Into The Wild (14)

CHƯƠNG 14: ĐỈNH NÚI TUYẾT STIKINE

 

Petersbug & the Devil Thumb. Source: Flickr

Petersbug & the Devil Thumb. Source: Flickr

Tôi lớn lên với cơ thể dồi dào sức lực nhưng mang một tâm hồn nóng nẩy, khiếm khuyết. Nó luôn luôn khao khát nhiều hơn, về một thứ gì đó hiện hữu. Nó tìm kiếm những thực tế mãnh liệt, luôn luôn như thể không bao giờ có đ ….

Nhưng anh sẽ thấy ngay lập tức những gì tôi làm. Tôi trèo lên.

JOHN MENLOVE EDWARDS,
“BỨC THƯ CỦA MỘT NGƯỜI ĐÀN ÔNG”

 

Tôi không thể nói được chính xác, bởi vì đã quá lâu rồi, ở trong hoàn cảnh nào tôi leo núi lần đầu tiên, tôi chỉ nhớ được rằng mình từng run rẩy lúc ban đầu (tôi có một trí nhớ mơ hồ về việc phải qua đêm một mình),— và rồi tôi bình tĩnh leo lên đỉnh núi đá bị che phủ một nửa bởi những cái cây còi cọc, nơi mà những con quái vật hoang dại thống trị, và tôi lạc giữa mây ngàn, như vượt qua một lằn ranh tưởng tượng chia cắt những ngọn đồi, chỉ là đất trời dồn lại, từ một ngọn núi, thành vùng không gian phía trên mặt đất hùng vĩ và siêu phàm. Điều tách biệt đỉnh núi phía trên đường viền trái đất, là sự chưa được biết tới, khủng khiếp, và vĩ đại. Nó không bao giờ có thể trở nên quen thuộc; anh lạc lối ngay vào lúc anh đặt chân đến đó. Anh biết rõ con đường, nhưng anh lại lạc lối, sợ hãi, trên những tảng đá trần trụi không có đường đi, như thể đó là không khí và mây trời cô đặc lại. Đỉnh núi lởm chởm đá, mù sương, bí ẩn giữa những đám mây, đáng sợ và hùng vĩ hơn nhiều so với một miệng núi lửa đang phun trào nham thạch.

HENRY DAVID THOREAU,
HỒI KÝ

Trong tấm bưu thiếp cuối cùng gửi cho Wayne Westerberg, McCandless viết rằng, “Nếu chuyến đi này thất bại và anh sẽ không bao giờ gặp lại tôi nữa, tôi muốn anh biết rằng anh là một người tuyệt vời. Tôi từ đây sẽ đi vào vùng hoang dã.” Và khi mà chuyến phiêu lưu này thực sự trở thành tai họa, thì lời tuyên bố cường điệu này đưa tới sự suy luận đáng kể rằng chàng trai này đã có xu hướng muốn chết ngay từ thời điểm ban đầu, rằng khi cậu đi vào vùng hoang dã, cậu không còn có ý định quay trở lại. Tuy nhiên, tôi không thật chắc về giả thuyết này.

Nghi điểm của tôi đặt vào cái chết không được dự định trước của McCandless, rằng đó chỉ là một tai nạn khủng khiếp, xuất phát từ việc nghiền ngẫm một lượng ít ỏi những chứng cứ mà cậu để lại và cả từ việc lắng nghe những người đàn ông và những người phụ nữ đã chia sẻ thời gian cùng cậu trong năm cuối cùng của đời cậu. Nhưng tôi cũng có linh cảm về dự định kia của Chris McCandless, điều này xuất phát từ quan điểm cá nhân tôi.

Khi tôi còn trẻ, như tôi đã nhắc đến trước đây, tôi là một kẻ ngang tàng, chỉ biết có mình, thường hấp tấp, và rất thất thường. Tôi làm cha tôi thất vọng theo nghĩa thông thường nhất. Cũng giống như McCandless, hình thái của sức mạnh nam giới làm dâng lên trong tôi một mối cảm xúc hỗn tạp của cơn giận dữ bị kiềm chế và lòng khao khát được thỏa mãn. Nếu có điều gì đó xuất hiện trong trí tưởng tượng vô kỷ luật của tôi, thì tôi sẽ theo đuổi nó với một bầu nhiệt huyết của nỗi ám ảnh, và từ cái tuổi mười bảy cho tới cuối những năm hai mươi thì cái gì đó kia chính là leo núi.

Tôi cống hiến phần lớn thời gian không ngủ của mình vào việc mơ mộng viển vông, và rồi quyết tâm, trèo lên các ngọn núi cao vùng Alaska và Canada — những đỉnh cao mờ khuất, dốc đứng và đáng sợ, mà không một ai ngoại trừ những kẻ đam mê leo núi từng nghe nhắc tới. Và những kẻ mạnh mẽ đã đến được đó. Bằng việc tập trung vào đỉnh núi này sau ngọn núi khác, tôi xoay sở để duy trì sự chịu đựng qua một biển sương mù dày đặc trong lứa tuổi thanh niên. Leo núi chính là một việc hệ trọng. Sự nguy hiểm bao trùm thế giới qua thứ ánh sáng mờ ảo đã dẫn đến mọi điều — đường gờ cong của núi đá, màu vàng cam của địa y, hình thù của những đám mây — để đứng vững với một sự khuây khỏa khác thường. Cuộc đời lên giai điệu ở một cung bậc cao. Thế giới được tạo ra vô cùng chân thực.

Năm 1977, trong quãng thời gian ủ ê bên một quầy bar ở Colorado, bóc tách trải nghiệm không mấy hạnh phúc về sự tồn tại của tôi đã đóng thành những cái vảy bên ngoài vết thương xấu xí, trong đầu tôi nảy ra ý định leo lên một ngọn núi có tên Devils Thumb. Đó là một công trình điêu khắc trên đá điorit do sự xâm lấn của những con sông băng cổ xưa tạo thành một ngọn núi to lớn và hùng vĩ, ngọn Thumb đặc biệt gây ấn tượng mạnh mẽ nơi phương bắc: Đó là bức tường thành vĩ đại nơi phương bắc, chưa từng được chinh phục, mọc lên sừng sững và dốc đứng tận sáu nghìn feet từ trên mặt sông băng nơi chân núi, cao gấp hai lần so với ngọn El Capitan ở Yosemite. Tôi sẽ đi tới Alaska, trượt tuyết qua ba mươi dặm đường buốt giá toàn băng tuyết kể từ bờ biển, và trèo lên đỉnh cao hùng vĩ này. Hơn thế nữa, tôi quyết định thực hiện điều đó một mình.

Tôi khi ấy hai mươi ba tuổi, trẻ hơn một tuổi so với Chris McCandless khi cậu bước chân vào vùng hoang vu Alaska. Lý do của tôi, nếu có thể đặt tên như thế, là bị khích động bởi niềm nhiệt huyết thất thường của tuổi trẻ và cả sự thi vị đẹp đẽ trong những kiệt tác của Nietzsche, Kerouac, và John Menlove Edwards, người sau cùng là một nhà văn và nhà tâm thần học có vấn đề về tâm lý mà, trước khi tự kết liễu đời mình bằng khí xyanua vào năm 1958, đã từng là một trong những nhà leo núi xuất sắc của Anh vào thời đó. Edwards xem việc leo núi như là một “xu hướng loạn thần kinh chức năng”; ông leo núi không nhằm mục đích thể thao mà là để tìm kiếm sự nương náu khỏi nỗi đau khổ trong lòng đã hình thành nên sự tồn tại của ông.

Khi tôi lên kế hoạch leo ngọn Thumb, tôi lờ mờ nhận thức được rằng tôi có thể đã quá hoang tưởng về bản thân. Nhưng điều đó chỉ khiến cho kế hoạch càng trở nên hấp dẫn. Rằng xét về mặt tổng thể thì mục tiêu này chẳng dễ dàng gì.

Tôi có một quyển sách có một tấm hình chụp ngọn Devils Thumb, một bức hình đen trắng do một nhà nghiên cứu lỗi lạc về sông băng tên Maynard Miller chụp lại. Bức ảnh chụp ngọn núi từ trên không của Miller trông như một điềm gở: một cái vây vĩ đại của khối hóa thạch khổng lồ, tăm tối và lốm đốm băng giá. Bức ảnh có giá trị kích thích như tranh khiêu dâm đối với tôi vậy. Sẽ như thế nào, tôi băn khoăn, để giữ thăng bằng trên đỉnh ngọn núi mỏng như lưỡi dao cạo ấy, lo lắng về những đám mây bão đang hình thành ở phía đằng xa, cong người trước gió quật và cái lạnh tê tái, suy tính về khả năng rơi mình xuống mặt bên kia của ngọn núi? Liệu một con người có thể che đậy nỗi hoảng loạn của mình đủ lâu để chạm tới đỉnh núi rồi quay xuống?

Và nếu như tôi thực sự làm được điều đó … Tôi sợ hãi khi để cho bản thân mình tưởng tượng về niềm vui sướng sau đó, vì sợ rằng tôi sẽ mời tới vận rủi. Nhưng tôi không bao giờ có nghi ngờ nào về việc trèo lên đỉnh ngọn Devils Thumb sẽ làm biến đổi cuộc đời tôi. Làm thế nào mà nó lại không thể cơ chứ?

Tôi làm công việc của một người thợ mộc tự do, thuộc chế độ quản lý của Boulder với tiền công $3.50 mỗi giờ. Vào một buổi chiều, sau chín giờ đóng những chiếc đinh vào những tấm gỗ có kích cỡ hai-mười chất thành đống, tôi nói với ông chủ rằng tôi nghỉ việc: “Không, trong vài tuần nữa mới được, Steve; ngay lúc này tôi không suy nghĩ được gì đâu.” Tôi mất thêm vài giờ để thu dọn dụng cụ và các vật dụng khác khỏi cái xưởng làm việc nhếch nhác mà cũng là nơi trú ngụ của tôi. Và rồi tôi trèo lên xe ô tô của mình và rời đi Alaska. Tôi đã ngạc nhiên, như vẫn luôn vậy, bởi việc ra đi quả dễ dàng đến nhường nào, và nó mang tới cảm giác dễ chịu ra sao. Thế giới bỗng dưng trở nên giàu có với các khả năng.

Devils Thumb nằm trên đường ranh giới giữa vùng đất Alaska với British-Columbia ở phía đông của Petersburg, một làng chài mà chỉ có thể tiếp cận bằng tàu thủy hoặc máy bay. Thường có các chuyến bay dịch vụ bằng trực thăng tới Petersburg, nhưng tổng số tài sản mà tôi có thể quy đổi khi bán đi con xe Pontiac Star Chief đời 1960 cộng với hai trăm dollar tiền mặt, cũng không đủ để mua vé một chiều. Nên tôi lái xe tới tận Vịnh Gig ở Washington, bỏ chiếc xe lại, và gạ gẫm được một chuyến đi trên chiếc tàu đánh cá hồi bằng lưới kéo đang trên đường về phương bắc.

Ocean Queen là một con tàu lao động chắc khỏe được tạo ra từ thân gỗ dày màu vàng của cây tuyết tùng Alaska, được trang bị dây thừng dài và lưới kéo. Để đổi lại cho chuyến đi về phương bắc, tôi thỉnh thoảng chỉ cần bẻ bánh lái — một ca làm việc trong buồng lái kéo dài bốn giờ trong mỗi mười hai giờ — và giúp gỡ vô số các con cá nhỏ ra khỏi lưới. Chuyến đi dài lê thê lên Inside Passage mở ra một khúc mơ màng êm ái. Tôi đang ở trên con đường, bị thúc đẩy bởi một thứ mệnh lệnh mà vượt xa khả năng kiểm soát hay nhận thức của tôi.

Ánh nắng phản chiếu trên mặt nước khi thuyền chúng tôi nổ máy ở eo biển Georgia. Các vách đá dốc ngược lên khỏi mặt nước, góc cạnh trong một vùng tối tăm của những cây độc cần và tuyết tùng và cây bụi nhỏ. Lũ hải âu lượn vòng vòng trên đỉnh đầu. Bên ngoài đảo Malcolm con tàu băng ngang qua một nhóm bảy con cá kình. Chiếc vây nơi sống lưng của chúng, có những cái cao như một người bình thường, có thể cắt nứt mặt kính dày từ một khoảng cách nơi tay vịn của boong tàu.

Vào đêm thứ hai của chúng tôi trong cuộc hành trình, hai giờ trước khi mặt trời mọc, tôi lái con thuyền tránh khỏi một cây cầu phao khi cái đầu của một con tuần lộc hiện ra trong ánh sáng chói lóa của đèn pha. Con thú đứng ở ngay giữa Fitz Hugh Sound[1], đang lội qua mặt nước đen lạnh cóng dài hơn một dặm từ bờ biển Canada. Đôi mắt nó có màu đỏ quạch trong ánh sáng nhập nhòa; nó dường như kiệt sức và cuồng lên vì kinh sợ. Tôi bẻ lái sang mạng phải, con tàu vượt qua, và con thú kia nhấp nhô trên mặt nước những hai lần vì sức ép của thân tàu trước khi biến mất vào bóng tối.

Hầu hết khu vực Inside Passage đều đi theo các con kênh hẹp, các vịnh nhỏ hẹp. Dù vậy, khi chúng tôi vượt qua đảo Dundas Island, khung cảnh bỗng nhiên mở rộng ra. Phía tây lúc này là biển rộng, nhìn ra toàn bộ Thái Bình Dương, và con tàu trồi lên rồi sụt xuống giữa những con sóng cao tới mười hai foot. Con sóng vỡ tan ra bên dưới thành tàu. Ở đằng xa mạn thuyền, những đỉnh núi nhấp nhô, hiểm trở thấp thoáng hiện ra, và tim tôi đập rộn ràng trước khung cảnh ấy. Những ngọn núi này là điềm báo cho ước nguyện của tôi sẽ thành sự thực. Chúng tôi đã tới Alaska.

Năm ngày sau khi rời khỏi vịnh Gig, con tàu Ocean Queen neo lại Petersburg để tiếp thêm xăng và nước. Tôi nhảy qua mạn thuyền, khoác chiếc ba lô nặng trịch lên vai, và đi xuống dưới cầu tàu trong làn mưa bụi. Bối rối không biết phải làm gì tiếp theo, tôi ngồi trên đống hành lý của mình, trú mưa dưới mái hiên của tòa nhà thư viện thị trấn.

Petersburg là một thị trấn nhỏ, và mang cái vẻ nghiêm trang theo tiêu chuẩn Alaska. Một người phụ nữ cao lớn với bước đi uyển chuyển đi qua và bắt chuyện cùng tôi. Tên của chị là Kai, chị giới thiệu, Kai Sandburn. Chị rất vui vẻ, dễ gần, và hay chuyện. Tôi bày tỏ về kế hoạch leo núi của mình với chị, và trước sự ngạc nhiên của tôi chị không hề cười nhạo hay hành động như thể đó là một quyết định lạ lùng. “Vào những ngày bầu trời trong vắt,” chị nói đơn giản, “cậu có thể thấy ngọn Thumb từ thị trấn. Ngọn núi đẹp lắm, ngay bên kia eo biển Frederick thôi.” Tôi nhìn theo hướng ngón tay chị chỉ, về phía đông, về phía một bức tường thấp bằng mây trời.

Kai mời tôi về nhà chị dùng bữa tối. Rồi sau đó tôi trải chiếc túi ngủ của mình ra sàn nhà của chị. Rất lâu sau khi chị đã chìm vào giấc ngủ, tôi nằm đó trong căn phòng kế bên, lắng nghe nhịp thở bình yên của chị. Tôi đã tự thuyết phục bản thân mình trong nhiều tháng trời rằng tôi thật sự không bận tâm tới sự thiếu vắng của sự thân tình trong cuộc đời tôi, sự thiếu thốn của mối liên kết giữa những con người với con người, nhưng sự dễ chịu mà tôi cảm thấy từ lòng hiếu khách ở người phụ nữ này — cái điệu giòn tan trong giọng cười, sự đụng chạm vô tư của một bàn tay lên cánh tay tôi — phơi bày sự tự lừa dối trong tôi và khiến tôi thấy trống rỗng và đau đớn.

Petersburg nằm trên một hòn đảo; ngọn Devils Thumb nằm trên đất liền, nổi lên từ một ngọn núi trọc có tên Stikine Ice Cap. Bao la và phức tạp như một mê cung, chỏm băng trên đỉnh núi bao bọc lấy những cạnh sắc của rặng núi Đường Biên (Boundary Ranges) như một cái áo giáp, từ nơi mà những cái lưỡi dài màu xanh của đông đảo những dòng sông băng lầm lũi tiến về biển cả dưới sức nặng của thời gian. Để tới được chân ngọn núi, tôi phải tìm cách vượt qua hai mươi nhăm dặm nước biển và rồi trượt băng thêm ba mươi dặm đường đất liền tới một trong những dòng sông băng này, dòng sông Baird, một thung lũng băng chưa từng xuất hiện dấu chân người, tôi khá chắc về điều này, trong rất nhiều, nhiều năm qua.

Tôi cùng chung đường với một vài người thợ trồng cây tới đầu Vịnh Thomas, nơi tôi được thả xuống bên bờ biển đầy đá sỏi. Từ khoảng cách một dặm có thể nhìn thấy thấy rõ ga cuối rộng lớn, với những khối sa khoáng vỡ ra từ dòng sông băng nằm ngổn ngang trên mặt đất. Nửa giờ sau đó tôi trèo lên cái mỏm đóng băng của nó và bắt đầu cuộc trèo trường kỳ lên ngọn Thumb. Băng chỉ đơn giản là lớp tuyết phủ lên mặt đá mạt khô màu đen và vỡ giòn dưới những đinh thép của đôi giày leo núi của tôi.

Sau ba hay bốn dặm tôi bước vào một con đường phủ tuyết và đổi giày leo núi sang giày trượt tuyết. Gắn ván trượt vào chân và vác theo đống đồ đoàn nặng mười lăm pound trên lưng và việc đi lại được cải thiện ít nhiều về mặt tốc độ. Nhưng lớp tuyết giấu diếm rất nhiều các kẽ nứt của sông băng, làm tăng thêm mức độ nguy hiểm.

Ở Seattle, do lường trước đến khó khăn này, tôi đã dừng lại ở một cửa hàng bán dụng cụ và mua một đôi cần câu chắc chắn bằng alumin, mỗi cái dài mười feet. Tôi buộc hai chiếc cần lại với nhau theo hình chữ thập, rồi buộc thứ dụng cụ này vào chiếc ba lô để cho cái cần câu làm gia tăng phạm vi tiếp xúc với tuyết. Chầm chậm và lảo đảo bước đi trên dòng sông băng dưới sức nặng quá tải của hành lý, đánh vật với cây thánh giá bằng kim loại lố bịch này, tôi cảm thấy mình như một cái mề đay kỳ quặc. Giả như tôi có làm vỡ lớp tuyết phía trên một khe băng đang ẩn nấp đâu đó, thì thiết bị làm bằng những cái cần câu kia — mà tôi vô cùng hy vọng — sẽ bắc ngang qua khe nứt và giữ cho tôi khỏi rơi xuống vực sâu vô tận của con sông băng Baird.

Trong suốt hai ngày tôi đi bộ vất vả mà cẩn trọng lên thung lũng băng. Tiết trời tốt, con đường hiện ra rõ ràng và không gặp phải trở ngại gì lớn. Dù vậy, bởi vì tôi đơn độc nên ngay cả cõi trần dường như cũng ẩn chứa ý nghĩa linh thiêng nào đó. Đá băng dường như lạnh hơn và huyền bí hơn, và bầu trời có màu sắc xanh trong hơn. Những đỉnh núi không tên mọc vút lên trên dòng sông băng trở nên to lớn hơn, duyên dáng hơn và đương nhiên là đáng sợ hơn so với khi tôi có bạn đồng hành. Và cảm xúc trong tôi cũng dường như khuếch đại: Những cơn phấn khích trở nên mạnh mẽ hơn; những thời điểm tuyệt vọng cũng sâu thẳm và tăm tối hơn. Đối với một chàng thanh niên trẻ điềm tĩnh có niềm say mê với những biến cố mở ra trong đời mình, thì tất cả những điều này có tính hấp dẫn to lớn.

Ba ngày sau khi rời khỏi Petersburg, tôi tiến tới bên dưới đỉnh núi tuyết Stikine, nơi sải tay dài của con sông băng Baird nhập vào làm một với thể băng lớn. Ở đây dòng sông băng đổ tràn bất ngờ lên rìa của một cao nguyên trên cao, đổ về phía biển qua một khoảng trống giữa hai ngọn núi như một thứ ảo ảnh trên những tảng băng vỡ vụn. Khi tôi nhìn vào nơi tiếng ầm ào phát ra cách đó một dặm, lần đầu tiên kể từ khi rời khỏi Colorado, tôi thực lòng sợ hãi.

Dòng thác băng đan chéo với các kẽ nứt và các khối băng lung lay. Từ xa nó gợi ra trong trí óc về một tai nạn tàu xe tồi tệ, như thể một toa chở hàng vừa bị lật tung nơi miệng chỏm băng và lộn nhào xuống bờ vực dốc đứng. Càng đến gần, thì khung cảnh càng đáng sợ hơn. Cái công cụ cần câu dài mười feet của tôi có vẻ như chả được tích sự gì trong việc chống lại các kẽ nứt có độ rộng lên tới bốn mươi feet và sâu hàng trăm feet. Trước khi tôi có thể tính toán cách để vượt qua thác băng, gió nổi lên, và tuyết bắt đầu đổ xuống từ những đám mây, châm vào mặt tôi và làm giảm tầm nhìn xuống mức hầu như chẳng thấy được gì.

Cho phần tốt đẹp hơn trong ngày, tôi mò mẫm như gã mù qua mê cung trong một màn trắng xóa, lần lại từng dấu chân của chính mình, hết ngõ cụt này tới ngõ cụt kia. Không biết bao nhiêu lần tôi đã nghĩ rằng tôi tìm được đường ra, chỉ để hoảng sợ trong một ngõ cụt xanh thẳm hoặc bị mắc kẹt trên đỉnh một cột băng trơ trọi. Nỗ lực của tôi được vay mượn từ một cảm giác gấp rút bởi tiếng động phát ra từ bên dưới chân tôi. Một bản hòa ca của những tiếng nứt vỡ giòn tan — thứ tiếng động khi một cành cây vân sam lớn bị uốn gãy — có tác dụng như một lời nhắc nhở rằng đó là điều tự nhiên khi các dòng sông băng chuyển động, là thói quen thường tình của những cột băng nằm giữa các kẽ nứt của con sông băng khi lung lay.

Tôi đặt một chân trên cây cầu tuyết bắc qua một khe hẹp rất sâu mà tôi không thể nhìn thấy đáy. Ngay một lúc sau đó tôi rơi xuống từ một cây cầu khác và dừng lại khi rơi tới ngang ngực; cũng may là những cái gậy kia đã giữ cho tôi không rơi xuống khe nứt sâu hàng trăm feet, nhưng sau khi tôi tự giải cứu mình, tôi cúi gập người và thở dốc, nghĩ về việc sẽ như thế nào nếu nằm trên một cái gậy ở dưới đáy của khe nứt, đợi chờ cái chết từ từ tiến đến, mà không một ai biết được tôi chạm tới đích cuộc đời ra sao.

Đêm đã gần buông xuống vào lúc tôi leo tới đỉnh một khối băng dốc và mở ra một dải đất rộng rãi trống trải, hút gió của một cao nguyên băng đá. Hoảng loạn và lạnh thấu xương, tôi trượt đủ xa để vượt qua thác băng và để tiếng động của nó vượt khỏi tầm tai nghe, dựng lều, cuộn mình trong túi ngủ, và run cầm cập trước khi chìm vào giấc ngủ.

Tôi dự định sẽ dành ra khoảng ba tuần đến một tháng cho Stikine Ice Cap. Không thích thú gì cái viễn cảnh phải đeo nào là thức ăn cho bốn tuần, các thiết bị cắm trại nặng trĩu vào mùa đông, và thiết bị leo núi trên suốt cả con đường vượt Baird trên lưng, tôi đã trả cho một phi công lái trực thăng ở Petersburg $150 — số tiền mặt cuối cùng mà tôi còn lại — để có được sáu thùng đồ các tông tiếp tế thả xuống từ trên máy bay khi tôi tới được chân ngọn Thumb. Trên tấm bản đồ tôi chỉ cho viên phi công biết vị trí chính xác mà tôi dự tính và bảo với ông ta rằng tôi cần ba ngày để tới đó; ông ta hứa sẽ bay đến và thả đồ xuống ngay khi điều kiện thời tiết cho phép.

Vào ngày 6 tháng 5, tôi dựng trại trên chỏm băng ngay phía đông bắc của ngọn Thumb và đợi máy bay xuất hiện. Trong bốn ngày tiếp theo trời đổ tuyết, loại bỏ bất cứ một cơ hội nào cho chuyến bay được thực hiện. Quá sợ hãi những khe nứt để có thể đi xa khỏi khu trại, tôi dành phần lớn thời gian để nằm nghiêng trong lều — trần lều quá thấp nên tôi không ngồi dậy được — chiến đấu lại sự hồ nghi ngày một gia tăng.

Khi vài ngày qua đi, tôi bắt đầu lo lắng. Tôi không có radio hay bất kỳ một phương tiện liên lạc nào với thế giới bên ngoài. Đã nhiều năm rồi kể từ khi có người ghé qua phần này của Stikine Ice Cap, và sẽ còn nhiều năm nữa trôi qua trước khi có một ai khác thực hiện lại điều này. Tôi gần như đã dùng hết dầu và chỉ còn lại duy nhất một khoanh phô mai, một gói mì Ramen cuối cùng, một nửa hộp Cocoa Puffs. Những thứ này, tôi dự tính, có thể giúp tôi duy trì trong ba hay bốn ngày nếu cần thiết, nhưng sau đó liệu tôi sẽ ra sao? Chỉ mất có hai ngày để trượt tuyết và quay lại Baird tới Vịnh Thomas, nhưng ít nhất phải mất đến một tuần trước khi gặp một ngư dân mà có thể chở tôi về Petersburg (ba người thợ trồng cây mà tôi đi cùng ban đầu cắm trại cách đó mười lăm dặm và chỉ có thể tới được chỗ họ bằng thuyền hoặc máy bay).

Khi tôi đi ngủ vào tối ngày 10 tháng 5, tuyết vẫn đang rơi và gió thổi rất mạnh. Nhiều giờ sau đó tôi nghe thấy một tiếng rên rỉ yếu ớt, chỉ trong chốc lát, còn chẳng to hơn tiếng muỗi kêu. Tôi mở cửa lều ra. Phần lớn mây đã tan, nhưng chẳng có một chiếc máy bay nào đi qua.

Tiếng kêu lại vang lên, lần này chắc chắn hơn. Rồi tôi nhìn thấy nó: một đốm đỏ và trắng nhỏ xíu giữa bầu trời phía tây, đang tiến về phía tôi.

Vài phút sau máy bay vút qua ngay trên đầu. Tuy nhiên, viên phi công không quen với việc bay trên sông băng, và ông ta đã tính sai tỉ lệ của vùng đất. Lo lắng trước việc bay ở độ cao quá thấp và có thể sẽ bị mắc kẹt vào những cơn lốc xoáy không dự báo trước, ông ta ở cách tôi một nghìn feet theo chiều thẳng đứng — tin rằng ông ta sẽ không giảm độ cao — và không bao giờ có thể nhìn thấy túp lều của tôi trong ánh sáng mờ ảo lúc tối trời. Sự kêu gào và vẫy gọi của tôi cũng chẳng thể lọt vào tầm mắt ông ta, ở độ cao đó, tôi chỉ là một hòn đá. Trong suốt một giờ ông ta bay vòng quanh đỉnh núi tuyết, quan sát quanh vùng đất cằn cỗi mà chẳng thu được kết quả gì. Nhưng viên phi công, bằng sự tín nhiệm của mình, đánh giá cao tính nghiêm trọng của tình trạng khó khăn của tôi và kiên quyết không từ bỏ. Điên cuồng, tôi buộc túi ngủ của mình vào điểm cuối của một đầu que dựng cửa lều và vẫy nó vì tất cả những gì còn lại của đời tôi. Viên phi công phát hiện ra và chiếc máy bay hạ độ cao ngay trên đầu tôi.

Viên phi công bay vòng quanh túp lều của tôi ba lần và mỗi lần đều thả thành công xuống hai thùng hàng; rồi chiếc máy bay biến mất nơi rặng núi, và tôi chỉ còn lại một mình. Khi sự yên lặng đã bao trùm cả dòng sông băng, tôi cảm thấy như bị bỏ rơi, tổn thương, và mất mát. Tôi nhận ra rằng mình bật khóc. Ê chề, tôi kiềm chế cơn khóc òa bằng cách gào lên những lời lẽ tục tĩu cho tới khi khàn cả giọng.

Tôi thức dậy sớm vào sáng ngày 11 tháng 5 và thấy trời trong và nhiệt độ ấm áp vào khoảng 20oF. Bất ngờ trước thời tiết tốt, tinh thần của tôi chưa được chuẩn bị để bắt đầu cuộc leo núi thực sự, tuy nhiên tôi vội vàng thu dọn đồ đạc và bắt đầu trượt xuống chân ngọn Thumb. Hai chuyến thám hiểm vào Alaska trước đó đã dạy tôi biết rằng tôi không được lãng phí một thời khắc nào khi thời tiết đẹp.

Một dòng sông băng nhỏ nhô ra khỏi bờ miệng chỏm băng, dẫn lên và qua mặt bắc của ngọn Thumb như một lối đi hẹp. Kế hoạch của tôi là đi theo con đường này tới phần mũi đá nhô lên ở trung tâm của bức tường và từ đó thực hiện ‘cuộc chạy về đích’ quanh con đường cong tuyết lở, xấu xí từ nửa dưới lên tới đỉnh núi.

Lối đi hẹp hóa ra một loạt khoảnh đá đóng băng nhỏ dốc năm mươi độ cùng với lớp tuyết bông dày đến đầu gối và thủng lỗ chỗ với những kẽ nứt. Độ dày của lớp tuyết khiến cho việc di chuyển thành ra chậm chạp và mệt nhọc; vào lúc tôi đứng yên không nhúc nhích trước phần tường nhô ra của phần cao nhất của khe nứt trên sông băng, vào khoảng ba hay bốn giờ gì đó kể từ khi rời khỏi vị trí cắm trại, tôi hoàn toàn bỏ cuộc. Và tôi còn chưa thực sự tham gia vào quá trình leo núi nữa. Nó sẽ được bắt đầu ngay phía trên, nơi dòng sông băng nhô ra tạo thành đường đi với những phiến đá nằm ngang.

Tảng đá, rất khó để đặt tay và được phủ một lớp sương muối dễ vỡ dày sáu inch, trông không có vẻ gì hứa hẹn, nhưng nằm ở góc ngoặt ngay cạnh mũi chính là dải băng được hình thành từ nước tuyết tan đang lấp lánh. Dải đá băng này kéo thẳng tới ba trăm feet, và nếu như mặt băng đủ chắc để chịu đựng được lực từ cái búa phá băng của tôi, thì con đường này là khả thi. Tôi lê bước qua góc của khúc quanh và rón rén vung búa vào mặt băng dày 2 inch. Cứng và dẻo, nó mỏng manh hơn tôi mong đợi nhưng cũng đủ để gợi lên lòng dũng cảm.

Quá trình leo núi rất dốc và chênh vênh khiến đầu óc tôi choáng váng. Bên dưới đôi giày leo núi Vibram của tôi bức tường dựng đứng cao ba nghìn feet tới con sông băng Witches Cauldron bẩn thỉu và rộng lớn. Còn phía trên kia, chóp núi vút lên đầy quyền uy về phía đỉnh rặng núi, rộng chừng nửa dặm phía trên. Mỗi lần tôi đâm cái búa xuống mặt băng, khoảng cách ấy co lại khoảng hai mươi inch.

Tất cả những gì giữ tôi ở lại bên mặt núi, tất cả những gì giữ tôi lại với thế gian này, là hai chiếc đinh mạ crôm mô-líp-đen mỏng manh nơi mũi giày cắm sâu vào mặt nước đóng băng vẩn đục khoảng nửa inch, và vâng, khi tôi càng leo lên cao hơn, thì tôi càng cảm thấy thoải mái hơn. Ban đầu trong một chuyến leo núi đầy gian khó, đặc biệt là trong một chuyến leo núi đơn độc đầy gian khó, ta sẽ luôn cảm thấy vực thẳm đang níu kéo sau lưng mình. Để chối bỏ ta cần tới một nỗ lực tinh thần khủng khiếp; ta không dám lơi lỏng dù chỉ trong một khoảnh khắc. Khúc nhạc báo động về vực thẳm khiến ta mất đi sự bình tĩnh vốn có; nó khiến cho những cử động trở nên ngập ngừng, lóng ngóng, và không theo bất cứ một quy luật nào. Nhưng khi việc leo núi vẫn tiếp diễn, ta trở nên quen thuộc với sự chênh vênh, ta làm quen với việc chà xát bờ vai vào cái chết, ta thành ra tin tưởng vào sự đáng tin cậy của đôi bàn tay và đôi bàn chân và cả cái đầu. Ta học được cách tin tưởng vào sự kiểm soát bản thân.

Dần dần sự chú tâm của ta trở thành sự tập trung cao độ và thành ra ta không còn chú ý tới những khớp tay lạnh cóng, với sự đau đớn nơi bắp đùi, với trạng thái căng thẳng của việc duy trì liên tục sự tập trung. Tình trạng như thể sự truy nguyên bao trùm lấy những nỗ lực của ta; việc leo núi trở thành một giấc mơ rõ ràng. Mỗi giờ trôi qua như mỗi phút. Tiếng ồn ào huyên náo chất chồng của việc tồn tại từ ngày này qua ngày khác – sự sa ngã của lương tâm, những hóa đơn chưa thanh toán, những cơ hội bị phí hoài, lớp bụi dày đóng dưới chiếc ghế bành, cái nhà tù không thể trốn thoát của tính di truyền – tất cả những điều này đều tạm thời được lãng quên, lấp đầy suy nghĩ của ta là sự sáng sủa rõ ràng đầy mạnh mẽ của mục đích và cả bởi nhiệm vụ quan trọng đang đặt lên tay ta.

Trong khoảnh khắc ấy một thứ gì đó tương tự như hạnh phúc bỗng nhiên tràn đầy trong lồng ngực ta, nhưng không thể là loại cảm xúc mà ta muốn dựa vào thật mạnh. Trong những chuyến leo núi đơn độc toàn thể bộ máy được nối kết lại với một chút nhiều hơn là sự cả gan táo tợn, chứ không phải là sự kết dính đáng tin cậy nhất. Vào cuối ngày hôm đó khi quay mặt về ngọn Thumb nơi phương bắc, tôi cảm thấy sự kết dính tan rã với một cú vung của cái búa phá băng.

Tôi đã leo được gần bảy trăm feet độ cao kể từ khi bước khỏi dòng sông băng chênh vênh, tất cả là nhờ vào đinh đế giày phía trước và đầu cái búa phá băng. Dải lụa nước tuyết tan đóng băng đã kết thúc khi lên đến độ cao ba trăm feet và sau đó là một lớp băng tuyết mỏng tang dễ vỡ. Dù cho chỉ vừa đủ vững vàng để chống đỡ sức nặng bản thân, phần băng mềm dẻo trên mặt đá với độ dày khoảng hai tới ba feet, nên tôi vẫn có thể tiếp tục tiến lên. Tuy vậy, bức tường ngày càng trở nên dốc đứng, và vì thế, mà lớp băng tuyết cũng đâm ra mỏng hơn. Còn tôi thì rơi vào một nhịp điệu chậm rãi, đều đều – vung, vung; đá, đá; vung, vung; đá, đá – cho tới khi cái búa phá băng bên tay trái của tôi chạm vào một mảng đi-o-rít cách mặt băng chừng vài inch.

Tôi thử bên trái, rồi bên phải, nhưng vẫn cứ đập vào mặt đá. Mặt băng mỏng đỡ cho tôi, nó trở nên trong suốt, hoặc có thể là dài năm inch và có cấu trúc như một cái bánh mì ngô đã ôi thiu. Bên dưới là ba nghìn bảy trăm feet không khí, và tôi như đang đứng thăng bằng trên một tấm bìa. Cái vị chua chát của nỗi hoảng loạn dâng tràn trong họng tôi. Mắt tôi nhòa đi, tôi bắt đầu thở gấp, bắp chân tôi run rẩy. Tôi dịch chuyển một vài feet xa hơn về bên phải, hy vọng sẽ tìm thấy lớp băng dày, nhưng rốt cục chiếc búa phá băng cũng chỉ chạm vào mặt đá.

Một cách lúng túng, căng thẳng với nỗi sợ, tôi bắt đầu lùi lại. Lớp băng cũng đã dày hơn. Sau khi leo xuống khoảng tám mươi feet, tôi quay trở lại vị trí tương đối vững chãi. Tôi dừng lại đó một quãng thời gian đủ lâu để tinh thần bình tĩnh lại, rồi tôi lại tiếp tục cầm dụng cụ trong tay và ngẩng đầu quan sát, tìm kiếm một vị trí có đá băng cứng, tìm kiếm sự khác biệt nằm dưới địa tầng đá, tìm kiếm bất kỳ thứ gì cho phép tôi có thể vượt qua sự chênh vênh của lớp băng giá mỏng manh. Tôi nhìn lên cho tới khi cổ mình trở nên nhức mỏi, nhưng chẳng có gì cả. Chuyến leo núi kết thúc. Con đường duy nhất là leo trở xuống.

[1] Fitz Hugh Sound, đôi khi còn được gọi là Fitzhugh Sound, là một eo biển thuộc vùng biển British Columbia thuộc Canada, nằm giữa đảo Calvert Island và đất liền. Fitz Hugh Sound là một phần của một nhóm các con đường dẫn đến cửa ngõ của con kênh Dean, một trong những vịnh hẹp chính của bờ biển, nơi nó cắt đường thủy nối giữa các hòn đảo được gọi là Inside Passage.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: