió giật bất ngờ kèm theo tuyết rơi phủ đen cả đường chân trời phía tây nam. Tôi xỏ chân vào ủng và nhanh chóng gắn vào đinh móc. Năm phút sau khi thức giấc, tôi trèo khỏi điểm nghỉ chân đêm qua.

Tôi không mang theo dây thừng, không lều bạt hay dụng cụ dựng lều, không có công cụ cứng để giữ cái cưa băng của tôi. Kế hoạch của tôi là ra đi thật nhẹ nhàng và khẩn trương, để lên được đến đỉnh núi và quay trở lại trước khi thời tiết chuyển xấu. Thúc ép bản thân, liên tục hụt hơi, tôi hối hả dịch sang bên trái, qua một bãi tuyết tuyết nhỏ được nối liền với một kẽ nứt có băng bị kẹt lại và những bậc đá cụt. Chuyến trèo lên khá suôn sẻ — mặt núi đá bị bao phủ bởi những chỗ hõm lớn, và đá, dù rất mỏng, cũng không bao giờ dốc hơn 70 độ — nhưng tôi vẫn lo lắng về cơn bão đang dâng lên từ Thái Bình Dương, đen kịt cả bầu trời.

Tôi không có đồng hồ, nhưng có vẻ như trong một khoảng thời gian rất ngắn, tôi đã ở trên vùng băng tuyết cuối cùng. Lúc này toàn bộ bầu trời đã hòa vào một với những đám mây. Có vẻ sẽ dễ hơn nếu tiếp tục hướng lên theo góc trái nhưng việc di chuyển lên đỉnh núi sẽ đơn giản hơn nếu đi theo đường thẳng. Đầy lo lắng vì sẽ bị đánh úp bởi một cơn bão trên đỉnh núi mà không có lấy một nơi trú ẩn, tôi lựa chọn đi theo đường thẳng. Mặt băng dốc dần và mỏng dính. Tôi vung cây rìu bên trái lên và đập phải đá. Tôi nhắm vào một điểm khác, và lại một lần nữa nó lại sượt qua mặt đá diorite với một tiếng keng khô khốc. Và sự việc ấy cứ lặp đi lặp lại. Và tôi cũng lập lại điệp khúc ấy khi bắt đầu chuyển sang mặt bắc. Nhìn vào giữa hai chân mình, tôi thấy trong chớp mắt con sông băng nằm bên dưới hai nghìn feet. Ruột gan tôi quặn lại.

Bốn mươi lăm feet phía trên tôi bức tường đá lùi lại thành một triền núi thoai thoải. Tôi tựa người chắc chắn vào chiếc búa phá băng, không dịch chuyển, vật vã với nỗi sợ hãi và phân vân. Một lần nữa tôi nhìn xuống bên dưới dòng sông băng trải dài bên dưới, và rồi nhìn lên, rồi đập vụn lớp mặt băng phía trên đầu. Tôi đâm chiếc búa bên trái vào một gờ đá mỏng và treo người vào đó. Không có gì xảy ra. Tôi kéo cái rìu bên phải khỏi mặt băng, nâng lên, và vặn đầu búa vào một vết nứt khúc khuỷu cho tới khi nó kẹt lại. Lúc này hầu như nín thở, tôi nâng chân lên, quờ quạng đặt đế giày đóng đinh ngang qua hốc băng. Nâng người lên cao nhất có thể với cánh tay trái, tôi vung chiếc búa thật nhẹ nhàng vào bề mặt mờ đục, sáng bóng, không biết được là mình vừa đụng phải thứ gì. Đầu búa đâm vào với một tiếng keng! Một vài phút sau đó tôi đứng trên một rìa núi rộng. Đỉnh núi hợp cách, những rìa đá mảnh mai đâm lên như một chiếc bánh trứng kỳ cục được làm từ băng, kéo dài lên phía trên thêm khoảng hai mươi feet.

Lớp băng tuyết mỏng manh hứa hẹn hai mươi feet cuối cùng vô cùng khó khăn, đang sợ, và nặng nề. Nhưng rồi bỗng nhiên không còn chỗ nào để lên tiếp nữa. Tôi cảm thấy đôi môi khô cong nứt nẻ của của mình kéo dài ra thành một nụ cười đau đớn. Tôi đã lên tới được đỉnh ngọn núi Devils Thumb.

Thích đáng, đỉnh núi là một nơi chốn kỳ dị, đầy ác tâm, một rìa núi hẹp gồm toàn đá và phủ đầy sương muối không chắc chắn rộng chừng một cái tủ hồ sơ. Và nơi ấy không khuyến khích việc thẩn thơ lưu lại. Khi tôi leo xuống từ điểm cao nhất, mặt nam dốc thẳng đứng ngay dưới giày bên phải của tôi hai nghìn năm trăm feet; bên dưới chân trái tôi là mặt núi phía bắc dốc thẳng đứng với độ cao gấp đôi. Tôi chụp lại vài kiểu ảnh để làm bằng chứng cho việc tôi đã đặt chân được tới nơi này và dành thêm vài phút nữa để uốn thẳng lại đầu cây búa. Và rồi tôi đứng lên, cẩn thận xoay người, và thẳng tiến về nhà.

Một tuần sau đó tôi cắm trại dưới mưa bên bờ biển, kinh ngạc trước cảnh tượng của đám rong rêu, những thân liễu rủ, và lũ muỗi đầy đói khát. Không khí mằn mặn vị muối mang theo cái sự dính dáp của hệ sinh thái thủy triều phong phú. Từ từ một chiếc xuồng máy tiến vào Vịnh Thomas và neo lại trên bờ biển không xa túp lều của tôi là mấy. Người lái xuồng tự giới thiệu mình là Jim Freeman, một người thợ xẻ gỗ đến từ Petersburg. Hôm nay là ngày nghỉ của ông, ông kể; ông ấy đi chuyến này để chỉ cho gia đình thấy con sông băng và để xem lũ gấu. Ông ấy hỏi thăm tôi có phải ‘cũng đi săn’, hay sao?”

“Không,” tôi trả lời đầy ngượng ngùng. “Thực ra, tôi vừa mới leo ngọn Devils Thumb. Tôi đã ở đây được hai mươi ngày rồi.”

Freeman neo xuồng vào bờ và không nói một lời nào. Điều ấy hiển nhiên có nghĩa là ông không tin lời tôi nói. Hay là ông ấy không chấp nhận nổi mái tóc bù xù, dài ngang vai của tôi hay mùi cơ thể đầy khó chịu sau ba tuần không tắm gội cũng nên. Tuy vậy, khi tôi xin đi nhờ về thị trấn, thi ông lại trả lời đầy miễn cưỡng “Tôi không thấy được tại sao lại nói không.”

Nước trở chiều luôn, và chuyến trở về qua Frederick Sound dài chừng hai giờ đồng hồ. Freeman dần cởi mở với tôi hơn khi chúng tôi nói chuyện. Ông vẫn không chịu tin rằng tôi đã leo được lên đến đỉnh ngọn Thumb, nhưng vào thời điểm ông hướng mũi xuồng vào eo nước hẹp Wrangell, ông lại giả vờ thay đổi ý kiến. Sau khi neo xuồng lại, ông cố nài mua tặng tôi một chiếc bánh mỳ kẹp phó mát. Và tối đó ông mời tôi ngủ lại trong chiếc nhà xe của ông phía sau vườn.

Tôi nằm nghỉ trong chiếc xe một lúc nhưng không thể chợp mắt, nên tôi ngồi dậy và đi tới quán bar có tên Kito’s Kave. Thứ cảm giác vui sướng, thứ cảm giác khuây khỏa tràn ngập, mà khởi động cùng việc quay trở về Petersburg lúc ban đầu trong tôi đã tan biến đi đâu mất, thay vào đó là một cảm giác u sầu không mong đợi. Những người mà tôi nói chuyện cùng trong quán Kito’s không nghi ngờ gì về việc tôi đã leo lên ngọn Thumb; bởi họ đơn giản là không quan tâm đến những chuyện như tế. Và khi đêm xuống, nơi chốn ấy trở nên trống rỗng ngoại trừ tôi và một ông già móm mém người Tlingit ngồi ở bàn phía sau. Tôi uống một mình, bỏ đồng xu vào chiếc máy nhạc, cứ chơi đi chơi lại mãi năm bài hát một lượt cho tới khi người phục vụ quầy bar phải quát lên rằng, “Này thằng nhóc! Phải cho cái máy kia nghỉ đi chứ!” Tôi lắp bắp nói lời xin lỗi, hướng về cánh cửa, và lảo đảo bước về phía chiếc nhà xe của Freeman. Ở đó, bao quanh bởi mùi dầu máy, tôi nằm xuống sàn xe bên cạnh hộp số truyền động và dần thiếp đi.

Chưa đầy một tháng sau khi đặt chân lên đỉnh ngọn Thumb, tôi quay trở lại Boulder, bám trụ trong ngôi nhà Spruce Street Townhouses, cũng vẫn khu căn hộ mà tôi đã nương thân khi rời đi Alaska. Tôi được tăng lương, lên bốn dollar một giờ, và vào cuối mùa hè được chuyển từ chiếc xe moóc dành cho người làm công tạm thời sang căn hộ khép kín rẻ tiền nằm ở phía tây của trung tâm thị trấn.

Thật là dễ dàng, khi mà ta còn trẻ, để tin tưởng rằng những gì ta khao khát là những gì mà ta xứng đáng được hưởng, để giả định rằng nếu ta thật lòng ao ước một điều gì đó đủ nhiều, thì đó là quyền mà Chúa ban cho ta để có được nó. Khi tôi quyết định tới Alaska vào tháng Tư đó, cũng giống như Chris McCandless, tôi là một gã trai non nớt đã nhầm lẫn về niềm say mê như một thứ phương pháp cứu rỗi tâm hồn và hành động theo lối mù mờ, phi logic. Tôi đã cho rằng việc trèo lên đỉnh của ngọn núi Devils Thumb kia sẽ giúp tôi giải quyết hết những điều ngang trái trong cuộc đời mình. Rốt cục, đương nhiên, vẫn chẳng có điều gì thay đổi. Nhưng tôi nhận ra rằng những ngọn núi là chỗ chứa rất tồi cho các giấc mơ. Và tôi đã may mắn sống sót để kể lại câu chuyện của đời mình.

Là một chàng trai trẻ, tôi không giống với McCandless ở nhiều điểm quan trọng; đáng chú ý nhất là, tôi không sở hữu trí tuệ hay lý tưởng cao ngạo như cậu. Nhưng tôi tin rằng cả hai chúng tôi đều cùng chịu ảnh hưởng bởi mối quan hệ lệch lạc với cha mình. Tôi nghi ngại rằng chúng tôi đều có cùng cá tính mạnh mẽ, cùng một sự vô tâm, cùng một tâm hồn âu sầu như nhau.

Sự thật là việc tôi sống sót trở về từ chuyến mạo hiểm tới Alaska trong khi điều đó không xảy ra với McCandless chỉ đơn gian là vấn đề cơ hội; nếu như tôi không trở về từ Stikine Ice Cap vào năm 1977, người ta sẽ nhanh chóng nói về tôi — như giờ đây họ nói về cậu— rằng tôi đã mong được chết. Mười tám năm sau sự kiện đó, giờ đây tôi hiểu ra rằng có thể tôi xấc xược, và chắc chắn là cả sự ngây ngô khó đỡ; nhưng tôi không hề muốn tự sát.

Tại giai đoạn đó của tuổi trẻ, đối với tôi cái chết vẫn còn là một khái niệm trừu tượng giống như thứ hình học phản Euclidean (non-euclidean geometry) hay là việc kết hôn vậy. Tôi vẫn còn chưa xem nó như một cái kết tồi tệ hay là sự tàn phá mà nó có thể trút lên những người giao phó sự qua đời cho con tim của họ. Tôi bị khuấy đảo bởi bóng tối đầy bí ẩn của sự chết. Tôi không thể chối từ sự thật rằng mình đã từng tiến tới bên rìa bóng tối và nhìn xuống vực sâu hun hút. Sự gợi mở của những gì ẩn náu trong bóng đêm vĩnh hằng kia làm cho tôi kinh sợ, nhưng tôi như tóm nhặt được điều gì trong chớp mắt, một cái gì đó bị ngăn cấm và điều bí ẩn đầy mãnh liệt mà không kém phần hấp dẫn hơn bông hoa ngọt ngào, kín đáo nơi người phụ nữ.

Trong trường hợp của tôi — và, tôi hoàn toàn tin tưởng, cả trong trường hợp của Chris McCandless nữa — nó hoàn toàn khác biệt với việc mong muốn được chết đi.


[1] Dexedrine: tên thương mại của dextroamphetamine – một chất kích thích thần kinh trung ương (còn gọi là dex). Thuốc này thường được sử dụng để điều trị bệnh ADHD ở thanh niên, hoặc chứng ngủ nhiều, và giảm cân. Đây là loại thuốc dễ gây nghiện và dẫn đến lạm dụng, nhất là với các đối tượng thanh thiếu niên, thường được các sinh viên ở trường đại học sử dụng như một thứ thuốc ‘cứu cánh’ trong các kỳ thi cử vì chúng giúp tăng khả năng tập trung và hoạt động não.

[2] Prozac: một loại thuốc chống suy nhược

[3] Deprenyl là một loại thuốc bảo vệ thần kinh được sử dụng để điều trị bệnh Parkinson.

[4] steroid: một số loại chất hữu cơ được sinh ra tự nhiên trong cơ thể, bao gồm hormone hoặc vitamin nào đó. Các loại thuốc steroid thường được sử dụng với mục đích tăng cân nặng, chuyển biến chất béo trong cơ thể thành cơ bắp, tăng độ dẻo dai khi tập luyện. Tuy nhiên loại thuốc này cũng vô cùng nguy hiểm đối với cơ thể, và được đưa vào danh sách những thuốc cần kiểm soát. Steroid có thể gây ra nhiều vấn đề nghiêm trọng khác cho cả nam giới và nữ giới: Bị bệnh tim mạch như cao huyết áp, đau tim và đột quỵ; Bị bệnh gan hoặc thậm chí ung thư gan; Không kiểm soát được tâm lý, thường giận dữ vô cớ, hoang tưởng và lo âu; Có thể dẫn đến nguy cơ bị trầm cảm và tự tử; Nếu được tiêm steroid và sử dụng chúng thường xuyên cũng làm tăng nguy cơ nhiễm HIV/AIDS, viêm gan B và C.

[5] Amphetamine là chất kích thích. Chất này tăng tốc những tin gửi/nhận từ não đến cơ thể nhưng có xu hướng làm cho người dùng bị mệt mỏi và trầm uất khi thuốc tan dần. Amphetamine còn có các tên gọi khác như Speed, up, fast, pep pills, louie, go. Tinh thể methamphetamine được gọi là ice (đá) hoặc shabu và là loại amphetamine mạnh hơn, có xu hướng dẫn tới nhiều vấn đề trầm trọng hơn. Amphetamine ảnh hưởng đến mỗi người mỗi khác và có thể gây ra nhiều vấn đề với người này hơn người kia, đặc biệt là nếu họ đã từng bị bệnh tâm thần. Những ảnh hưởng thông thường của amphetamine gồm có: Làm cho bạn cảm thấy tự tin, sung sức và tỉnh táo hơn; Ăn bớt ngon miệng; Làm cho bạn thấy bồn chồn, đứng ngồi không yên và dễ nổi quạu; Làm cho bạn trở nên đa nghi; Tăng nhịp thở và mạch đập và dễ bị lên cơn hoảng loạn; Tăng cảm giác nóng giận và dễ có hành vi bạo động.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: