INTO THE WILD (12)

CHƯƠNG 12: ANNANDALE

11361272803_e704d8584f_b

Thay vì tình yêu, thay vì tiền bạc, thay vì danh vọng, hãy cho tôi sự thật. Tôi ngồi bên chiếc bàn nơi thức ăn và bia rượu ê hề, nơi sự xun xoe dư thừa, nhưng chân thành và sự thực thì thiếu thốn; và tôi bỏ đi trong đói khát sự thiếu thốn thân tình. Sự thân ái cũng lạnh lẽo như giá băng.

HENRY DAVID THOREAU,
WALDEN, HAY CUỘC SỐNG TRONG RỪNG CÂY
ĐOẠN VĂN ĐƯỢC ĐÁNH DẤU TRONG NHỮNG CUỐN SÁCH TÌM
THẤY TRONG ĐỐNG TÀI SẢN CỦA CHRIS MCCANDLESS.
TRÊN ĐẦU TRANG, TỪ “SỰ THẬT” ĐƯỢC VIẾT
BẰNG CHỮ IN HOA CỠ LỚN.

Trẻ nhỏ ngây thơ và yêu sự công bằng, trong khi tất cả chúng ta đều yếu đuối và yêu thích sự ban ơn.

  1. K. CHESTERTON

Năm 1986, vào một ngày xuân cuối tuần ảm đạm, Chris tốt nghiệp trường Trung học Woodson, Walt và Billie tổ chức một bữa tiệc mừng cho cậu. Sinh nhật của Walt là vào ngày 10 tháng 6, chỉ cách đó có vài ngày, và trong buổi tiệc Chris tặng cha một món quà: một ống kính viễn vọng đắt tiền hiệu Questar.

“Tôi vẫn còn nhớ lúc ấy tôi ngồi đó khi anh ấy tặng Cha chiếc kính viễn vọng,” Carine kể lại. “Chris đã uống vài ly đêm đó và ngà ngà say. Anh ấy thật sự xúc động. Anh ấy gần như đã khóc, cố ngăn nước mắt, rồi nói với Cha tôi rằng dù cho họ có sự cách biệt trong những năm qua, thì anh ấy vẫn luôn biết ơn vì những gì mà Cha đã làm cho anh ấy. Chris nói rằng anh ấy rất tôn trọng Cha vì Cha đã xây dựng tất cả từ hai bàn tay trắng, làm việc để kiếm tiền học đại học, làm việc như điên để nuôi tám đứa con. Đấy là một bài phát biểu cảm động. Ai cũng lặng cả người. Và rồi anh ấy lên đường theo kế hoạch.”

Walt và Billie không cố ngăn Chris ra đi, mặc dù họ thuyết phục cậu mang theo thẻ tín dụng Texaco của Walt để phòng thân và yêu cầu cậu con trai hứa rằng sẽ gọi điện về nhà ba ngày một lần. “Chúng tôi đặt tim ở trên miệng trong suốt quãng thời gian nó đi,” Walt kể, “nhưng chẳng có cách nào ngăn thằng bé cả.”

Sau khi rời Virginia, Chris lái xuống phía nam và phía tây qua các đồng bằng của bang Texas, qua cái nóng của New Mexico và Arizona, và đến bờ biển Thái Bình Dương. Ban đầu, cậu giữ đúng lời hứa gọi điện thường xuyên, nhưng khi mùa hè trôi qua, các cuộc gọi trở nên thưa thớt hơn với thời gian ngắn lại. Cậu không xuất hiện trước cửa nhà cho tới hai ngày trước kỳ khai giảng năm học mới tại trường đại học Emory bắt đầu. Khi cậu bước chân vào ngôi nhà ở Annandale, cậu có một bộ râu rậm rạp, mái tóc cậu dài và rối tung, và cậu sụt ba mươi pound so với cái thân thể đã khá khẳng khiu trước đó.

“Ngay khi tôi nghe thấy tiếng anh ấy,” Carine kể lại, “tôi chạy vội vào phòng ăn. Anh ấy đang ngủ trên giường. Anh ấy gầy đi nhiều. Trông anh ấy cứ như bức tranh vẽ Jesus trên cây thập tự vậy. Lúc Mẹ thấy anh ấy đã sụt cân nhiều như thế nào, bà phát hoảng lên. Bà bắt đầu nấu ăn như điên và cố gắng vỗ béo lại anh ấy.”

Vào gần cuối chuyến đi, hóa ra, Chris bị lạc trên Sa mạc Mojave và suýt chút nữa thì chết vì mất nước. Cha mẹ cậu hoảng hốt khi nghe tin về tai nạn không may đó nhưng họ không biết làm sao để có thể nói chuyện với cậu về thái độ cẩn trọng hơn cho tương lai. “Chris hầu như làm gì cũng rất tốt,” Walt nhận định, “điều này khiến nó hơi quá tự mãn. Nếu như anh cố thuyết phục nó thôi làm một điều gì đó, nó không hề cãi lại. Thằng bé sẽ lịch sự gật đầu rồi cứ làm theo ý mình.”

“Vì thế lúc đầu tôi không nói gì cả về vấn đề an toàn. Tôi chơi tennis với Chris, nói về những chuyện khác, rồi ngồi xuống và thảo luận với thằng bé về những nguy hiểm nó đã trải qua. Tôi học được rằng đó là cách để tiếp cận trực tiếp vấn đề — ‘Vì Chúa, tốt nhất là con không nên làm trò nguy hiểm như thế nữa!’ — sẽ chẳng ăn thua gì với Chris. Thay vì thế, tôi cố gắng giải thích rằng chúng tôi không muốn can thiệp vào việc thằng bé đi du lịch; những gì chúng tôi muốn chỉ là nó nên cẩn thận hơn một chút và nên thông báo cho chúng tôi nhiều hơn về những nơi nó đến.”

Để làm mất hết tinh thần của Walt, Chris xù lông với một chút xíu lời khuyên của người cha này. Tác động duy nhất mà chúng đem lại là làm cho cậu có khuynh hướng ít chia sẻ về kế hoạch của mình hơn.

“Chris,” Billie nói, “cho rằng chúng tôi thật ngớ ngẩn khi cứ lo lắng về nó.”

Trong suốt những chuyến đi của mình, Chris mang theo một con dao rựa và một khẩu súng trường .30-06 li, và khi mà Walt và Billie lái xe chở cậu tới Atlanta để học đại học, cậu thuyết phục họ cho phép cậu mang con dao vĩ đại và khẩu súng theo cùng. “Khi chúng tôi đi cùng Chris vào phòng ký túc,” Walt bật cười, “tôi nghĩ phụ huynh bạn cùng phòng Chris chắc hẳn phải chết ngất khi thấy mấy thứ đấy. Bạn cùng phòng của nó cũng là một đứa trẻ đáng sợ đến từ Connecticut, ăn mặc giống Joe College[1], và Chris đi vào với bộ râu bờm xờm và bộ quần áo đã tả tơi, nhìn như Jeremiah Johnson[2], mang theo một con dao rựa và một khẩu súng săn. Nhưng mà anh biết không? Trong vòng chín mơi ngày cậu bạn cùng phòng với nó bỏ học, trong khi Chris thì luôn có mặt trong danh sách những sinh viên xuất sắc.”

Trước sự ngạc nhiên đầy hài lòng của cha mẹ mình, khi năm học bắt đầu, Chris xúc động vì việc học hành ở Emory. Cậu cạo râu, cắt tóc, và lại chấp nhận cái bề ngoài sạch sẽ mà cậu từng có ở trường trung học. Điểm số của cậu hoàn hảo. Cậu bắt đầu viết cho tờ báo của trường. Cậu còn nói chuyện một cách đầy hào hứng về việc sẽ tiếp tục theo đuổi bằng luật khi tốt nghiệp. “Cha này,” Chris nói với Walt vào một thời điểm, “con nghĩ điểm của con đủ điều kiện để được nhận vào Trường Luật Harvard đấy.”

Mùa hè sau năm học đầu tiên ở trường đại học, Chris quay trở về Annandale và làm việc trong công ty của cha mình, tham gia vào việc phát triển phần mềm. “Chương trình mà thằng bé viết cho chúng tôi vào mùa hè năm đó rất hoàn mỹ,” Walt nói. “Cho đến giờ chúng tôi vẫn sử dụng nó và đã bán nhiều bản quyền cho các khách hàng. Nhưng khi tôi muốn Chris chỉ cho tôi các lệnh lập trình, để giải thích xem vì sao nó lại hoạt động như thế, thì thằng bé từ chối. ‘Tất cả những gì mà cha cần biết là nó hoạt động được,’ thằng bé trả lời. ‘Cha đâu cần phải biết như thế nào hay vì sao.’ Chris vẫn cứ luôn là Chris, nhưng điều này làm tôi tức điên. Nó có thể trở thành một điệp viên CIA suất sắc — tôi nói nghiêm túc đấy; tôi có quen những người làm việc cho CIA. Anh ta chỉ nói cho chúng tôi biết những điều mà anh ta nghĩ rằng chúng tôi cần phải biết và không gì hơn. Thằng con tôi cũng hệt như thế.”

Có nhiều nét tính cách trong con người Chris đã góp phần xây dựng nên rào cản giữa cậu với cha mẹ mình. Cậu có thế hào phóng và bao dung với một lỗi lầm, nhưng bản thân cậu cũng có những góc khuất, đó là những tính cách như sự độc tưởng[3], thiếu kiên nhẫn, và cả tính vị kỷ kia nữa, các phẩm chất có vẻ như ngày càng phát triển trong suốt những năm đại học.

“Tôi nhìn thấy Chris trong một bữa tiệc sau năm học thứ hai ở Emory,” Eric Hathaway nhớ lại, “và rõ ràng là nó đã thay đổi. Nó thiên về nội tâm hơn, gần như là lạnh lùng. Khi tôi nói ‘Ê, gặp lại mày tao thấy vui quá, Chris,’ thì nó trả lời tôi một cách cay cú: ‘Ừ, đúng thế, ai cũng nói thế cả.’ Rất khó để khiến nó mở lòng. Việc học hành có lẽ là thứ duy nhất mà nó còn hào hứng nhắc tới. Cuộc sống xã hội ở Emory giới hạn xung quanh hội sinh viên và hội nữ sinh, những thứ mà Chris muốn tránh xa. Tôi nghĩ khi mọi người bắt đầu đi Hi Lạp, nó gần như thu mình mình lại trước những bạn bè cũ và tập trung vào bản thân mình nhiều hơn.”

Mùa hè giữa năm học thứ hai và thứ ba Chris một lần nữa lại trở về Annandale và nhận một công việc giao bánh pizza cho Domino. “Anh ấy không buồn bận tâm rằng công việc đấy không được hoành tráng cho lắm,” Carine nói. “Anh ấy kiếm được cả một cọc tiền. Tôi nhớ khi anh ấy về nhà vào mỗi tối và lập bảng chi tiêu bên bàn bếp. Dù có mệt thế nào thì với anh ấy cũng chẳng thành vấn đề; anh ấy tính xem mình đã đi bao nhiêu dặm đường, Domino trả cho anh ấy bao nhiêu tiền xăng, tiền xăng mà anh ấy phải trả là bao nhiêu, và mỗi tối anh ấy thu về được bao nhiêu, và so sánh kết quả với buổi tuối thuộc tuần trước. Anh ấy theo dõi đủ thứ và chỉ cho tôi cách làm điều đó, làm thế nào để thu lời. Anh ấy thật ra không quá chú trọng tới tiền bạc so với thực tế rằng anh ấy rất tài trong việc kiếm tiền. Nó giống như một thứ trò chơi, và tiền bạc chỉ đơn giản là đơn vị tính điểm.”

Mối quan hệ của Chris với cha mẹ mình, mà trở nên hòa hợp một cách bất thường kể từ khi cậu tốt nghiệp trung học, hoàn toàn đâm ra xấu đi vào mùa hè đó, và Walt và Billie không hiểu nổi vì sao. Theo lời Billie, “Thằng bé dường như nổi điên với chúng tôi thường xuyên hơn, và nó trở nên xa lánh hơn — không, từ này không đúng rồi. Chris chưa bao giờ tỏ ra xa lánh cả. Nhưng nó không nói với chúng tôi những suy nghĩ của mình và dành nhiều thời gian ở một mình hơn.”

Cơn giận giữ âm ỉ trong Chris, đã bùng phát, được khơi gợi bởi một khám phá mà cậu tìm ra hai mùa hè trước đó, trong suốt chuyến lang thang khắp đất nước của cậu. Khi tới California, cậu ghé thăm khu dân cư El Segundo nơi mà cậu đã sống ở đó trong sáu năm. Cậu gọi tới một người bạn cũ của gia đình mà vẫn còn sống tại đó, và từ câu trả lời của họ, Chris xâu chuỗi các sự kiện về cuộc hôn nhân trước của cha cậu cùng với cuộc ly dị lại — những sự thật mà cậu không được biết đến.

Walt chia tay người vợ đầu, Marcia, không phải là một cuộc chia tay sạch sẽ hay thân thiện gì. Rất lâu sau khi yêu Billie, rất lâu sau khi bà sinh Chris, Walt vẫn lén lút duy trì quan hệ với Marcia, chia sẻ thời gian giữa hai nhà, hai gia đình. Các lời nói dối được nói ra và bị phát hiện, sinh ra nhiều dối trá hơn để biện hộ cho sự kém chân thật ngay từ lúc ban đầu. Hai năm sau khi sinh Chris, Walt làm cha của một cậu con trai nữa — Quinn McCandless — với mẹ là Marcia. Và cuộc sống hai mặt của Walt bị đưa ra ánh sáng, sự phát giác mang đến những vết thương chí mạng. Tất cả những bên liên quan đều chịu đựng quá nhiều.

Rốt cuộc, Walt, Billie, Chris, và Carine chuyển tới Bờ Đông. Cuộc ly dị với Marcia là một kết cục dài, cho phép Walt và Billie hợp pháp hóa hôn nhân của mình. Họ bỏ lại những náo động phía đằng sau như là những điều tốt nhất mà họ có thể làm và tiếp tục sống cuộc đời mình. Hai thập kỷ trôi qua. Sự từng trải được tích lũy. Tội lỗi và đau đớn và ghen tuông cuồng nộ đã lùi sâu trong quá khứ; cũng giống như một cơn bão chỉ đơn giản là hiện tượng thời tiết. Và rồi vào năm 1986, Chris lái xe tới El Segundo, thăm lại những người hàng xóm cũ, và nghe được về vở kịch với đầy đủ những chi tiết đau lòng.

“Chris là loại người luôn suy nghĩ về mọi chuyện,” Carine nhận xét. “Nếu điều gì đó làm anh ấy bận tâm, anh ấy sẽ không nói ra. Anh ấy giữ chúng trong lòng, ấp ủ sự oán giận, để cho những cảm xúc tiêu cực cứ chất chồng lên.” Điều này nghe ra giống như những gì tiếp diễn sau những khám phá của cậu ở El Segundo.

Trẻ con có thể trở thành những vị quan tòa nghiệt ngã trước cha mẹ mình, chán ghét trước tấm lòng khoan dung vô hạn, và điều này đặc biệt đúng với trường hợp của Chris. Đặc biệt hơn so với hầu hết những đứa trẻ vị thành niên khác, cậu có khuynh hướng chỉ nhìn nhận sự việc theo mức độ trắng và đen. Cậu đánh giá bản thân và những người xung quanh bằng một thứ tiêu chuẩn đạo đức khắt khe.

Đầy tò mò, Chris không sắp xếp tất cả mọi người trên cùng một mức tiêu chuẩn. Một trong những cá nhân mà cậu vô cùng ngưỡng mộ trong hai năm cuối của cuộc đời là một người uống nhiều rượu và có tật xấu hay tán gái không bỏ được mà lại thường xuyên đánh đập người phụ nữ của mình. Chris nhận thức rõ những lỗi lầm của người đàn ông này nhưng vẫn luôn sẵn sàng tha thứ. Cậu cũng sẵn lòng tha thứ, hoặc có thể là đánh giá quá cao, những thiếu sót của vị anh hùng văn chương của cậu: Jack London là một kẻ nghiện rượu có tiếng; Tolstoy, mặc dù nổi danh vì sự ủng hộ của ông trước cuộc sống độc thân, nhưng thực ra là một tay phiêu lưu tình ái khi còn trẻ và là cha của ít nhất mười ba đứa con, mà một trong số đó được thụ thai trong cùng thời điểm nhục dục bị lên án mạnh mẽ và bị xem là đồi bại.

Cũng giống như nhiều người khác, Chris phán xét các nghệ sĩ và những người bạn thân thông qua công việc của họ, chứ không phải qua cuộc đời, và cái tính cách thất thường của cậu đã không thể áp dụng sự khoan dung này đối với cha mình. Bất cứ khi nào Walt McCandless, trong điệu bộ nghiêm khắc của mình, buông ra một lời khiển trách tới Chris, Carine, hay những người anh chị cùng cha khác mẹ khác của cậu, Chris sẽ liên hệ nó với hành vi của cha cậu trong những năm trước và lặng lẽ tuyên án ông như một kẻ đạo đức giả cao ngạo. Chris cẩn trọng ghi nhận những điều này. Và theo thời gian cậu đẩy mình vào sự tức giận của việc tự phán xét mà không thể bộc phát.

Sau khi Chris khám phá ra bí mật của vụ ly hôn của Walt, hai năm qua đi trước khi cơn tức giận của cậu bắt đầu rò rỉ ra bề mặt, nhưng sự rò rỉ rốt cuộc cũng xảy ra. Chàng trai không thể dung thứ cho lỗi lầm mà cha mình đã phạm phải khi còn trẻ, và cậu còn ít sẵn lòng tha thứ hơn cho cái nỗ lực che giấu nó. Về sau này cậu tuyên bố với Carine và những người khác rằng sự lừa dối được thực hiện bởi Walt và Billie khiến cho “toàn bộ tuổi thơ giống như một tác phẩm hư cấu.” Nhưng cậu không đem vấn đề này ra trao đổi thẳng thắng với cha mẹ mình, không bao giờ. Thay vì vậy cậu lựa chọn giải pháp giữ bí mật về sự hiểu biết mờ mịt của mình và bộc lộ cơn cuồng nộ một cách gián tiếp, trong sự yên lặng và ủ rũ.

Vào năm 1988, khi sự oán giận của Chris đối với cha mẹ trở nên nặng nề hơn, cảm giác của cậu về sự giận dữ đối với bất công trên thế giới cũng trở nên lớn hơn. Mùa hè năm đó, như Billie nhớ lại, “Chris bắt đầu kêu ca về tất cả những đứa trẻ giàu có ở Emory.” Ngày càng nhiều lớp học cậu tham gia mà liên quan về các vấn đề sức ép xã hội như sự phân biệt chủng tộc và nạn đói trên thế giới và sự bất bỉnh đẳng trong phân hóa giàu nghèo. Nhưng mặc cho sự ác cảm của cậu đối với tiền bạc và sự sùng bái tiêu dùng dễ dàng nhận thấy, khuynh hướng chính trị của Chris không thể được miêu tả là tự do.

Thực vậy, cậu ta say mê các chính sách lố bịch của Đảng Dân chủ và là một fan hâm mộ của Ronald Reagan. Ở trường Emory cậu tiến xa đến mức đồng sáng lập Câu lạc bộ Đảng cộng hòa ở Trường đại học. Vị trí chính trị có vẻ như dị thường của Chris có thể tốt nhất được kết luận bởi tuyên nguyên của Thoreau trong “Nền dân chủ bất phục tùng (Civil Disobedience)”: “Tôi vui vẻ chấp nhận phương châm — ‘Rằng chính phủ thực hiện xuất sắc nhất vai trò của mình khi điều hành ít nhất.’” Đằng sau đó quan điểm của cậu không dễ dàng để có thể gọi tên.

Là trợ lý biên tập của tờ The Emory Wheel, cậu là tác giả của nhiều bài bình luận. Khi đọc chúng vào một nửa thập kỷ sau, một người có thể được nhắc nhớ về chàng trai trẻ McCandless là như thế nào, và cậu ta đã từng nhiệt tình ra sao. Những quan điểm mà cậu trình bày trên mặt báo, biện luận với tính logic chặt chẽ, luôn được thể hiện. Cậu đả kích Jimmy Carter và Joe Biden, đòi hỏi sự từ chức của Viên chưởng lý Edwin Meese, đấu vật tay đôi với Kinh thánh về quyền của người theo đạo, kêu gọi sự cảnh giác trống lại những hiểm họa Xô Viết, khiển trách người Nhật vì săn bắn cá voi, và bảo vệ Jesse Jackson như một ứng cử viên tổng thống tiềm năng. Ở một tuyên bố hơi thái quá dẫn tới lệnh phạt McCandless không được tham gia vào vị trí biên tập vào ngày 1 tháng 3, 1988, viết rằng, “Chúng ta bây giờ sẽ bắt đầu bước vào tháng thứ ba của năm 1988, và nó đã sẵn sàng trở thành một năm lũng đoạn và bê bối về chính trị nhất trong lịch sự hiện đại ….” Chris Morris, tổng biên tập của tờ báo, nhớ rất rõ rằng McCandless “rất mãnh liệt.”

Dưới sự suy yếu về số lượng của những bạn đồng nghiệp của mình, McCandless ngày càng mãnh liệt hơn sau mỗi tháng. Ngay khi học kỳ kết thúc vào mùa xuân năm 1989, Chris nhảy lên chiếc Datsun để bắt đầu một chuyến phiêu lưu đường trường tùy hứng. “Chúng tôi chỉ nhận được hai tấm thiệp của thằng bé trong suốt cả mùa hè,” Walt kể. “Tấm đầu tiên viết, ‘Đang tới Guatemala.’ Khi đọc nó tôi đã nghĩ, ‘Ôi, trời ạ, chẳng lẽ nó đến đấy để chiến đấu cùng với những kẻ nổi dậy. Họ sẽ lôi nó ra bờ tường mà xử bắn mất thôi.’ Rồi vào gần cuối hè, tấm thiệp thứ hai được gửi đến, và tất cả những gì được ghi trên tấm thiệp là ‘Rời Fairbanks vào ngày mai, gặp lại mọi người sau vài tuần nữa.’ Hóa ra nó đã thay đổi ý kiến và lái tới Alaska thay vì đi xuống phía nam.”

Con đường cao tốc chở hàng đầy gồ ghề và ám bụi Alaska Highway là điểm đầu tiên mà Chris tới khi tới miền Viễn Bắc. Đó là một chuyến đi ngắn — cậu chỉ dành một ít thời gian khám phá Fairbanks, rồi vội vã đi xuống phía nam để quay lại Atlanta cho kịp thời gian khai giảng năm học mới — nhưng cậu đã bị tác động sâu sắc bởi sự bao la của vùng đất, bởi thứ màu sắc u ám của những dòng sông băng, bởi sự trong veo của màu trời vùng cận Bắc Cực. Không có câu hỏi về việc cậu sẽ quay trở lại.

Trong suốt năm cuối ở Emory, Chris rời khỏi ký túc xá và dọn vào một căn hộ riêng trống trải, thanh đạm được trang bị vài hộp sữa và một tấm đệm trên sàn. Chỉ có vài người bạn là bắt gặp cậu ngoài phạm vi lớp học. Một vị giáo sư đã đưa cho cậu chìa khóa để có thể vào trong thư viện trường sau giờ cho phép, là nơi mà cậu hiện diện trong phần lớn thời gian rảnh. Andy Horowitz, người bạn thân của cậu ở trường trung học và là bạn đồng hành trong chuyến đi xuyên đất nước, chỉ tình cờ gặp lại Chris giữa đám đông vào một buổi sáng ngay trước lễ tốt nghiệp. Mặc dù Horowitz và McCandless là bạn cùng lớp ở Emory, nhưng đã hơn hai năm mà họ chưa gặp mặt nhau. Họ nói chuyện ngượng ngịu trong vài phút, rồi McCandless biến mất trong thư viện.

Chris hiếm khi liên lạc với cha mẹ mình trong năm đó, và bởi vì cậu không có điện thoại, họ cũng chẳng thể dễ dàng gì trong việc liên lạc với cậu. Walt và Billie ngày càng lo lắng về sự xa cách của con trai mình. Trong một bức thư gửi cho Chris, Billie van nài, “Con đã hoàn toàn bỏ rơi tất cả những người yêu thương và quan tâm tới con. Dù vì lý do gì – dù con có cùng với bất kỳ ai – liệu con có nghĩ rằng hành động của con là có thể chấp nhận được không?” Chris xem điều này như là một động thái can thiệp và coi bức thư đó là “ngớ ngẩn” như khi cậu ta nói chuyện với Carine.

“Bà ấy có ý gì khi nói ‘dù anh cùng với bất kỳ ai?” Chris rủa xả với người em gái của mình. “Bà ấy đúng là một bà già tầm thường gàn dở. Em biết anh nghĩ gì không? Anh cá là họ nghĩ rằng anh đồng tính. Làm sao mà bọn họ có cái suy nghĩ ấy cơ chứ? Đúng là đần độn.”

Vào mùa xuân năm 1990, khi mà Walt, Billie, và Carine tham dự lễ tốt nghiệp của Chris, họ đã nghĩ rằng cậu trông thật hạnh phúc. Khi họ ngắm cậu sải bước trên sân khấu để nhận bằng tốt nghiệp, cậu cười ngoác tận mang tai. Cậu từng tuyên bố rằng cậu đang lên kế hoạch cho một chuyến đi dài khác nhưng nhấn mạnh rằng cậu sẽ về Annandale thăm gia đình trước khi khởi hành. Ngay sau đó, cậu quyên toàn bộ số dư tài khoản ngân hàng cho OXFAM, trèo lên xe, và biến mất khỏi cuộc đời họ. Kể từ đó cậu cự kỳ thận trọng và tránh liên lạc với cha mẹ mình hoặc Carine, cô em gái mà cậu vô cùng yêu thương.

“Chúng tôi rất lo khi không nghe thấy tin tức gì từ anh ấy,” Carine nói, “và tôi nghĩ sự lo lắng của cha mẹ tôi cũng bao gồm cả tổn thương và giận dữ nữa. Nhưng tôi không cảm thấy bị tổn thương bởi việc anh ấy không viết thư từ gì. Tôi biết là anh ấy đang rất hạnh phúc và đang làm những điều mà anh ấy muốn làm; tôi hiểu rõ rằng việc thử xem anh ấy có thể tự lập đến nhường nào là vô cùng quan trọng với anh ấy. Và anh ấy biết rằng nếu như viết thư hay gọi tôi, thì Mẹ và Cha sẽ biết được anh ấy đang ở đâu, và họ sẽ bay tới đó, và cố lôi anh ấy về.”

Walt không phủ nhận điều này. “Không có câu hỏi trong đầu tôi,” ông nói. “Nếu như chúng tôi biết được phải đến đâu để tìm thằng bé — OK — tôi sẽ tới đó ngay lập tức, và đưa con trai của chúng tôi về nhà.”

Khi hàng tháng trời trôi qua mà không có bất kỳ một lời nào từ Chris — và rồi là hàng năm — nỗi đau khổ gia tăng. Billie không khi nào rời nhà mà không để lại một lời nhắn cho Chris bên ngoài cửa ra vào. “Bất kỳ khi nào chúng tôi lái xe ngoài đường và bắt gặp một người bắt xe đi nhờ,” bà kể, “nếu như anh ta hơi giống Chris, chúng tôi sẽ vòng xe lại ngay lập tức. Đó là một quãng thời gian khủng khiếp. Về đêm là tệ nhất, đặc biệt là khi trời lạnh hoặc có bão. Tôi luôn lo lắng, ‘Giờ này thằng bé đang ở đâu? Liệu nó có đủ ấm không? Liệu nó có bị thương không? Liệu nó có cô đơn không? Liệu nó có ổn không?’”

Vào tháng 7 năm 1992, hai năm sau khi Chris rời Atlanta, Billie đang ngủ trong căn nhà ở Chesapeake Beach khi bà giật mình ngồi dậy giữa đêm khuya, đánh thức Walt. “Tôi chắc chắn là khi ấy tôi nghe thấy tiếng thằng Chris đang gọi tôi,” bà khăng khăng, nước mắt lăn dài trên gò má. “Tôi không biết làm thế nào mà tôi lại cảm nhận được điều đó. Rõ ràng là tôi không nằm mơ. Tôi không hoang tưởng. Chắc chắn là tôi có nghe thấy giọng thằng bé! Nó đang rên rỉ, ‘Mẹ ơi! Cứu con với!’ Nhưng tôi không thể cứu nổi thằng bé bởi vì tôi không biết nó đang ở đâu. Và tất cả những gì mà thằng bé nói chỉ là: ‘Mẹ ơi! Cứu con với!’”

[1] Joe College là anh chàng mà mọi người đều muốn được về cùng một phe. Kid luôn luôn có những công cụ để sẵn sang cho một buổi tiệc, đầy bia, thuốc ADHD, và rất nhiều những thứ khác mà cậu ta có thể xoay sở được dễ dàng (như: xì gà, Skoal, BCS có hương liệu, và 151). Không việc gì có thể làm khó được cậu ta. Bởi vì thế Joe là anh hung mà cũng là thần tượng. Và khi mà ta nhìn vào gương, thì ta những muốn có một chàng Joe College đang nhìn lại mình.

[2] Jeremiah Johnson là bộ phim về miền viễn tây được đạo diễn bởi Sydney Pollack với sự tham gia diễn xuất của Robert Redford đóng vai Jeremiah Johnson và Will Geer trong vai “Bear Claw” Chris Lapp vào năm 1972. Bộ phim được làm dựa trên một phần sự thực về cuộc đời Liver-Eating Johnson, chuyển thể từ cuốn tiểu thuyết Crow Killer: The Saga of Liver-Eating Johnson and Vardis Fisher’s Mountain Man của Raymond Thorp và Robert Bunker.

[3] độc tưởng (monomania) là 1 trong số 7 loại triệu chứng bệnh tâm thần. Người mắc chứng bệnh này thường chỉ bận tâm tới một vấn đề duy nhất trong tâm trí.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: