EXTREMELY LOUD & INCREDIBLY CLOSE (32)

Ảnh

ĐẸP VÀ THẬT

Mẹ làm món mì ống cho bữa tối hôm đó. Chú Ron cùng ăn với chúng tôi. Tôi hỏi chú ấy có còn muốn mua tặng tôi một bộ năm trống cùng với cái chũm chọe Zildjian không. Chú Ron nói, “Có chứ. Chú thấy đấy là một ý tưởng tuyệt vời.” “Thế còn cái chũm chọe đôi thì sao ạ?” “Chú không biết về cái đó, nhưng chú nghĩ chúng ta có thể dàn xếp ổn thỏa được.” Tôi hỏi chú ấy tại sao lại không dành thời gian ở bên gia đình mình. Mẹ lên tiếng, “Oskar!” Tôi nói, “Sao ạ?” Chú Ron đặt dao và nĩa xuống và nói, “Không sao đâu.” Chú nói tiếp, “Chú từng có một gia đình, Oskar ạ. Chú có một vợ và con gái.” “Chú li dị à?” Chú ấy bật cười và nói, “Không.” “Thế họ đâu rồi ạ?” Mẹ nhìn chằm chằm xuống cái đĩa của mình. Chú Ron trả lời, “Họ bị tai nạn.” “Tai nạn gì?” “Tai nạn ô tô.” “Cháu không biết chuyện ấy.” “Mẹ cháu và chú gặp nhau khi cùng tham gia nhóm điều trị dành cho những người mất người thân. Và bọn chú trở thành bạn của nhau.” Tôi không nhìn Mẹ, và Mẹ cũng không nhìn tôi. Tại sao Mẹ lại không kể với tôi rằng Mẹ tham gia vào một hội nào đó chứ?

“Tại sao chú lại không chết trong tai nạn đó?” Mẹ nói, “Đủ rồi đấy, Oskar.” Chú Ron nói, “Chú không ở trên xe lúc đó.” “Tại sao chú không lên xe?” Mẹ nhìn ra ngoài cửa sổ. Chú Ron di ngón tay vòng quanh cái đĩa và nói, “Chú không biết.” “Thật lạ,” tôi nói, “là cháu cháu chưa từng bao giờ thấy chú khóc.” Chú Ron nói, “Lúc nào chú cũng khóc.”

Ba lô tôi đã được xếp đầy đủ đồ nghề, và tôi cũng có các vật dụng khác đâu vào đấy, như là dụng cụ đo độ cao và thanh ngũ cốc và con dao Quân đội Thụy Sĩ mà tôi đã đào được ở Central Park, nên chẳng còn gì khác để làm. Mẹ ôm tôi lúc 9:36.

“Con có muốn mẹ đọc con nghe gì đó không?” “Không ạ, cảm ơn mẹ.” “Con có muốn nói chuyện không?” Nếu Mẹ không định nói gì cả, thì tôi cũng không định nói gì cả, nên tôi lắc đầu. “Mẹ có thể sáng tác truyện cho con nghe.” “Không ạ, cảm ơn mẹ.” “Hoặc là mình có thể tìm lỗi chính tả trong tờ Times?” “Cảm ơn mẹ, nhưng con không muốn.” “Chú Ron đã thật tử tế khi kể chuyện nhà của chú ấy cho con nghe.” “Con nghĩ vậy ạ.” “Con hãy cố gắng đối xử tốt với chú ấy. Chú ấy là một người bạn tốt, và chú ấy cũng cần được giúp đỡ nữa.” “Con mệt rồi.”

Tôi đặt đồng hồ 11:50 tối, dù tôi biết tôi không thể ngủ được.

Khi nằm trên giường, đợi đến giờ, tôi đã tạo ra rất nhiều phát minh.

Tôi phát minh ra một cái ô tô phân hủy sinh học.

Tôi phát minh ra một cuốn sách mà liệt kê mọi từ ngữ trong mọi ngôn ngữ. Nó hẳn là một quyển sách vô cùng hữu ích, nhưng ta không thể mang nổi nó theo mình và biết rằng mọi điều mà ta có thể nói đều nằm trong tay ta.

Thế còn những chiếc điện thoại googolplex thì sao?

Còn cả những cái lưới an toàn ở khắp mọi nơi nữa chứ?

Lúc 11:50 tối, tôi thức dậy thật nhẹ nhàng, lấy các vật dụng của mình từ dưới gầm giường, và mở cửa từng mm một mỗi lần, để không gây ra bất kỳ tiếng động nào. Bart, người gác cửa ban đêm, đang ngủ gật nơi bàn trực, mà điều ấy là cực kỳ may mắn, bởi vì như thế có nghĩa là tôi không phải viện ra bất kỳ lời nói dối nào cả. Vào đúng 12:00, bác Gerald xuất hiện trong chiếc limousine. Bác ấy mở cửa xe cho chúng tôi, và tôi bảo với bác, “Cháu biết là bác sẽ đến đúng giờ.” Bác vỗ vào lưng tôi và nói, “Bác sẽ không đến muộn đâu.” Đó là lần thứ hai của tôi trên một chiếc xe limousine.

Khi xe chạy, tôi tưởng tượng ra rằng chúng tôi vẫn đang đứng yên và thế giới thì dịch chuyển về phía chúng tôi. Người thuê nhà ngồi ở bên của ông ấy trong suốt quãng đường, và không làm gì cả, và tôi nhìn thấy Tòa tháp Trump, mà Ba cho rằng đó là tòa nhà xấu xí nhất trên thế giới, và trụ sở của Ủy ban Liên Hiệp Quốc, mà Ba cho rằng nó vô cùng xinh đẹp. Tôi dịch người gần cửa sổ và thò tay ra ngoài. Tôi giang tay mình như cánh của một cái máy bay. Nếu cánh tay tôi đủ lớn, tôi có thể làm cho chiếc limousine bay lên. Thế còn những chiếc găng tay khổng lồ thì sao nhỉ?

Bác Gerald nhìn tôi qua tấm kính chiếu trên đầu và hỏi chúng tôi có muốn nghe nhạc hay không. Tôi hỏi bác có con cái không. Bác bảo bác có hai đứa con gái. “Họ trông thế nào ạ?” “Trông thế nào á?” “Vâng.” “Để xem nào. Kelly, đứa bé của bác, nhìn như một con búp bê Barbie và thú cưng và chuỗi xuyến hột cườm.” “Cháu sẽ làm vòng tay hột cườm tặng em ấy.” “Bác nghĩ là con bé sẽ thích lắm.” “Còn gì nữa không ạ?” “Nếu như nó mềm và có màu hồng thì con bé còn thích nữa.” “Cháu cũng thích những thứ mềm và hồng ạ.” Bác ấy nói, “Ồ, được rồi.” “Thế còn cô con gái khác của bác thì sao?” “Janet ấy hả? Nó thì thích thể thao. Các môn thể thao. Môn thể thao yêu thích của nó là bóng rổ, và để bác nói cháu nghe, nó chơi cừ lắm. Phải nói là rất cừ ấy.”

“Cả hai có đặc biệt không ạ?” Bác ấy cười khúc khích và nói, “Dĩ nhiên là ba chúng sẽ nói rằng chúng vô cùng đặc biệt rồi.” “Nhưng khách quan thì sao ạ?” “Gì thế?” “Như là, thật ra. Sự thật là.” “Sự thật thì bác là ba chúng nó.”

Tôi lại nhìn ra ngoài cửa sổ. Chúng tôi đi qua phần cầu mà không thuộc về một khu vực nào cả, và tôi quay lại và nhìn các tòa nhà ngày một bé hơn. Tôi đoán cái nút nào dùng để mở nóc xe và tôi đứng lên với phần thân trên nhô ra khỏi xe. Tôi chụp hình các ngôi sao bằng chiếc máy ảnh của Ông nội, và trong đầu tôi kết nối vị trí của chúng lại để tạo thành các từ, bất kỳ từ nào mà tôi muốn. Bất cứ khi nào chúng tôi sắp đi xuống một cây cầu hoặc một đường hầm, bác Gerald lại bảo tôi ngồi lại vào trong xe để tôi không bị đứt đầu, mà tôi hiểu rõ nghĩa nhưng tôi thực sự, thực sự không muốn biết. Trong óc mình tôi hình dung ra từ “giày” và “quán tính” và “bất bại.”

Đồng hồ chỉ 12:56 sáng khi bác Gerald lái xe lên bãi cỏ và mở cánh cửa xe nằm rất gần khu nghĩa trang. Tôi đeo ba lô lên, và người thuê nhà cầm theo xẻng, và chúng tôi trèo lên nóc xe để chúng tôi có thể trèo qua hàng rào.

Bác Gerald thì thầm, “Cháu có chắc là cháu muốn làm việc này không?”

Qua tấm rào chắn tôi bảo với bác, “Không mất hơn hai mươi phút đâu ạ. Có lẽ là ba mươi.” Bác ấy ném qua hàng rào chiếc va li của người thuê nhà và nói, “Bác sẽ đợi ở đây.”

Bởi vì bóng đêm, chúng tôi đi theo ánh sáng phát ra từ chiếc đèn pin tôi cầm trong tay.

Tôi soi đèn pin vào rất nhiều bia mộ, cố gắng tìm ra ngôi mộ của Ba.

Mark Crawford

Diana Strait

Jason Barker, Jr.

Morris Cooper

May Goodman

Helen Stein

Gregory Robertson Judd

John Fielder

Susan Kidd

Tôi tiếp tục nghĩ về việc làm thế nào mà toàn bộ trong số đó đều là tên của người chết, và làm sao mà những cái tên về cơ bản là những gì duy nhất mà người chết còn có thể giữ lại.
Vào lúc 1:22 chúng tôi tìm thấy mộ của Ba.
Người thuê nhà đưa cho tôi cái xẻng.
Tôi nói, “Ông đào trước đi.”
Ông đặt nó vào tay tôi.
Tôi cắm nó xuống mặt đất và ấn toàn bộ trọng lượng của bản thân lên đó. Tôi còn không biết mình nặng bao nhiêu, bởi vì tôi đã quá bận rộn để tìm Ba.
Đấy là một công việc vô cùng mệt nhọc, và tôi chỉ đủ sức để xúc một ít đất mỗi lần. Tay tôi đã mỏi nhừ, nhưng không sao cả, bởi vì chúng tôi chỉ có một xẻng duy nhất, nên chúng tôi có thể thay phiên nhau.
Hai mươi phút trôi qua, và thêm hai mươi phút nữa.
Chúng tôi tiếp tục đào, nhưng chúng tôi chưa đi đến đâu cả.
Hai mươi phút lại trôi qua.
Rồi chiếc đèn kiệt pin, và chúng tôi không nhìn thấy nổi bàn tay mình nữa. Điều đấy không hề nằm trong kế hoạch của chúng tôi, ngay cả việc thay pin nữa, dầu cho hiển nhiên là chúng tôi đáng lý ra phải cân nhắc tới vấn đề. Làm sao mà tôi có thể quên mất điều đơn giản và quan trọng như thế được?
Tôi gọi cho bác Gerald và hỏi liệu bác ấy có thể chạy đi mua vài cục pin cho chúng tôi được không. Bác ấy hỏi mọi chuyện vẫn ổn chứ. Trời tối đến mức rất khó mới nghe được lời bác ấy nói. Tôi trả lời, “Vâng, chúng cháu không sao, chúng cháu chỉ cần vài cục pin thôi.” Bác ấy nói cửa hàng duy nhất mà bác ấy biết ở cách đây những mười lăm phút lái xe. Tôi bảo với bác, “Cháu sẽ trả thêm bác tiền.” Bác ấy bảo, “Đấy không phải là chuyện trả thêm tiền.”
Thật là may mắn, bởi vì chúng tôi đang làm cái việc đào mộ Ba lên, nên chúng tôi không cần phải nhìn thấy tay mình. Chúng tôi chỉ cần cảm thấy cái xẻng đang xúc đất mà thôi.
Cho nên chúng tôi đào bới trong đêm tối và im lặng.
Tôi nghĩ về tất cả những gì nằm dưới mặt đất kia, như là giun, những rễ cây, những xác người, và những kho báu bị chôn vùi.
Chúng tôi đào đất lên.
Tôi băn khoăn về việc có bao nhiêu thứ đã chết đi kể từ khi thứ đầu tiên được sinh ra. Một nghìn triệu? Một googolplex?
Chúng tôi đào đất lên.
Tôi băn khoăn không biết người thuê nhà hiện đang nghĩ gì.
Mất một lúc, điện thoại của tôi bắt đầu đổ chuông bài “The Flight of the Bumblebee,” nên tôi nhìn vào số điện thoại gọi đến. “Bác Gerald.” “Bác mua được rồi.” “Bác có thể mang vào đây cho cháu được không để chúng cháu không mất thời gian chạy ra xe?” Bác ấy không nói gì cả trong vài giây. “Bác nghĩ là có.” Tôi không thể tả được cho bác ấy nghe chúng tôi đang đứng ở đâu, nên tôi cứ tiếp tục gọi tên bác ấy, và bác ấy tìm thấy được chỗ tôi đứng.
Tôi cảm thấy tốt hơn nhiều khi có thể nhìn thấy xung quanh. Bác Gerald nói, “Có vẻ như hai người không tiến được xa lắm.” Tôi bảo bác ấy, “Chúng cháu không phải là người đào đất chuyên nghiệp.” Bác ấy nhét chiếc găng tay lái xe vào túi áo, hôn lên cây thánh giá mà bác ấy đeo trên cổ, và lấy cái xẻng trong tay tôi. Bởi vì bác ấy rất khỏe, nên bác có thể xúc rất nhiều đất một cách nhanh chóng.
Vào 2:56 chiếc xẻng chạm vào nắp quan tài. Tất cả chúng tôi đều nghe thấy âm thanh ấy và chúng tôi nhìn nhau.
Tôi cảm ơn bác Gerald.
Bác ấy nháy mắt với tôi, và rồi bắt đầu đi về chỗ chiếc ô tô, và rồi biến mất trong bóng đêm. “Ô này,” tôi nghe thấy tiếng bác ấy, cho dù tôi không thể tìm ra bác ấy bằng chiếc đèn pin của mình, “Janet, đứa lớn của bác ấy mà, nó rất thích thức ăn làm từ hạt ngũ cốc. Nó ăn được cái thứ ấy ba bữa mỗi ngày nếu như mà các bác cho phép.”
Tôi trả lời, “Cháu cũng thích nữa.”
Bác ấy nói, “Được rồi,” và tiếng bước chân của bác ngày một nhỏ dần.
Tôi hạ người xuống cái hố và dùng chổi sơn để phủi đi số bụi đất còn lại.
Một điều làm tôi ngạc nhiên là cỗ quan tài thật ướt. Tôi đoán là tôi không kỳ vọng điều này, bởi vì làm sao mà nhiều nước lại chảy xuống mặt đất đến thế?
Một điều khác làm tôi ngạc nhiên là cỗ quan tài bị nứt ở một vài chỗ, và có thể là bởi sức nặng của của tất cả đám đất cát này. Nếu như Ba ở trong đó, kiến và sâu bọ sẽ chui vào qua những vết nứt kia và ngấu nghiến Ba, hay ít nhất các siêu vi khuẩn cũng làm điều đó. Tôi biết điều này không thể là vấn đề, bởi vì một khi ta chết đi, ta sẽ chẳng cảm thấy được điều gì hết. Vậy thì tại sao nó lại có cảm giác như nó thực là một vấn đề?
Một điều khác làm cho tôi ngạc nhiên là làm sao mà chiếc quan tài lại không được khóa hoặc ngay cả cài chốt lại. Cái nắp chỉ được đậy lên trên, nên bất kì ai muốn cũng có thể mở được nó ra. Điều này thì không ổn chút nào. Nhưng mặt khác, có ai mà lại muốn mở một cỗ quan tài ra cơ chứ?
Tôi mở cỗ quan tài ra.
Tôi lại ngạc nhiên lần nữa, cho dù một lần nữa tôi không nên như vậy. Tôi ngạc nhiên rằng Ba không có ở đó. Trong đầu mình tôi biết Ba không có đó, dĩ nhiên là vậy, nhưng tôi đoán là trái tim tôi lại tin vào điều khác. Hoặc có thể tôi thấy ngạc nhiên bởi làm sao nó lại hoàn toàn trống rỗng đến thế. Tôi cảm thấy như tôi đang nhìn vào định nghĩa của từ trống rỗng trong từ điển vậy.
Tôi có ý tưởng đào chiếc quan tài của Ba lên vào tối tôi gặp người thuê nhà. Tôi nằm trên giường và có một phát hiện, như một giải pháp đơn giản cho một vấn đề không tưởng. Buổi sáng ngày hôm sau tôi quăng những viên sỏi lên khung cửa sổ của căn phòng dành cho khách, như những gì mà ông ấy dặn tôi trong cuốn sổ, nhưng thực ra tôi không giỏi ném sỏi cho lắm, nên tôi nhờ bác Walt làm điều ấy thay tôi. Khi người thuê nhà xuống gặp tôi nơi góc phố tôi kể cho ông ấy nghe ý định của mình.
Ông ấy viết, “Tại sao con lại muốn làm như vậy?” Tôi trả lời ông, “Bởi vì đấy là sự thật, và ba thì yêu sự thật.” “Sự thật nào?” “Rằng ba đã chết.”
Rồi sau đó, chúng tôi gặp nhau vào mỗi buổi chiều và trao đổi về các chi tiết, như thể chúng đang kiến tạo một cuộc chiến. Chúng tôi nói về việc làm sao chúng tôi đến được nghĩa trang, và các cách khác nhau để vượt qua hàng rào, và ở nơi nào mà chúng tôi sẽ tìm được xẻng và quốc, và cả những trang thiết bị cần thiết khác nữa, như là đèn pin và kéo cắt kim loại và các hộp nước quả. Chúng tôi lên kế hoạch và lập kế hoạch, nhưng vì một lý do nào đó mà chúng tôi không bao giờ nói về việc chúng tôi sẽ làm gì khi đã lật lên nắp quan tài.
Chỉ cho tới ngày trước khi chúng tôi tới đó thì người thuê nhà mới đặt ra câu hỏi hiển nhiên.
Tôi bảo ông, “Chúng ta sẽ lấp đầy nó, dĩ nhiên rồi ạ.”
Rồi ông hỏi thêm một câu hỏi hiển nhiên nữa.
Lúc ban đầu tôi đề nghị sẽ lấp đầy cố quan tài với những thứ thuộc về cuộc đời Ba, như cây bút mực đỏ hay chiếc kính phóng đại dùng cho việc chế tác kim cương, mà vẫn được gọi là kính lúp, hoặc cả bộ lễ phục của Ba nữa. Tôi nghĩ tôi có được ý tưởng ấy từ ông bà Black – những người mà lập nên các bảo tàng về cuộc đời nhau. Nhưng khi chúng tôi trao đổi thêm, thì ý tưởng ấy càng trở nên vô nghĩa, bởi vì điều ấy liệu có ích lợi gì? Ba cũng chẳng thể nào dùng tới chúng được nữa, bởi vì Ba đã mất, và người thuê nhà cũng chỉ ra rằng việc giữ lại những đồ dùng của Ba không phải là một ý tồi.
“Cháu có thể lấp đầy cỗ quan tài với những món trang sức, như là người ta vẫn thường làm với những vị đế vương Ai Cập ấy, theo như cháu được biết.” “Nhưng ba con đâu phải là người Ai Cập.” “Và ba cũng chẳng thích trang sức.” “Nó không thích trang sức tí nào ư?”
“Hoặc là cháu có thể chôn những thứ mà cháu thấy xấu hổ vì nó,” tôi nêu ý kiến, và trong đầu mình tôi nghĩ tới cái điện thoại cũ, và cả bảng tem Những nhà phát minh vĩ đại của Hoa Kỳ mà từng khiến tôi nổi cáu với Bà nội, và cả kịch bản của vở Hamlet, và cả những lá thư mà tôi nhận được từ những người xa lạ, và cả tấm danh thiếp ngớ ngẩn tôi tự làm, và cái trống lục lạc, và chiếc khăn quàng còn dang dở. Nhưng ngay cả những thứ ấy nữa cũng chẳng có nghĩa lý gì, bởi vì người thuê nhà nhắc nhớ tôi rằng chỉ bởi vì ta chôn vùi một thứ nào đó, thì không có nghĩa là ta đã thật sự chôn vùi được nó. “Thế làm thế nào bây giờ?” tôi hỏi.
“Ta có ý này,” ông ấy viết. “Và ta sẽ cho con biết vào ngày mai.”
Làm thế nào mà tôi lại tin tưởng ông nhiều thế?
Vào tối tiếp theo, khi tôi gặp ông ấy ở góc đường vào lúc 11:50, ông ấy mang theo hai cái va li bên mình. Tôi không hỏi ông có gì trong đó, bởi vì một lý do nào đó tôi cho rằng tôi nên kiên nhẫn đợi đến khi ông tự nói ra với tôi, dù sao đó cũng là ba của tôi, và điều ấy khiến cỗ quan tài chỉ thuộc về mình tôi.
Rồi ba tiếng đồng hồ sau đó, khi tôi chui xuống cái hố, phủi đi bụi đất, và mở ra cái chốt, người thuê nhà mở ra chiếc va li. Chúng chất đầy những giấy là giấy. Tôi hỏi ông chúng là những gì đó. Ông viết, “Ta đã mất một người con trai.” “Thật ư?” Ông ấy chỉ cho tôi lòng bàn tay trái. “Bác ấy mất như thế nào ạ?” “Ta mất nó từ trước khi nó chết.” “Thế nào ạ.” “Ta bỏ đi.” “Tại sao?” Ông ấy viết, “Bởi vì ta sợ.” “Ông sợ cái gì?” “Ta sợ phải mất nó.” “Thế ông có sợ bác ấy sẽ chết không?” “Ta sợ nó sẽ sống.” “Tại sao?” Ông viết, “Cuộc sống thì đáng sợ hơn cái chết rất nhiều.”
“Thế những giấy tờ này là sao ạ?”
Ông viết, “Những điều mà ta không thể nói được với con mình. Những lá thư.”
Nói thật, tôi không chắc tôi có hiểu được lời ông nói hay không nữa.
Tôi không cho rằng tôi có thể nghĩ ra ông ấy chính là ông nội tôi, dù là trong tiềm thức đi chăng nữa. Tôi đã hoàn toàn không liên hệ những lá thư trong cái va li ấy với những chiếc phong bì nằm trong ngăn kéo tủ của Bà, cho dù đáng lí ra tôi nên làm như vậy.
Nhưng tôi phải hiểu được một điều gì đó, tôi phải như vậy, bởi vì nếu không thì tại sao tôi lại mở ra lòng bàn tay trái?

Khi tôi về nhà đã là 4:22 sáng. Mẹ ngồi trên ghế sofa ngay trước cửa. Tôi cho rằng Mẹ sẽ vô cùng giận dữ với tôi, nhưng Mẹ lại không hề nói gì cả. Mẹ chỉ hôn lên tóc tôi.
“Sao mẹ không hỏi con đã đi đâu?” Mẹ bảo, “Mẹ tin con.” “Nhưng mẹ không thắc mắc ư?” Mẹ nói, “Mẹ cho là con sẽ kể cho mẹ nghe nếu con muốn.” “Mẹ sẽ đưa con đi ngủ chứ?” “Mẹ nghĩ là mẹ sẽ ngồi đây thêm một lúc nữa.” “Mẹ có giận con không?” Mẹ lắc đầu. “Thế chú Ron có giận con không?” “Không đâu con.” “Mẹ chắc chứ?” “Có.”
Tôi về phòng mình.
Bàn tay tôi lấm lem bùn đất, nhưng tôi không rửa chúng. Tôi muốn chúng cứ bẩn nguyên như thế, ít nhất là cho tới sáng hôm sau. Tôi hi vọng rằng một ít đất này sẽ được giữ lại trong móng tay tôi thật là lâu, và có thể một số siêu vi chất sẽ ở lại cùng tôi mãi mãi.
Tôi tắt đèn đi.
Tôi đặt ba lô của mình lên sàn nhà, tôi cởi quần áo, và trèo lên giường.
Tôi nhìn vào những ngôi sao trên trần nhà.
Sẽ thế nào nếu như trên nóc những tòa nhà chọc trời là những cái cối xay gió?
Sẽ thế nào nếu những chiếc lắc tay cũng là những sợi dây diều?
Một chiếc lắc tay làm từ sợi dây câu?
Sẽ thế nào nếu những tòa nhà chọc trời có rễ như những cái cây?
Sẽ thế nào nếu khi ấy ta sẽ phải tưới nước cho những tòa nhà chọc trời, và chơi nhạc cổ điển cho chúng nghe, và biết rõ rằng chúng ưa ánh nắng hoặc bóng râm?
Và còn cả những cái siêu nước?
Tôi bước xuống giường và chạy ra khỏi phòng trong bộ đồ lót.
Mẹ vẫn ngồi trên ghế. Mẹ không đọc, hoặc nghe nhạc, hay làm gì cả.
Mẹ nói, “Con đã thức rồi à.”
Tôi khóc.
Mẹ dang rộng vòng tay và hỏi, “Sao thế con?”
Tôi chạy lại chỗ Mẹ và nói, “Con không muốn vào nhà thương.”
Mẹ kéo tôi vào lòng và đầu tôi tựa vào phần mềm mại trên vai Mẹ, và Mẹ ôm tôi thật chặt. “Con sẽ không vào nhà thương đâu con yêu.”
Tôi bảo Mẹ, “Con hứa là con sẽ ngoan hơn.”
Mẹ nói, “Con chẳng sao đâu mà.”
“Con sẽ thật hạnh phúc và bình thường.”
Mẹ đặt ngón tay lên gáy tôi.
Tôi bảo Mẹ, “Con đã rất cố gắng. Con không biết làm sao để có thể cố gắng hơn được nữa.”
Mẹ nói, “Ba sẽ rất tự hào về con.”
“Mẹ nghĩ thế ư?”
“Mẹ biết là sẽ như vậy.”
Tôi khóc thêm một chút nữa. Tôi muốn kể cho Mẹ nghe về tất cả những lời mà tôi đã nói dối với Mẹ. Và rồi tôi muốn Mẹ sẽ nói với tôi rằng không sao cả đâu, bởi vì đôi khi ta phải làm những điều tồi tệ rồi mới có thể làm được điều tốt. Và rồi tôi muốn kể với Mẹ về chiếc điện thoại. Và rồi tôi muốn Mẹ nói với tôi rằng Ba sẽ vẫn tự hào về tôi.
Mẹ nói, “Ba đã gọi được cho mẹ vào ngày hôm ấy.”
Tôi nhích người ra khỏi người Mẹ.
“Gì ạ?”
“Ba gọi cho mẹ từ Tháp đôi.”
“Gọi vào di động của mẹ ạ?”
Mẹ gật đầu, và đó là lần đầu tiên kể từ khi Ba mất tôi thấy Mẹ không cố ngăn lại nước mắt. Có phải Mẹ cảm thấy khuây khỏa? Có phải Mẹ cảm thấy tuyệt vọng? Biết ơn? Kiệt sức?
“Ba đã nói gì?”
“Ba bảo mẹ rằng ba đang ở trên đường, rằng ba đã thoát khỏi tòa nhà. Ba nói rằng ba đang đi bộ về nhà.”
“Nhưng không phải như thế.”
“Không.”
Tôi có tức giận không? Tôi có vui mừng không?
“Ba nói thế để mẹ khỏi phải lo lắng.”
“Đúng vậy.”
Tuyệt vọng? Sợ hãi? Lạc quan?
“Nhưng ba biết là mẹ biết.”
“Đúng vậy.”
Tôi đặt tay lên cổ Mẹ, nơi tóc Mẹ bắt đầu xổ xuống.
Tôi không biết đã muộn thế nào.
Có lẽ tôi đã thiếp đi, nhưng tôi không nhớ nữa. Tôi khóc nhiều và mọi thứ trở nên nhạt nhòa vào mọi thứ thứ khác. Vào một lúc nào đó Mẹ bế tôi về phòng. Rồi tôi nằm trên giường. Mẹ ngắm nhìn tôi. Tôi không tin vào Chúa, nhưng tôi tin rằng sự việc vốn luôn vô cùng phức tạp, và ánh mắt của Mẹ cũng phức tạp như bất kỳ điều gì khác. Nhưng nó cũng tuyệt đối đơn giản. Trong cuộc đời duy nhất của tôi, Mẹ là mẹ của tôi, và tôi là con trai của Mẹ.
Tôi bảo Mẹ, “Sẽ không sao đâu nếu mẹ có yêu người khác.”
Mẹ nói, “Mẹ sẽ không yêu ai nữa.”
Tôi bảo Mẹ, “Nhưng con muốn mẹ làm thế.”
Mẹ hôn tôi và nói, “Mẹ sẽ không bao giờ yêu nữa.”
Tôi bảo Mẹ, “Mẹ không cần phải nói thế để con khỏi lo lắng.”
Mẹ nói, “Mẹ yêu con.”
Tôi lăn vào góc giường và nghe thấy tiếng Mẹ bước trở về chiếc sofa.
Tôi nghe thấy Mẹ khóc. Tôi hình dung ra ống tay áo của Mẹ ướt đẫm. Đôi mắt mỏi mòn của Mẹ.
Một phút năm mươi mốt giây…
Bốn phút ba mươi tám giây…
Bảy phút…
Tôi thò tay vào khoảng giữa cái giường với bức tường, và tìm thấy cuốn Những Điều Xảy Ra Quanh Tôi. Các trang đều đã kín. Tôi sẽ sớm phải bắt đầu với một cuốn sổ khác. Tôi đọc được rằng chính giấy là thứ đã khiến cho tòa tháp bốc cháy. Tất cả những tập giấy viết, và Xerox, và những bức thư điện tử được in ra, và những bức ảnh của bọn trẻ con, và những đồng dollar trong ví, và các tập tài liệu trong các túi hồ sơ… tất cả bọn chúng đều là vật dẫn lửa. Có thể nếu như chúng ta sống trong một xã hội không dùng đến giấy, mà rất nhiều các nhà khoa học đều nói rằng chúng ta rồi sẽ bước chân vào thời kỳ ấy, thì Ba của tôi vẫn còn sống. Có lẽ tôi không nên bắt đầu với một cuốn sổ mới nữa.
Tôi lôi ra từ ba lô chiếc đèn pin và soi nó vào cuốn sổ. Tôi nhìn thấy các bản đồ và hình vẽ, những hình ảnh cắt ra từ các tạp chí và báo và Internet, những bức ảnh tôi chụp được bằng chiếc máy ảnh của Ông nội. Cả thế giới này đều nằm trong đó. Cuối cùng, tôi nhìn thấy một bức hình chụp một người đang rơi từ trên tầng cao xuống.
Đấy có phải là Ba?
Có lẽ.
Dù có là ai, thì đấy cũng là một người nào đó.
Tôi xé trang giấy ra khỏi cuốn sổ.
Tôi sắp xếp lại thứ tự, thành ra trang cuối cùng được đưa lên trên đầu, và trang đầu tiên xuống cuối cùng.
Khi tôi lật nhanh, nó nhìn như hình một người đàn ông đang bay lên trên trời.
Và nếu như tôi có nhiều hình hơn, ông ấy sẽ bay ngược trở lại ô cửa sổ, vào tòa nhà, và cột khói sẽ bay trở lại cái lỗ hổng mà chiếc máy bay đã lao vào.
Ba sẽ không để lại những lời nhắn sau đó, cho tới khi cuộn băng từ trống rỗng, và chiếc máy bay sẽ bay lùi xa khỏi Ba, quay trở lại Boston.
Ba sẽ đáp thang máy xuống đường và ấn nút thang máy từ tầng thượng.
Ba sẽ đi bộ trở lại ga tàu điện ngầm, và chuyến tàu điện ngầm sẽ quay trở lại đường hầm, quay trở lại bến đỗ.
Ba sẽ đi ngược trở lại qua đường rẽ, rồi quẹt ngược chiếc thẻ vé tháng tàu điện, và rồi đi bộ trở lại nhà và đọc tờ New York Times từ phải sang trái.
Ba sẽ nhổ nước cà phê vào cốc, chà lại răng, và cắm lại râu vào trên mặt từ chiếc máy cạo râu.
Ba sẽ quay trở lại giường, chiếc đồng hồ báo thức chạy theo chiều ngược lại, Ba sẽ tua ngược những giấc mơ vào đêm trước.
Và Ba sẽ thức dậy vào cuối đêm trước cái ngày tồi tệ nhất ấy.
Ba sẽ đi giật lùi vào phòng tôi, huýt sáo bào “I Am the Walrus” bắt đầu từ đoạn kết thúc.
Ba sẽ nằm trên giường với tôi.
Chúng tôi sẽ cùng ngắm những ngôi sao được dán trên trần nhà kia, mà ánh sáng phản chiếu trong mắt tôi dần được thu hồi trở lại.
Tôi nói “Không có gì ạ” theo chiều ngược lại.
Ba hỏi “Sao thế anh bạn?” theo chiều ngược lại.
Tôi gọi “Ba ơi?” theo chiều ngược lại, mà cũng là “Ba ơi ” theo chiều xuôi.
Ba sẽ kể tôi nghe câu chuyện về Quận Sáu, từ phần giọng nói trong ống thiếc ở đoạn cuối tới phần đầu, từ “Anh yêu em” đến “Ngày xửa ngày xưa…”
Và chúng tôi đều bình an.

HẾT

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: