INTO THE WILD (11)

CHƯƠNG 11: BÃI BIỂN CHESAPEAKE

7185720734_04ed51d21a_b

Mọi thứ bỗng nhiên thay đổi — giọng điệu, lương tâm; anh không biết phải nghĩ tới điều gì, phải lắng nghe ai. Như thể cuộc đời anh bị dẫn dắt như bàn tay con trẻ, anh buộc phải học cách tự mình bước đi. Không có ai ở đó, không một người thân hay những người mà lời nói của họ khiến anh trân trọng. Và khi ấy anh cảm thấy sự cần thiết cống hiến bản thân mình một cách toàn bộ vào điều gì đó – cuộc đời hoặc sự thật hoặc là cái đẹp – của việc hoàn toàn bị thống trị bởi những quy luật tại nơi chốn mà những quy luật do con người tạo ra bị từ bỏ. Anh buộc lòng phải nhượng bộ nhiều hơn nữa trước những mục đích đó, một cách ít lưỡng lự hơn so với trước đây, những ngày bình an, trong cuộc đời cũ kỹ và quen thuộc, đã trôi đi.
BORIS PASTERNAK,
ĐOẠN VĂN ĐƯỢC ĐÁNH DẤU TRONG
MỘT QUYỂN SÁCH TÌM THẤY BÊN THI THỂ MCCANDLESS.
“CẦN MỘT MỤC ĐÍCH” ĐƯỢC MCCANDLESS
VIẾT TAY BÊN LỀ TRANG SÁCH.

Samuel Walter McCandless, Jr., năm mươi sáu tuổi, để râu, ít nói với mái tóc hoa râm chải ngược ra sau để lộ vầng trán cao. Cao lớn và rắn chắc, ông đeo chiếc kính có gọng tròn bằng kim loại khiến ông trông giống như một vị giáo sư. Bảy tuần sau khi thi thể con trai ông được tìm thấy ở Alaska trong chiếc túi ngủ màu xanh mà Billie từng may cho Chris, Walt đang dọn dẹp chiếc thuyền buồm ngay bên dưới khung cửa sổ của ngôi nhà hiện đại nhìn ra bến cảng. “Anh hỏi tôi cảm thấy như thế nào ư,” ông lo lắng nói to khi nhìn mông lung về phía vịnh Chesapeake, “nó là thằng bé giàu tình thương mà lại khiến cho cha mẹ vô cùng đau lòng?”
Ngôi nhà McCandless ở Chesapeake Beach, Maryland, được trang hoàng rất đẹp, không một vết bẩn, không một tiếng ồn. Những khung cửa sổ cao từ nền nhà lên đến trần cho cái nhìn mù sương toàn cảnh khu vịnh. Một chiếc Chevy Suburban lớn và một chiếc Cadillac trắng đỗ ngay trước cửa nhà, một chiếc ‘69 Corvette được phục chế nằm trong garage, một chiếc bè gỗ du lịch đang được neo nơi bến tàu. Một tấm poster lớn hình vuông, với nhiều hình ảnh ghi lại vắn tắt cuộc đời Chris, đã ngự trên mặt bàn bếp trong nhiều ngày.
Di chuyển thận trọng quanh khu trưng bày, Billie chỉ cho tôi thấy hình Chris khi còn là một đứa bé ẵm ngửa bên con ngựa yêu thích của cậu, Chris sung sướng lúc tám tuổi trong chiếc áo mưa màu vàng trong chuyến du lịch đầu tiên của mình, Chris trong buổi lễ tốt nghiệp ở trường trung học. “Phần khó khăn nhất,” Walt nói, ngừng lại trước một tấm ảnh chụp hình con trai ông đang làm bộ mặt hề trong một kỳ nghỉ cùng với gia đình, rất khó để nhận thấy giọng nói của ông đang vỡ ra, “là chúng tôi đơn giản không còn được nhìn thấy thằng bé nữa. Tôi đã dành rất nhiều thời gian bên Chris, có thể là nhiều hơn bất kỳ đứa con nào. Tôi thực sự rất thích được ở bên thằng bé cho dù nó luôn làm cho chúng tôi nản lòng.”
Walt mặc một chiếc quần màu xám bằng vải bông, đi đôi giày tennis, và khoác chiếc áo chơi bóng chày bằng vải sa tanh có thêu logo của Phòng Thí nghiệm Chuyển động phản lực. Đối lập với vẻ bề ngoài giản dị, ông là quản lý của nhiều dự án liên quan đến hàng không. Trong lãnh vực chuyên môn của mình — một công nghệ chuyên biệt được gọi là lỗ radar nhân tạo, hay SAR — ông có một địa vị cao trọng. SAR bắt đầu thực hiện một dự án vũ trụ đặc biệt vào năm 1978, khi vệ tinh đầu tiên do SAR chế tạo, Seasat, bắt đầu quỹ đạo của nó quanh trái đất. Nhà lãnh đạo dự án tiên phong Seasat này của NASA chính là Walt McCandless.
Dòng đầu tiên trong lý lịch của Walt có ghi “Sự cho phép sử dụng thông tin mật: Đương nhiệm Bộ Quốc phòng Tuyệt mật.” Nằm một chút bên dưới của trang lý lịch trong phần mô tả kinh nghiệm chuyên môn của ông bắt đầu với: “Tôi cung cấp các dịch vụ tư vấn riêng về điều khiển cảm biến và thiết kế hệ thống vệ tinh, và kết hợp với thiết lập tín hiệu, mã hóa dữ liệu và xử lý thông tin.” Các đồng nghiệp dùng đến từ rất thông minh để nói về ông.
Walt đã quen với việc được gọi là như vậy. Kiểm soát là một việc ông làm một cách không chủ ý, hoàn toàn tự nhiên. Mặc dù ông có lối nói chuyện rất nhẹ nhàng theo nhịp điệu không vội vã của ngời miền Tây, giọng của ông luôn có sắc độ nhất định, và cái cằm phản bội lại ông với một thứ cảm xúc hồi hộp ngầm. Ngay cả từ phía bên kia của căn phòng cũng có thể cảm nhận được một thứ điện áp lớn đang kêu tanh tách của những sợi nơ-ron thần kinh trong đầu ông. Không thể nào nhẫm lẫn được về nguồn gốc của những cảm xúc mãnh liệt nơi Chris.
Khi Walt lên tiếng, những người khác lắng nghe. Nếu một việc hay một ai đó khiến cho ông không hài lòng, đôi mắt ông nheo lại và lời họ nói bị cắt ngang. Theo lời kể lại của các thành viên của gia đình lớn này, tâm trạng của ông có thể trở nên rất u ám và đồng bóng, dù họ nói rằng sự nóng nảy của ông đã thuyên giảm nhiều trong vài năm gần đây. Sau khi Chris biến mất vào năm 1990, có điều gì đó đã thay đổi nơi Walt. Sự biến mất của con trai làm cho ông sợ hãi và hành hạ ông. Ông trở nên mềm mỏng, nhẫn nại hơn.
Walt lớn lên ở Greeley, Colorado, một thị trấn làm nghề nông trên một khu đất cao, lộng gió gần Wyoming. Là một đứa trẻ sáng dạ, và tham vọng, ông dành được học bổng của Đại học bang Colorado gần Fort Collins. Để có thể tiếp tục theo học, ông thực hiện các công việc bán thời gian khác nhau trong thời gian học đại học, bao gồm cả một công việc trong nhà tang lễ, nhưng nguồn thu nhập ổn định nhất của ông đến từ việc chơi nhạc cùng Charlie Novak, làm trưởng nhóm của một ban nhạc jazz tứ tấu nổi tiếng. Ban nhạc Novaks, với Walt ngồi bên cây đàn piano, chơi các điệu nhạc nhảy và cả các giai điệu cổ điển khác trong các quán rượu rẻ tiền khắp khu Front Range. Là một nhạc công gây nhiều cảm hứng và được xem là có tài năng thiên bẩm, Walt hiện vẫn đang chơi nhạc chuyên nghiệp thường xuyên.
Vào năm 1957, Liên Xô phóng vệ tinh Sputnik I, gây ra bóng đêm sợ hãi trên toàn nước Mỹ. Trong cơn cuồng loạn quốc gia tiếp theo Quốc hội đã đổ hàng triệu của hàng triệu dollar vào ngành vũ trụ không gian ở căn cứ đóng tại California, và cơn bùng nổ bắt đầu. Đối với chàng trai trẻ Walt McCandless — vừa mới tốt nghiệp đại học, kết hôn, và một đứa con sắp chào đời — Sputnik mở ra cánh cửa dẫn tới cơ hội. Sau khi nhận bằng tốt nghiệp đại học, Walt nhận một công việc ở Hughes Aircraft, và ông được điều đi Tucson trong ba năm, nơi mà ông dành bằng thạc sĩ về lý thuyết ăng ten ở trường Đại học Arizona. Ngay sau khi hoàn thành bài luận văn — “Một Nghiên Cứu Về Hình Xoắn Ốc” — ông chuyển tới trung tâm điều hành lớn của Hughes ở California, nơi mà các hoạt động thực sự diễn ra, hăng hái đặt những dấu ấn của ông lên cuộc chạy đua không gian.
Ông mua một căn nhà gỗ nhỏ bên bờ biển ở Torrance, làm việc chăm chỉ, vươn lên một cách nhanh chóng. Sam được sinh ra vào năm 1959, và rồi bốn đứa trẻ khác ra đời —Stacy, Shawna, Shelly, và Shannon — đi cùng với đó là thành công chóng vánh. Walt được chỉ định chức vụ giám đốc thử nghiệm và trưởng khu vục cho dự án Surveyor 1, con tàu vũ trụ đầu tiên đáp xuống mặt trăng. Ngôi sao danh vọng của ông trở nên sáng chói và vươn cao mãi.
Tuy nhiên, vào năm 1965, cuộc hôn nhân của ông rơi vào khủng hoảng. Ông và vợ, Marcia, ly thân. Walt bắt đầu hẹn hò với người thư ký ở Hughes có tên Wilhelmina Johnson — mà mọi người vẫn gọi là Billie — khi ấy mới hai mươi hai tuổi và có đôi mắt màu tối đầy thu hút. Tình yêu giữa họ nảy nở và họ chuyển đến chung sống với nhau. Billie mang thai. Rất mảnh dẻ để bắt đầu, trong chín tháng bà chỉ tăng được có tám pound và không cần tới quần áo bầu.Vào ngày 12 tháng 2, 1968, Billie sinh ra một cậu con trai. Cậu bé thiếu cân, nhưng khỏe mạnh và hiếu động. Walt mua cho Billie một chiếc guitar hiệu Gianini, và bà dùng nó để chơi các khúc hát ru cho thiên thần nhỏ của mình. Hai mươi hai năm sau đó, các nhân viên kiểm lâm của Công viên Quốc gia đã tìm thấy cùng chiếc guitar đó ở ghế sau của chiếc Datsun màu vàng bị bỏ lại bên bờ Hồ Mead.
Rất khó để biết rõ sự hội tụ tối tăm nào của vấn đề nhiễm sắc thể, động lực học cha mẹ – con cái, hay sự sắp đặt của số phận là nguyên nhân chính, nhưng Christopher Johnson McCandless đến với thế giới này với những tài năng đặc biệt và sẽ không dễ dàng bị chệch hướng khỏi quỹ đạo của nó. Khi mới hai tuổi, cậu thức dậy vào giữa đêm, tìm được đường ra ngoài mà không làm bố mẹ thức giấc, và bước vào một ngôi nhà bên dưới khu phố và oanh kích ngăn kéo giữ kẹo của nhà đó.
Lên lớp ba, sau khi nhận được điểm cao trong bài kiểm tra trình độ cơ bản, Chris được đưa vào chương trình đào tạo dành cho học sinh có năng khiếu. “Thằng bé không thấy vui,” Billie nhớ lại, “bởi như thế có nghĩa là nó phải làm nhiều bài tập về nhà hơn. Nên nó dành ra một tuần để nghĩ cách thoát khỏi chương trình đó. Thằng bé cố gắng thuyết phục giáo viên chủ nhiệm, rồi hiệu trưởng — bất kỳ ai chịu lắng nghe — rằng kết quả của bài kiểm tra là không chính xác, rằng nó thực sự không thuộc về nơi đó. Chúng tôi biết được chuyện này trong cuộc họp phụ huynh. Giáo viên của thằng bé kéo chúng tôi ra mọc góc và mách ‘Em Chris nằm ở một mức độ khác.’ Rồi bà ấy chỉ lắc đầu.”
“Ngay từ khi còn nhỏ xíu,” Carine, cô em gái kém Chris ba tuổi kể lại, “anh ấy cũng rất khép kín. Không phải là anh ấy khó gần — anh ấy luôn có nhiều bạn, mọi người đều yêu quý anh — nhưng anh ấy có thể rời đi và tự vui trong nhiều giờ. Anh ấy dường như không cần đến đồ chơi hay bạn bè. Anh ấy có thể ở một mình mà không cảm thấy cô đơn.”
Khi Chris lên sáu tuổi, Walt được cất nhắc một cơ hội làm việc cho NASA, yêu cầu cả gia đình chuyển đến thủ đô. Họ mua một ngôi nhà ở khu Willet Drive thuộc ngoại ô Annandale. Ngôi nhà có một cửa chớp màu xanh, một cửa sổ nhìn thẳng ra vịnh, và một khoảnh sân rất đẹp. Bốn năm sau khi chuyển tới Virginia, Walt nghỉ việc tại NASA và bắt đầu mở một công ty tư vấn — User Systems, Incorporated —mà ông và Billie điều hành hoạt động kinh doanh ngay tại nhà.
Kinh tế khó khăn. Thêm vào tình trạng căng thẳng tài chính của việc đánh đổi sự ăn lương ổn định với sự thất thường khi ra làm riêng, sự chia li giữa Walt và người vợ đầu khiến ông phải hỗ trợ cho cả hai gia đình. Để vượt qua được thời kỳ đó, theo lời Carine, “Cha và Mẹ phải làm việc hàng giờ dài đằng đẵng. Vào buổi sáng khi Chris và tôi thức dậy đi đến trường, họ đã tới văn phòng làm việc. Khi chúng tôi trở về nhà vào buổi chiều, họ vẫn đang làm việc ở văn phòng. Rồi khi chúng tôi đi ngủ, họ vẫn còn miệt mài làm việc. Họ điều hành công việc tốt và ngay cả khi đã kiếm được kha khá, họ vẫn làm việc liên miên.”
Đó là một cuộc vật lộn đầy nan giải. Cả Walt và Billie đều bị tổn thương, dễ xúc động, chán ghét khi ở bên nhau. Lúc này hay lúc khác sự căng thẳng bùng nổ thành những trận đấu võ mồm. Vào những lúc giận dữ, một trong hai người lại đem viễn cảnh ly dị ra đe dọa lẫn nhau. Sự hiềm thù này bốc khói nhiều hơn cả lửa, Carine nói, nhưng “tôi nghĩ đấy là một trong những lý do khiến Chris và tôi thân thiết với nhau. Chúng tôi học cách dựa vào nhau khi Mẹ và Cha không có mặt ở bên mình.”
Nhưng cũng còn đó những quãng thời gian đẹp. Vào cuối tuần hoặc khi được nghỉ học, gia đình họ lại lên đường đi du lịch: Cả nhà lái xe tới Virginia Beach và bờ biển Carolina, tới Colorado để thăm các con riêng từ cuộc hôn nhân trước của Walt, tới Great Lakes, tới rặng núi Blue Ridge Mountains. “Chúng tôi cắm trại ngay phía sau chiếc xe, chiếc Chevy Suburban,” Walt giải thích. “Sau này chúng tôi mua một chiếc xe móoc Airstream và đi du lịch với chiếc xe đó. Chris rất thích những chuyến đi này, càng xa càng tốt. Trong gia đình đã có sẵn dòng máu phiêu lưu, và ngay từ nhỏ Chris đã thừa hưởng nó.”
Trong các chuyến đi, cả gia đình đã tới thăm Iron Mountain, Michigan, một thị trấn nhỏ khai thác mỏ nằm trong rừng ở vùng Thượng Peninsula, là nơi Billie đã lớn lên. Bà là một trong sáu người con. Loren Johnson, cha của Billie, có công việc chính là lái xe tải, “nhưng ông ấy chẳng bao giờ làm một công việc nào quá lâu,” bà nói.
“Cha của Billie không thực sự phù hợp với xã hội,” Walt giải thích. “Ông và Chris có rất nhiều điểm tương đồng.”
Loren Johnson là người kiêu ngạo và cố chấp và mơ mộng, một thợ mộc, một nhạc công tự học, một thi sĩ. Quanh khu Núi Iron Mountain, mối quan hệ hài hòa của ông với những sinh vật thuộc rừng già là một giai thoại. “Ông ấy luôn chăm sóc thú hoang,” Billie kể lại. “Ba tôi tìm thấy những con thú bị đánh bẫy, mang chúng về nhà, trị thương, rồi thả chúng đi. Một lần ba tôi cán phải một con hươu mẹ, và khiến con hươu con mồ côi. Ông ấy cũng bị thương. Nhưng ba tôi vẫn mang con hươu con về nhà và nuôi nó ở trong nhà, phía sau xưởng gỗ, xem nó như con vậy.”
Để nuôi sống gia đình, Loren cố gắng thử nghiệm các kiểu kinh doanh, nhưng không có lần nào thành công. Ông nuôi gà, rồi chồn vizon và sóc sinsin. Ông mở một trại ngựa và cung cấp dịch vụ cưỡi ngựa cho du khách. Phần lớn đồ ăn trên bàn là từ các cuộc đi săn của ông — dù cho giết thú vật khiến ông cảm thấy rất khó chịu. “Lần nào bắn hươu cũng khiến ba tôi bật khóc,” Billie nhớ lại, “nhưng chúng tôi phải ăn, nên ông ấy không còn lựa chọn nào khác.”
Ông ấy cũng làm việc như một hướng dẫn đi săn, mà càng khiến ông đau khổ hơn. “Những người đàn ông đến từ thành phố trong chiếc Cadillacs lớn của họ, và ba tôi đưa họ tới khu vực cắm trại của thợ săn trong một tuần liền. Ông sẽ thu của họ một đồng trước khi bắt đầu, nhưng hầu hết bọn họ đều là những tay súng kém cỏi và say khướt nên chẳng ngắm trúng thứ gì cả, nên rốt cuộc ông ấy toàn phải bắn lũ hươu cho họ. Có Chúa chứng giám, ông ấy căm ghét chuyện ấy.”
Loren, không có gì đáng ngạc nhiên, bị Chris hấp dẫn. Và Chris thì ngưỡng mộ ông ngoại mình. Lương tri của người đàn ông già giữa vùng rừng núi xa xôi hẻo lánh, sự đồng cảm của ông với thiên nhiên hoang dã, đã gây nên một ấn tượng sâu đậm nơi cậu bé.
Khi Chris lên tám tuổi, Walt đưa cậu đi chuyến dã ngoại qua đêm đầu tiên, một cuộc leo núi kéo dài ba ngày ở ngọn Old Rag thuộc Shenandoah. Họ đã lên tới đỉnh, và Chris tự mình mang hành lý của cậu trên suốt quãng đường. Leo núi trở thành một thứ truyền thống giữa hai cha cho; và họ leo ngọn núi Old Rag mỗi năm kể từ đó.
Khi Chris lớn hơn một chút, Walt đưa Billie và các con từ hai cuộc hôn nhân của mình leo đỉnh Longs Peak ở Colorado — độ cao 14,256 feet, đỉnh núi cao nhất thuộc Công viên quốc gia Rocky Mountain. Walt, Chris, và cậu con trai nhỏ nhất của Walt từ cuộc hôn nhân trước leo được đến độ cao 13,000 feet. Ở đó, tại một khe núi nhô ra có tên Keyhole, Walt quyết định trở xuống. Ông lúc này đã thấm mệt và cảm thấy đang bị chứng chóng mặt do độ cao. Con đường phía trên có vẻ gập ghềnh, khó xoay xở, và nguy hiểm. “Tôi đã thấy thế là quá đủ,” Walt giải thích, “nhưng Chris vẫn muốn tiếp tục leo lên tới đỉnh. Tôi bảo thằng bé là không thể được. Khi ấy nó mới có mười hai tuổi, nên tất cả những gì nó có thể làm là không ngừng ca thán. Nếu như khi ấy nó ở tuổi mười bốn hay mười lăm, thì nó sẽ vẫn đi tiếp và bỏ mặc tôi.”
Walt trở nên im lặng, nhìn mông lung. “Chris không hề sợ hãi ngay cả khi nó còn nhỏ,” ông nói sau một hồi im lặng. “Nó không nghĩ rằng bản thân nó kỳ lạ. Chúng tôi luôn cố gắng kéo thằng bé trở về với giới hạn.”
Chris là người có thành tích cao trước mọi việc mà thu hút sự chú ý của cậu. Khi đi học cậu mang về nhà điểm A mà không gặp khó khăn gì. Chỉ có một lần duy nhất cậu nhận được điểm kém hơn điểm B: một điểm F, trong môn vật lý. Khi nhìn thấy bảng điểm, Walt hẹn gặp ngay giáo viên môn vật lý để tìm hiểu nguyên nhân. “Ông giáo là một đại tá không quân về hưu,” Walt nhớ lại, “một người lớn tuổi, cổ hủ, và khá khắt khe. Ông giải thích rằng ngay từ đầu học kỳ rằng bởi vì ông ấy có tới khoảng hai trăm học sinh, nên báo cáo thí nghiệm cần phải được lập theo mẫu để dễ dàng chấm điểm. Chris thì cho rằng đó là một quy định ngớ ngẩn và quyết định bỏ qua nó. Thằng bé làm báo cáo, nhưng không theo đúng mẫu, nên ông giáo cho nó một điểm F. Sau khi nói chuyện với giáo viên, tôi về nhà và bảo với Chris rằng thằng bé đáng bị như thế.”
Cả Chris và Carine đều thừa hưởng năng khiếu âm nhạc của Walt. Chris học chơi guitar, piano, kèn Pháp. “Hơi lạ khi thấy một đứa trẻ ở tuổi đó,” Walt nói, “mà lại mê Tony Bennett. Thằng bé thường hát một số ca khúc như ‘Đêm diệu huyền’ trong khi tôi đệm đàn piano. Thằng bé rất khá.” Quả thực, trong một đoạn video ngốc nghếch mà Chris thực hiện khi còn ở trường đại học, có thể nghe tiếng cậu gõ nhịp bằng cái thắt lưng giai điệu “Mùa hè trên biển cả/Những chiếc du thuyền ở Capri” với điệu bộ đầy ấn tượng, giọng hát ngâm nga như một ca sĩ phòng trà chuyên nghiệp.
Là một tay chơi kèn Pháp đầy tài năng, khi còn ở tuổi vị thành niên cậu từng là thành viên của Dàn nhạc Giao Hưởng Đại học Mỹ nhưng cậu bỏ ngang, theo như lời Walt kể, sau khi phản đối các quy định được đặt ra bởi một trưởng nhóm nhạc cũng đang học trung học. Carine kể lại rằng sự việc không đơn giản như thế: “Anh ấy ngừng chơi một phần bởi vì anh ấy không thích bị bảo phải làm thế này hay thế kia nhưng anh ý bỏ dàn nhạc cũng vì tôi. Tôi muốn được giống như Chris, nên tôi cũng bắt đầu tập chơi kèn Pháp. Và nó cho thấy đấy là thứ duy nhất mà tôi giỏi hơn anh ấy. Khi tôi học năm đầu và anh ấy học năm ba, tôi dành được vị trí đầu tiên trong ban nhạc của trường trung học, và chẳng đời nào anh ấy lại chịu ngồi sau đứa em gái chết tiệt cả.”
Tuy vậy, sự cạnh tranh trong âm nhạc có vẻ như không gây tổn hại tới quan hệ giữa Chris và Carine. Họ đã trở thành những người bạn thân thiết nhất của nhau kể từ khi còn rất nhỏ, dành hàng giờ để cùng xây các pháo đài từ những tấm ga trải giường và chăn ở trong căn phòng khách tại ngôi nhà ở Annandale của họ. “Anh ấy luôn đối xử với tôi dịu dàng,” Carine kể, “và luôn bảo vệ tôi. Lúc nào anh cũng nắm tay tôi khi chúng tôi xuống phố. Khi anh ấy học cấp hai còn tôi vẫn học tiểu học, anh tôi được tan học sớm hơn tôi, nhưng anh ấy cứ la cà ở nhà một người bạn tên Brian Paskowitz để đợi tôi cùng về.”
Chris thừa hưởng những nét giống như thiên thần của Billie, đặc biệt là đôi mắt của bà, đôi mắt sâu màu đen mà tiết lộ mọi thứ cảm xúc bên trong cậu. Dù cho cậu nhỏ con — trong các bức ảnh chụp chung với các bạn cùng học cậu luôn đứng ở hàng đầu, và là cậu nhóc thấp nhất lớp — Chris rất khỏe mạnh và dẻo dai. Cậu từng thử sức ở rất nhiều môn thể thao nhưng có rất ít kiên nhẫn để trở nên thành thục ở bất kỳ môn nào. Khi cậu đi trượt tuyết cùng gia đình trong kỳ nghỉ ở Colorado, cậu hiếm khi buồn vặn người; cậu chỉ đơn giản chui vào tư thế của một con khỉ đột, giang rộng chân để giữ thăng bằng, khi ván trượt băng xuống triền dốc. Cũng như vậy, Walt kể, “khi tôi cố dạy thằng bé chơi golf, nó chỉ lập đi lập lại một động tác duy nhất. Chris làm cử chỉ vung gậy rộng nhất mà anh có thể trông thấy được, lần nào cũng vậy. Thỉnh thoảng nó đánh bóng đi xa tận ba trăm yarrd, nhưng thường thì quả bóng chỉ bay sang đường lăn bóng bên cạnh.”
“Chris có rất nhiều tài năng thiên phú,” Walt tiếp tục, “nhưng nếu anh cố gắng huấn luyện nó, mài dũa kỹ năng cho nó, để hoàn thiện nốt mười phần trăm còn thiếu sót, thì một bức tường xuất hiện. Nó chối bỏ sự hướng dẫn dưới bất kỳ hình thức nào. Tôi là một người chơi quần vợt nghiêm túc, và tôi dạy Chris chơi khi nó mười một tuổi. Khi nó mười lăm hay mười sáu tuổi, thằng bé đã có thể thắng được tôi. Nó rất, rất nhanh và mạnh; nhưng khi tôi chỉ ra những điểm mà thằng bé có thể hoàn thiện thì nó lại từ chối lắng nghe. Có một mùa giải thằng bé đấu lại một người đàn ông bốn mươi nhăm tuổi có nhiều kinh nghiệm chơi. Chris thắng nhiều điểm ngay khi trận đấu mới bắt đầu, nhưng đối thủ của nó mới chỉ đang thăm dò mà thôi, để tìm ra nhược điểm của nó. Ngay khi ông ta phát hiện ra cú đánh nào gây ra khó khăn cho Chris nhất, thì Chris chỉ toàn gặp phải các cú đánh như vậy, và thế là xong.”
Sắc thái, chiến lược, và bất cứ thứ gì nằm ngoài các kỹ thuật sơ đẳng đều là thừa thãi đối với Chris. Cách duy nhất mà cậu quan tâm khi xử trí một thách thức là đối diện trực tiếp, ngay lập tức, áp dụng toàn bộ sức mạnh của năng lượng tràn trề có trong cậu. Và cậu thường phải gánh lấy nỗi thất vọng. Không như vậy cho tới khi cậu bắt đầu chạy bộ, một hoạt động mang tới ý chí và sự quyết tâm hơn là vẻ đẹp và sự quyến rũ bề ngoài, mà cậu tìm thấy mong muốn trong hoạt động thể chất. Ở tuổi lên mười, cậu tham gia cuộc thi chạy đầu tiên, một cuộc chạy dài mười km. Cậu cán đích ở vị trí số sáu mươi chín, đánh bại hàng nghìn những người lớn khác, và bị cuốn vào bộ môn này. Khi ở vào độ tuổi vị thành niên, cậu là một trong những vận động viên chạy hàng đầu của khu vực.
Khi Chris mười hai tuổi, Walt và Billie mua cho Carine một con chó chăn cừu dòng Shetland được đặt tên Buckley, và Chris hình thành thói quen dẫn con chó cùng đi chạy bộ với mình. “Buckley là con chó của tôi,” Carine kể lại, “nhưng nó với Chris lại trở thành đôi bạn thân thiết. Buck rất nhanh nhẹn, và nó luôn thắng Chris trên đường chạy về nhà. Tôi vẫn còn nhớ lần đầu tiên chiến thắng Buckley anh ấy đã vui mừng nhường nào. Anh ấy chạy khắp nhà mà hét ‘Con thắng Buck! Con thắng Buck!’”
Ở trường Trung học W. T. Woodson — một trường công lớn ở khu vực Fairfax, Virginia, với sự nổi tiếng về tiêu chuẩn học đường cao và các chiến thắng của các đội thể thao — Chris là đội trưởng của đội thể thao toàn nước (các trường trong cả nước). Cậu thưởng thức vai trò và pha chế thêm những điểm mới lạ, với các chế độ huấn luyện mệt lử mà đến giờ đồng đội của cậu vẫn còn nhớ rõ.
“Anh ấy thực sự gây sức ép cho chính mình,” Gordy Cucullu giải thích, một thành viên trẻ hơn trong đội của cậu. “Chris sáng tạo ra chương trình tập luyện gọi là Chiến binh Đường phố: Anh ấy sẽ dẫn chúng tôi đến những đường chạy dài giết người như các nông trang và công trình xây dựng, những nơi mà chúng tôi không được phép lui tới, và cố ý làm cho chúng tôi bị lạc. Chúng tôi sẽ phải chạy nhanh và xa nhất có thể, xuống những con đường lạ, qua rừng cây, bất cứ đâu. Ý tưởng cho toàn bộ chuyện này là để đánh gục sức chịu đựng của chúng tôi, để đẩy chúng tôi tới một giới hạn chưa được biết tới. Rồi chúng tôi sẽ chạy với một tốc độ chậm hơn cho tới khi chúng tôi tìm thấy con đường mà chúng tôi biết và chạy về nhà bằng hết tốc lực. Thực ra thì đấy cũng chính là cách mà Chris đã sống trong đời.”
McCandless nhìn nhận việc chạy bộ như một hoạt động rèn luyện tinh thần, gần như là tôn giáo. “Chris sẽ sử dụng khía cạnh tinh thần để cố tạo động lực cho chúng tôi,” Eric Hathaway nhớ lại, một người bạn khác ở trong đội. “Cậu ấy sẽ bảo chúng tôi hãy nghĩ về tất cả những điều xấu xa trên thế gian này, tất cả những sự căm ghét, và tưởng tượng rằng chúng tôi đang chạy để chống lại thế lực của bóng tối, bức tường xấu xa đang cố đẩy chúng tôi chạy khỏi những điều tốt đẹp nhất trong mình. Cậu ấy tin rằng biểu hiện xuất sắc chỉ là vấn đề tinh thần, một vấn đề đơn giản của sự chuyên cần ở mọi mức độ năng lượng. Là những đứa trẻ trung học dễ bị tác động, chúng tôi chết mê lối nói chuyện kiểu ấy.”
Nhưng chạy bộ không hoàn toàn là vấn đề tinh thần; nó cũng là vấn đề của tính cạnh tranh nữa. Khi McCandless chạy, thì cậu ta chạy để giành chiến thắng. “Chris cực kỳ nghiêm túc trong chuyện chạy bộ,” Kris Maxie Gillmer nói, một đồng đội nữ của McCandless mà rất có thể cũng là bạn thân nhất của cậu ở Woodson. “Tôi vẫn còn nhớ lúc đứng ở vạch đích, nhìn cậu ấy chạy, biết rõ cậu ấy muốn thể hiện tốt như thế nào và cậu ấy sẽ thất vọng ra sao nếu không được như kỳ vọng. Sau một cuộc đua không thành công hay ngay cả một lần đua thử không thành công lúc luyện tập, thì cậu ấy cũng sẽ bực tức chính mình. Và cậu ấy không thích nói về chuyện ấy. Nếu tôi cố an ủi, thì cậu sẽ làm như đang bị làm phiền và khiến tôi im miệng. Cậu ấy hấp thụ nỗi thất vọng. Những khi ấy cậu ấy sẽ bỏ đi đâu đó một mình và tự sỉ vả mình.”
“Mà không chỉ có việc chạy mới khiến Chris có thái độ nghiêm túc thôi đâu,” Gillmer thêm vào. “Với bất kỳ chuyện gì cậu ấy cũng giữ một thái độ ấy. Thường thì chẳng có ai lại bận tâm đến những vấn đề to tát khi còn học trung học cả. Nhưng tôi là như thế, và cả cậu ấy nữa, cũng vậy, đấy là lý do vì sao mà cậu ấy hành động như thế. Chúng tôi thường tụ tập ở tủ đồ của cậu ấy mỗi lúc nghỉ giải lao giữa giờ và nói về cuộc đời, về tình trạng của thế giới này, toàn những chuyện nghiêm chỉnh cả. Tôi là người da đen, và tôi không bao giờ có thể hiểu nổi tại sao con người ta lại quan tâm nhiều đến thế về vấn đề chủng tộc. Chris sẽ nói chuyện với tôi về những thứ như vậy. Cậu ấy hiểu. Cậu ấy cũng luôn đặt ra câu hỏi về những vấn đề kiểu ấy. Tôi rất thích cậu ấy. Thực sự cậu ấy là một con người rất tốt.”
McCandless rất để tâm tới sự bất công trong đời sống. Trong suốt năm cuối cấp ở trường Woodson, cậu bị ám ảnh bởi sự đàn áp chủng tộc ở Nam Phi. Cậu nói chuyện một cách nghiêm túc với những người bạn của mình về việc buôn lậu vũ khí vào đất nước đó và mong muốn tiếp nối cuộc đấu tranh để kết thúc nạn phân biệt chủng tộc ở Nam Phi. “Chúng tôi tranh luận về vấn đề đó ít nhất một lần,” Hathaway nhớ lại. “Chris không thích đi qua các kênh, theo một hệ thống, chờ đến lượt mình. Cậu ấy nói, ‘Thôi nào, Eric, bọn mình có thể quyên đủ tiền để tự đi Nam Phi ngay bây giờ. Vấn đề chỉ nằm ở chỗ ra quyết định thôi.’ Tôi sẽ chống đối lại bằng cách nói rằng chúng tôi chỉ là mấy thằng nhãi ranh, và rằng chúng tôi chẳng thể làm nên điều gì khác biệt cả. Nhưng anh không thể tranh luận nổi với cậu ấy. Cậu ấy sẽ tiến tới với lý lẽ kiểu như ‘Ô, thế thì tao nghĩ mày cũng chẳng quan tâm gì tới đúng hay sai đâu nhỉ.’”
Vào những dịp cuối tuần, khi các bạn học trng học khác tham gia những sự kiện kiểu như “keggers” và cố lọt vào các quán bar ở Georgetown, thì McCandless lại lang thang khắp khu ngoại ô bẩn thỉu của Washington, chuyện trò với gái bán hoa và những người vô gia cư, mua cho họ thức ăn, thành thật đề nghị các cách thức mà họ có thể cải thiện cuộc sống.
“Chris không thể hiểu nổi tại sao con người ta lại bị bỏ đói, đặc biệt là ở đất nước này,” Billie giải thích. “Nó có thể nói say sưa về những việc như vậy trong hàng giờ.”
Vào một lần Chris tìm thấy một người vô gia cư từ đường phố của D.C., đưa ông ta về ngôi nhà giàu có của gia đình cậu ở Annandale, và bí mật để cho người đàn ông này sống trong chiếc xe moóc Airstream mà cha mẹ cậu đỗ bên cạnh garage. Walt và Billie không hề biết rằng họ đang cho một người lang thang ở nhờ.
Và một lần khác Chris lái xe đến nhà Hathaway và tuyên bố rằng họ sẽ đi xuống phố. “Tuyệt!” Hathaway nhớ lại suy nghĩ của mình lúc ấy. “Đó là vào tối thứ Sáu, và tôi cứ tưởng rằng chúng tôi sẽ vào trung tâm Georgetown để tiệc tùng. Thay vì thế, Chris đỗ xe ở Đường 14, mà vào lúc đó là một khu vực rất phức tạp của thành phố. Rồi cậu ấy bảo, ‘Mày biết không, Eric, mày có thể đã đọc về mấy thứ này, nhưng mày sẽ chẳng hiểu ra vấn đề trừ khi thật sự trải qua nó. Đấy là chương trình tối nay của bọn mình.’ Chúng tôi dành suốt cả mấy giờ tiếp theo để lang thang ở những nơi đáng sợ, nói chuyện với đám ma cô và giới hạ lưu. Lúc ấy tôi, ờ, phát khiếp lên được.”
“Vào cuối buổi tối, Chris hỏi tôi trong người có bao nhiêu tiền. Tôi trả lời là năm dollar. Nó có mười. ‘OK, mày mua xăng nhé,’ nó bảo tôi; ‘Tao đi mua ít thức ăn.’ Rồi nó dùng mười dollar mua cả một túi bánh hamburgers lớn, và rồi chúng tôi lái vòng vòng và chia chúng cho những con người bốc mùi hôi hám nằm ngủ bên lò sưởi hoặc những bìa cát ton. Đó là đêm thứ Sáu lạ lùng nhất trong đời tôi. Nhưng Chris thì làm việc ấy thường xuyên lắm.”
Vào đầu năm học cuối ở trường Woodson, Chris tuyên bố với cha mẹ cậu rằng cậu không định vào học đại học. Khi Walt và Billie gợi ý rằng cậu cần phải có một chứng chỉ đại học để theo đuổi một sự nghiệp nào đó, Chris trả lời họ rằng sự nghiệp là sự làm mất giá trị “đầu tư trong thế kỷ hai mươi,” là một món nợ hơn là một tài sản, và rằng cậu ta có thể xoay xở ổn thỏa mà không cần tới nó, xin cảm ơn.
“Điều ấy khiến chúng tôi hơi lo lắng,” Walt thừa nhận. “Cả Billie và tôi đều xuất thân từ những gia đình lao động nghèo. Một tấm bằng đại học là thứ mà chúng tôi không dễ dàng có được, OK, và ngay cả chúng tôi cũng phải cật lực làm việc để trang trải cho mấy đứa trẻ đi học. Nên Billie bảo thằng bé ngồi xuống và nói rằng, ‘Chris này, nếu như mà con thực sự muốn tạo nên một sự khác biệt cho thế giới này, nếu như con thực tâm muốn giúp đỡ những người kém may mắn hơn, thì bản thân con phải là đòn bẩy trước đã. Con hãy đi học đại học, hãy kiếm lấy một cái bằng luật, và rồi con có thể tạo nên những tác động thực sự.’”
“Chris mang về nhà điểm tốt,” Hathaway kể lại. “Nó không dính vào rắc rối, nó là người có đòi hỏi cao, nó làm những gì mà nó muốn. Bố mẹ nó thực sự chẳng có gì để mà phàn nàn. Nhưng họ vướng phải chuyện đi học đại học của nó; và dù họ đã nói gì với nó, thì cũng đã hiệu quả. Vì cuối cùng thì Chris cũng đi học đại học ở Emory, cho dù nó nghĩ đấy là một việc vô nghĩa, lãng phí thời gian và tiền bạc.”
Có đôi chút ngạc nhiên về việc Chris nghe theo Walt và Billie về việc tham dự đại học trong khi cậu từ chối lắng nghe lời họ về nhiều điều khác. Nhưng đó không phải là một giai đoạn ngắn ngủi về thứ mâu thuẫn hiển nhiên trong mối quan hệ giữa Chris và cha mẹ mình. Khi Chris ghé thăm Kris Gillmer, cậu thường kêu ca về Walt và Billie, mô tả họ như thể những kẻ bạo ngược vô lý. Và những cậu bạn thân thiết của cậu — Hathaway, Cucullu, và một siêu sao đường đua khác, Andy Horowitz — phát sợ với những lời phàn nàn kiểu đấy. “Bản thân tôi nhận thấy bố mẹ nó là những người rất dễ mến,” Hathaway nhận xét, “thực sự là, chẳng có gì khác so với bố mẹ tôi hay bất kỳ vị phụ huynh nào. Chris chỉ không muốn bị bảo cần phải làm gì. Tôi nghĩ nó sẽ chẳng thấy hạnh phúc với bất kỳ ông bố bà mẹ nào cả; nó có vấn đề về khái niệm phụ huynh.”
Tính cách của McCandless gây nên sự bối rối bởi sự phức tạp của nó. Cậu ta rất hướng nội nhưng cũng có thể thích tiệc tùng và đàn đúm. Và mặc cho cái lương tâm xã hội hơi bị quá đà của mình, cậu không bao giờ kiềm chế cảm xúc của mình, thường xuyên nhẫn tâm chế nhạo những nhà cải cách lương tâm nghiêm túc. Trái lại, cậu thích thú việc nâng cốc lúc này hay lúc khác và có tính cường điệu không thể sửa được.
Có thể nghịch lý lớn nhất mà làm cậu bận tâm chính là tiền bạc. Walt và Billie đều nếm trải sự nghèo khổ khi họ còn trẻ và sau khi vật lộn để vươn lên thì họ thấy không có gì sai lầm trong việc tận hưởng thành quả của sự lao động. “Chúng tôi đã làm việc rất, rất vất vả,” Billie nhấn mạnh. “Chúng tôi làm việc khi bọn trẻ còn rất nhỏ, tiết kiệm từng đồng thu nhập, và đầu tư cho tương lai.” Khi mà tương lai cuối cùng cũng đến, họ không thể hiện sự giàu có của mình một cách khiêm tốn, mà họ mua quần áo đẹp, đồ trang sức cho Billie, một chiếc Cadillac cho Walt. Hơn thế nữa, họ còn bỏ tiền ra mua một ngôi nhà bên vịnh và một chiếc thuyền buồm. Họ đưa bọn trẻ đến châu Âu, trượt tuyết ở Breckenridge, và đi du thuyền ở Caribbean. Và Chris, Billie nhận thấy, “xấu hổ về tất cả những điều này.”
Con trai họ, một cậu thiếu niên sùng bái Tolstoy, tin rằng giàu có là sự nhục nhã, đồi bại, vốn đã xấu xa — điều vô cùng đáng mỉa mai bởi vì Chris là một nhà tư bản thiên bẩm với sở trường phi thường trong việc kiếm tiền. “Chris luôn luôn là một nhà kinh doanh,” Billie bật cười. “Luôn luôn.”
Khi mới lên tám tuổi, cậu ta trồng rau đằng sau ngôi nhà ở Annandale và gõ từng nhà trong khu dân cư để bán sản phẩm của mình. “Đấy là cậu nhỏ dễ thương kéo theo chiếc sọt chất đầy đậu tươi và cà chua và tiêu,” Carine hồi tưởng.
“Liệu ai có thể từ chối được cơ chứ? Và Chris biết rõ điều đó. Anh ấy có cái gương mặt kiểu như ‘Tôi siêu dễ thương này! Các vị muốn mua đậu không?’ Khi quay về nhà, cái sọt của anh ấy lúc nào cũng hết nhẵn, và tay thì cầm cả đống tiền.”
Khi Chris mười hai tuổi, cậu in hàng chồng giấy flyer và bắt đầu kinh doanh dịch vụ copy ở khu dân cư, Chris’s Fast Copies, hỗ trợ giao và nhận hàng miễn phí. Sử dụng chiếc máy photocopy trong văn phòng làm việc của Walt và Billie, cậu trả cho cha mẹ mình vài cent cho mối bản copy, thu tiền của khách hàng ít hơn hai cent so với cửa hàng nơi góc phố, và thu được một ít lợi nhuận.
Năm 1985, sau năm đầu tiên ở trường Woodson, Chris được thuê bởi một nhà xây dựng địa phương để vận động bán hàng trong khu vực xóm giềng, với những công việc về lợp gỗ ván ngoài và tái thiết kế gian bếp. Và cậu ta thành công một cách đáng kinh ngạc, một nhân viên kinh doanh không có bạn đồng hành. Chỉ trong vòng vài tháng, có đến nửa ta các học sinh khác làm việc dưới quyền cậu, và cậu dành được đến bảy nghìn dollar trong tài khoản ngân hàng. Cậu dùng một phần tiền để mua chiếc Datsun vàng, một chiếc xe đã qua sử dụng thuộc dòng B210.
Chris có tài năng bán hàng nổi bật như thế nên vào mùa xuân năm 1986, khi lễ tốt nghiệp trung học của Chris đến gần, người chủ của công ty xây dựng đã gọi điện cho Walt và đề nghị sẽ trang trải chi phí học đại học cho Chris nếu như Walt thuyết phục con trai mình ở lại Annandale và tiếp tục làm việc cho công ty ông ta trong khi đi học thay vì bỏ công việc này và tới học ở Emory.
“Khi tôi chuyển lời đề nghị tới Chris,” Walt kể, “nó không buồn cân nhắc đến. Nó bảo với ông chủ của mình rằng nó đã có kế hoạch khác.” Ngay sau khi việc học trung học kết thúc, Chris tuyên bố, rằng cậu sẽ đi rong ruổi với chiếc xe mới và dành cả mùa hè để đi dọc đất nước. Không một ai biết trước được rằng chuyến đi này sẽ là khởi đầu cho một loạt các chuyến phiêu lưu xuyên đại lục về sau này. Và cũng chẳng một ai trong gia đình nhìn thấy trước cái cơ hội khám phá trong chuyến đi đầu tiên này sẽ hoàn toàn biến đổi cậu thành một người hướng nội và xa cách, lôi kéo Chris và những người yêu thương cậu vào một bãi lầy của sự giận dữ, hiểu lầm và bất hạnh.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: