EXTREMELY LOUD & INCREDIBLY CLOSE (29)

Ảnh

MỘT GIẢI PHÁP ĐƠN GIẢN CHO MỘT VẤN ĐỀ KHÔNG TƯỞNG (2)

“Có một anh bạn trẻ muốn gặp ông,” người phụ nữ ngồi sau chiếc bàn nói qua điện thoại, và điều ấy làm tôi thấy lạ khi nghĩ rằng chú ấy ở phía bên kia của đường dây, dù nếu như tôi biết rằng tôi đang rối hết cả óc về “chú ấy” là ai. “Vâng,” bà ấy nói, “rất trẻ ạ.” Rồi bà ấy nói, “Không phải.” Và rồi, “Oskar Schell.” Rồi, “Vâng. Cậu ấy nói muốn gặp ông.”

“Tôi có thể hỏi cậu muốn gặp ông ấy để làm gì không?” bà ấy hỏi tôi. “Cậu ấy bảo là muốn trao đổi về ba cậu ấy,” bà ấy nói vào điện thoại. Rồi bà ấy nói, “Cậu ấy vừa nói thế.” Rồi bà ấy nói, “OK.” Và rồi bà ấy nói với tôi, “Cậu cứ đi dọc hành lang. Văn phòng của ông ấy là cửa thứ ba bên trái.”

Trên tường treo những bức tranh có thể là nổi tiếng. Khung cảnh bên ngoài cửa sổ đẹp tuyệt vời, mà có lẽ Ba sẽ rất thích. Nhưng tôi không nhìn vào bất kỳ thứ gì, tôi không chụp bất kỳ tấm hình nào. Tôi chưa từng tập trung đến thế trong đời, bởi vì tôi chưa bao giờ tới gần cái ổ khóa như thế. Tôi gõ cánh cửa thứ ba bên trái, trên đó có bảng đề WILLIAM BLACK. Có giọng nói vang lên từ bên trong phòng, “Mời vào.”

“Tối nay tôi có thể làm gì cho cháu?” người đàn ông cất tiếng từ sau chiếc bàn. Chú ấy chắc tầm tuổi Ba, và tôi đoán là vậy, nếu như người chết vẫn được tính tuổi như người còn sống. Chú ấy có mái tóc hoa râm màu nâu, râu ngắn, và cặp kính viền tròn màu nâu. Trong một giây chú ấy trông thật giống, và tôi băn khoăn không biết chú ấy có phải là người mà tôi đã từng nhìn thấy từ trên Tòa nhà Empire State qua kính viễn vọng hay không. Nhưng rồi tôi nhận ra đấy là điều không tưởng, bởi vì chúng tôi đang ở trên phố 59, mà nằm ở hướng bắc, dĩ nhiên rồi. Có rất nhiều khung ảnh được bày trên bàn của chú ấy. Tôi nhìn lướt qua chúng thật nhanh để đảm bảo rằng Ba không xuất hiện trong bất kỳ khung hình nào.

Tôi hỏi, “Chú có biết ba cháu không ạ?” Chú ấy dựa lưng vào ghế và trả lời, “Tôi không rõ lắm. Ba cháu là ai nhỉ?” “Thomas Schell ạ.” Chú ấy suy nghĩ mất một phút. Tôi rất sợ khi chú ấy phải suy nghĩ. “Không,” chú ấy trả lời. “Tôi không biết ai tên Schells cả.” “Đã biết ạ.” “Xin lỗi?” “Ba cháu mất rồi, nên chú không thể biết ông ấy được.” “Tôi rất tiếc khi nghe điều ấy.” “Có lẽ chú có biết ba cháu.” “Không, tôi chắc chắn là không.” “Nhưng chú phải biết chứ.”

Tôi bảo với chú ấy, “Cháu tìm thấy một cái phong bì nhỏ có tên chú trên đó, và cháu cứ nghĩ đấy là vợ chú, mà theo cháu biết giờ đã là vợ cũ, nhưng cô ấy không biết gì về nó cả, và tên của chú là William, và cháu vẫn chưa tìm tới vần W—” “Vợ chú ư?” “Cháu đã nói chuyện với cô ấy.” “Nói chuyện ở đâu?” “Ở ngôi nhà hẹp nhất New York.” “Cô ấy thế nào?” “Ý chú là sao ạ?” “Cô ấy trông thế nào?” “Buồn ạ.” “Buồn ra sao?” “Chỉ buồn thôi.” “Lúc ấy cô ấy đang làm gì?” “Không gì ạ, thật đấy. Cô ấy cố làm đồ ăn cho cháu, dù cháu bảo là cháu không đói. Có ai đó ở phòng bên cạnh khi chúng cháu nói chuyện.” “Đàn ông à?” “Vâng.” “Cháu có thấy hắn ta không?” “Ông ấy đi qua cửa, nhưng ông ấy cứ la hét từ căn phòng khác.” “La hét ư?” “Hét to lắm ạ?” “Hắn hét gì thế?” “Cháu không nghe rõ.” “Hắn có đáng kinh hãi không.” “Cháu không hiểu nghĩa của từ đấy.” “Hắn có đáng sợ không?” “Thế chú có biết gì về ba cháu không ạ?” “Lúc ấy là khi nào?” “Tám tháng trước ạ.” “Tám tháng trước à?” “Chính xác là bảy tháng và hai mươi tám ngày.” Chú ấy cười. “Sao chú lại cười ạ?” Chú ấy úp mặt vào lòng bàn tay, như thể chú ấy sắp khóc đến nơi, nhưng không phải vậy. Chú ấy ngước lên và nói, “Người đó là chú.”

“Chú ấy ạ?” “Vào tám tháng trước. Đúng vậy. Chú cứ nghĩ là cháu đang nói về một ngày nào khác.” “Nhưng mà khi ấy chú đâu có râu.” “Chú đã nuôi râu đấy.” “Và chú không đeo kính.” Chú ấy tháo kính ra và nói, “Người ấy đã thay đổi.” Tôi bắt đầu nghĩ về những điểm ảnh của những cơ thể rơi từ trên cao xuống, và làm sao mà khi ta càng soi lại thật gần, ta lại càng thấy được ít hơn. “Thế tại sao lúc ấy chú lại la hét ạ?” “Chuyện dài lắm.” “Cháu có nhiều thời gian lắm ạ,” tôi nói, bởi vì bất cứ thứ gì có thể mang tôi lại gần với Ba hơn thì cũng đều là điều mà tôi muốn biết, ngay cả nếu như điều ấy có làm tôi đau đớn đi chăng nữa. “Đấy là một câu chuyện dài, dài lắm.” “Chú làm ơn đi mà.” Chú ấy gập quyển sổ đang mở ra trên bàn lại và nói, “Đó là một câu chuyện quá dài.”

Tôi nói, “Chú có nghĩ là thật lạ khi ta ở trong cùng một ngôi nhà vào tám tháng trước, và giờ thì ta cùng nhau ngồi trong văn phòng này không?”

Chú ấy gật đầu.

“Thật lạ,” tôi nói. “Chúng ta đã có lúc vô cùng gần gũi.”

Chú ấy nói, “Vậy cái phong bì kia thì có gì đặc biệt?” “Không có gì cả. Chính xác thì là thứ nằm ở trong phong bì kia.” “Là gì?” “Phải nói là cái gì chứ ạ.” Tôi kéo sợi dây đeo cổ ra, sao cho chìa khóa nhà chuyển ra sau lưng và chiếc chìa khóa của Ba nằm trên túi cái áo khoác, nằm trên những tấm thẻ của ông Black, nằm trên đám băng dính cá nhân, nằm trên trái tim tôi. “Chú có thể nhìn qua nó không?” chú ấy hỏi. Tôi tháo sợi dây ra khỏi cổ và đưa cho chú ấy. Chú ấy xem xét chiếc chìa khóa một hồi và hỏi, “Trên phong bì có viết gì không cháu?” “Có ghi chữ ‘Black’ ạ.” Chú ấy ngước lên nhìn tôi, “Có phải cháu tìm thấy nó trong một cái lọ hoa màu xanh không?” “Jose!”

Chú ấy nói, “Không thể nào tin được.” “Chú không tin được cái gì ạ?” “Đây đúng là điều kỳ lạ nhất từng xảy ra trong đời chú.” “Cái gì cơ ạ?” “Chú đã bỏ ra hai năm cố công tìm kiếm cái chìa khóa này.” “Như vậy là ta đã tìm kiếm nhau chú nhỉ.” Và tôi cuối cùng cũng có thể hỏi câu hỏi quan trọng nhất đời mình. “Nó dùng để mở cái gì thế ạ?”

“Nó mở một cái hộp an toàn.” “Ô, như thế thì có liên quan gì đến ba cháu ạ?” “Ba cháu á?” “Vấn đề về cái chìa khóa là cháu tìm thấy nó trong tủ của ba cháu, và vì ba đã mất, nên cháu không thể hỏi được ba về chuyện đó, nên cháu phải tự mình tìm hiểu về nó.” “Cháu tìm thấy nó trong tủ của ông ấy ư?” “Vâng ạ.” “Trong cái lọ hoa cao màu xanh à?” Tôi gật đầu. “Và đề người gửi nằm dưới đáy?” “Cháu không biết nữa. Cháu không nhìn thấy cái địa chỉ nào cả. Cháu không nhớ nữa.” Nếu như lúc này ở một mình, tôi sẽ tự cấu mình một cái đau đớn nhất. Tôi sẽ biến cuộc đời mình thành một vết bầm lớn.

“Cha chú đã mất khoảng hai năm về trước,” chú ấy kể. “Ông ấy đi khám sức khỏe và bác sĩ nói ông chỉ còn lại có hai tháng nữa. Và ông mất đúng hai tháng sau đó.” Tôi không muốn nghe nữa về những cái chết. Đó là điều duy nhất mà mọi người đề cập tới, ngay cả khi một người không thực sự nói về điều đó. “Chú buộc phải nghĩ phải làm gì với các đồ vật của ông. Sách vở, đồ đạc, áo quần.” “Thế chú không muốn giữ chúng lại ạ?” “Chú không muốn bất cứ thứ nào trong đó.” Tôi nghĩ điều ấy thật lạ lùng, bởi vì những đồ vật của Ba là tất cả những gì mà tôi mong muốn. “Nên để rút ngắn một câu chuyện dài dòng—” “Chú không cần phải rút ngắn nó lại đâu ạ.” “Chú đã tổ chức một buổi bán các đồ đạc của ông ấy. Đáng lẽ chú không nên tới đó. Đáng lẽ chú nên thuê ai đó khác thì hơn. Hoặc là chú nên tặng tất cả những thứ đó đi mới phải. Thay vì vậy chú lại làm cái việc bảo với người ta rằng giá cả của những vật sở hữu của ông là không thể thương lượng được. Bộ lễ phục mặc trong đám cưới của ông là không thương lượng được. Cặp kính râm là không thể thương lượng. Đó là một trong những ngày tồi tệ nhất cuộc đời chú. Có lẽ là tệ nhất.”

“Chú ổn chứ?” “Chú không sao. Thời gian qua là một quãng thời gian thật chẳng vui vẻ gì. Cha chú và chú cũng không thật sự gần gũi với nhau.” “Chú có muốn một cái ôm không?” “Chú không sao đâu.” “Tại sao lại không ạ?” “Tại sao không cái gì?” “Sao chú và cha mình lại không thật sự gần gũi ấy ạ?” Chú ấy trả lời, “Chuyện dài lắm.” “Chú có thể vui lòng nói về ba cháu được không?”

“Cha chú viết các bức thư khi ông ấy phát hiện ra mình bị ung thư. Ông thường không hay viết thư trước đó. Chú không rõ là ông ấy có từng viết trong quá khứ không nữa. Nhưng ông dành hai tháng cuối đời mình chỉ để viết thư. Bất cứ khi nào mà ông còn thức.” Tôi hỏi rằng tại sao, nhưng điều mà tôi thật sự muốn biết là tại sao tôi lại không bắt đầu viết cho Ba sau khi Ba mất. “Ông cố nói lời từ biệt. Ông viết cho cả những người mà hầu như ông không quen biết mấy. Nếu như ông không quá yếu, thì việc viết thư có thể trở thành một căn bệnh của ông. Vào một ngày nọ khi chú đi họp với khách hàng, ngay trong buổi thảo luận có một người hỏi liệu chú có quan hệ gì với Edmund Black hay không. Chú trả lời rằng có, ông ấy là cha của chú. Người kia nói, ‘Tôi học cùng trường với cha cậu. Ông ấy viết cho tôi bức thư hay nhất mà tôi nhận được trước khi ông ấy qua đời. Mười trang giấy. Tôi hầu như không biết ông ấy. Chúng tôi chưa từng một lần nói chuyện với nhau trong suốt năm mươi năm qua. Đó là bức thư hay nhất mà tôi từng được đọc.’ Chú hỏi ông ấy rằng liệu chú có thể xem nó được không. Ông ấy trả lời, ‘Tôi không nghĩ đó là thứ có thể chia sẻ với người khác được.’ Chú bảo với ông ấy rằng nó có ý nghĩa rất lớn đối với chú. Ông ấy nói, ‘Ông ấy có nhắc đến cậu ở trong thư.’ Và chú bảo với ông ấy rằng chú hiểu.

“Chú xem hết quyển Rolodex của cha chú—” “Đấy là cái gì ạ?” “Quyển sổ danh bạ. Chú gọi cho mọi cái tên trong đó. Anh em họ của ông, đối tác làm ăn của ông, những người mà chú chưa từng nghe ông nhắc tới. Ông đã viết cho tất cả mọi người. Từng người một. Có vài người cho phép chú đọc thư của họ. Những người khác thì không.”

“Chúng như thế nào ạ?”

“Bức thư ngắn nhất chỉ có một câu. Bức thư dài nhất dài cả chục trang giấy. Một vài trong số chúng thì như một vở kịch ngắn. Một số khác thì chỉ gồm có câu hỏi dành cho người mà ông viết cho họ.” “Những câu hỏi kiểu gì hả chú?” “‘Em có biết rằng tôi từng thấy yêu em vào mùa hè đó ở Norfolk?’ ‘Họ có đánh thuế trên các tài sản mà tôi để lại, như là cây dương cầm chẳng hạn, hay không?’ ‘Các bóng đèn điện hoạt động như thế nào nhỉ?’” “Cháu có thể giải thích nó cho ông đấy ạ.” “Có ai từng từ giã cõi đời này trong khi đang ngủ hay không?’

“Có vài bức thư ông viết rất hài hước. Ý chú là, thực sự, thực sự hài hước. Chú chưa từng biết rằng ông lại hài hước đến như vậy. Và một số thì đầy triết lý. Ông viết về việc ông đã hạnh phúc nhường nào, và cả việc ông đã buồn bã ra sao, và tất cả những điều mà ông ông muốn thực hiện nhưng ông chưa từng làm, và cả những điều mà ông đã từng làm dù không hề muốn.”

“Thế ông có viết thư cho chú không ạ?” “Có.” “Ông nói những gì ạ?” “Chú không dám đọc nó. Trong vài tuần lễ đầu.” “Tại sao ạ?” “Bởi vì điều ấy với chú quá đau đớn.” “Cháu thì sẽ rất tò mò.” “Vợ chú – vợ cũ của chú – nói rằng chú bị dở hơi nếu không đọc lá thư đó.” “Cô ấy đã không thông cảm lắm.” “Dù thế, cô ấy nói đúng. Điều này thật điên rồ. Thật vô lý. Chú đã hành xử thật trẻ con.” “Vâng, nhưng mà chú là con của ông mà.”

“Nhưng chú là con của ông. Đúng thế. Chú đang lải nhải rồi. Tự dưng kéo dài câu chuyện này—” “Chú đừng kể ngắn lại,” tôi nài, bởi vì cho dù tôi muốn chú ấy nói cho tôi biết về Ba thay vì cha của chú ấy, tôi cũng còn muốn cho câu chuyện dài nhất có thể được, bởi vì tôi cảm thấy sợ cái kết. Chú ấy nói, “Chú đã đọc bức thư. Có thể chú đã chờ mong điều gì đó gần như là lời thú tội. Chú cũng không biết nữa. Điều gì đó giận dữ, hay sự van cầu tha thứ. Điều gì đó sẽ khiến chú suy nghĩ lại về tất cả mọi việc. Nhưng bức thư ấy chỉ nói về những điều thực tế. Giống như một thứ tài liệu hơn là một lá thư, nếu như điều đó có thể tóm gọn được.” “Cháu nghĩ vậy.” “Chú không biết nữa. Có lẽ là chú đã sai lầm, nhưng chú những mong ông nói lời xin lỗi vì những điều đã xảy ra, và kết luận rằng ông yêu chú. Kiểu như là thứ mà người ta nói vào lúc cuối đời. Nhưng chẳng có gì là như vậy cả. Nhưng làm gì có những thứ như thế. Ông còn không nói cả ‘Cha yêu con’ nữa. Ông chỉ nói với chú về cuộc đời ông, về những chính sách không an toàn của đời ông, về tất cả những điều như những phi vụ làm ăn tồi tệ mà có vẻ như chẳng thích hợp gì để nghĩ tới khi một ai đó gần đất xa trời.”

“Chú có thất vọng không?” “Chú tức giận.” “Cháu rất tiếc.” “Không. Không có gì để tiếc nuối cả. Chú cứ nghĩ về điều ấy suốt. Cha của chú nói với chú rằng ông để các thứ ở đâu, và ông muốn chú để tâm tới điều gì. Ông rất có trách nhiện. Ông là người tốt. Thật dễ dàng để trở nên xúc động. Cháu luôn có thể hình dung ra một điều gì đó. Cứ nghĩ đến chú tám tháng trước thì biết. Điều ấy thật quá dễ.” “Thế điều gì đó là gì ạ?” “Trở nên đáng tin cậy chính là điều gì đó. Trở nên tốt đẹp hơn.”

“Thế còn chiếc chìa khóa thì sao ạ?” “Ở cuối bức thư ông viết, ‘Ta để lại thứ này cho con. Nằm trong cái bình hoa màu xanh, ở trên giá đựng đồ trong phòng ngủ, là một chiếc chìa khóa. Nó dùng để mở hộp an toàn ở ngân hàng. Ta hi vọng rằng con sẽ hiểu vì sao ta lại muốn con giữ nó.” “Và? Có gì ở trong đó ạ?” “Chú đã không đọc bức thư cho tới khi chú bán hết các di vật của ông. Và chú cũng đã bán cả cái bình hoa nữa. Chú bán nó cho ba cháu.” “Cái gì?

“Vì thế mà chú đã cố công tìm cháu.” “Chú từng gặp ba cháu ạ?” “Chỉ là thoáng qua thôi, nhưng đúng vậy.” “Chú có còn nhớ ba cháu không?” “Bọn chú có nói chuyện chút ít.” “Và?” “Ông ấy là một người hiền lành. Chú nghĩ ông ấy có thể thấy được chú cảm thấy khó khăn nhường nào khi cố xoay xở với những thứ đó.” “Chú có thể kể về ba cháu được không?” “Ôi, chú không nhớ nhiều nữa đâu.” “Chú làm ơn đi mà.” “Ông ấy cao khoảng 1m78. Ông ấy có mái tóc màu nâu. Và đeo kính.” “Kính gì ạ?” “Kính dày lắm.” “Thế ba cháu hôm ấy mặc quần áo gì hả chú?” “Có lẽ là một bộ vest, chú nghĩ vậy.” “Vest gì ạ?” “Màu xám, chắc thế?” “Đúng ạ! Ba thường mặc vest xám khi đi làm! Ba cháu có khe hở ở răng không chú?” “Cái đấy thì chú không nhớ được.” “Chú cố đi mà.”

“Ông ấy bảo ông ấy đang trên đường về nhà và nhìn thấy tấm biển đề thanh lý. Ông ấy nói rằng mình có một buổi lễ kỷ niệm vào tuần tới.” “Ngày 14 tháng 9!” “Ông ấy sẽ gây cho mẹ cháu một sự ngạc nhiên thú vị. Cái bình hoa kia thật là hoàn hảo, ông ấy nói. Ông ấy nói rằng mẹ cháu sẽ rất thích nó.” “Ba sẽ gây ngạc nhiên cho mẹ cháu ư?” “Ông ấy đã đặt chỗ tại nhà hàng mà mẹ cháu yêu thích. Đấy sẽ là một tối lãng mạn của hai người.”

Bộ lễ phục.

“Ba cháu có còn nói gì khác nữa không ạ?” “Ông ấy còn nói gì nữa…” “Không có gì cả.” “Ông ấy có giọng cười hay lắm. Chú nhớ là như vậy. Ông ấy thật tử tế khi đã cười như vậy, và làm cho chú cười. Ông ấy đã cười vì chú.”

“Còn gì nữa không ạ?” “Ông ấy có đôi mắt thông thái.” “Thế nghĩa là gì ạ?” “Ông ấy biết mình muốn gì. Ông ấy biết khi nào thì mình tìm thấy nó.” “Đúng ạ. Ba cháu có đôi mắt sáng lắm.” “Chú nhớ rằng chú đã nhìn ông ấy ôm cái bình. Ông ấy kiểm tra phần đáy và xoay nó vài lần. Ông ấy dường như là người hết sức chu đáo.” “Ba cháu chu đáo lắm ấy ạ.”

Tôi ước sao chú ấy có thể nhớ ra thêm nhiều chi tiết nữa, như là nếu hôm ấy Ba có tháo cái cúc áo trên cùng ra không, hay là Ba có mùi của kem cạo râu hay không, hay là Ba có huýt sáo bài “I Am the Walrus” hay không. Ba có kẹp tờ New York Times dưới nách không? Môi Ba có bị nẻ hay không? Ba có cài cái bút đỏ vào ngực áo hay không?

“Khi căn hộ trống trơn vào đêm đó, chú ngồi xuống sàn nhà và đọc lá thư của cha chú. Và chú đọc về chiếc bình hoa. Chú cảm thấy chú đã làm cha mình thất vọng.” “Nhưng chẳng lẽ chú không thể tới ngân hàng và nói với họ rằng chú đã làm mất chiếc chìa khóa hay sao?” “Chú đã thử. Nhưng họ nói rằng họ không có cái hộp nào được mở dưới tên của ông. Chú thử nói tên mình. Kết quả vẫn vậy. Kể cả dưới tên của mẹ chú hay tên của bà chú nữa. Điều ấy thật là khó hiểu.” “Thế mấy người ở ngân hàng không làm gì khác được ạ?” “Họ tỏ ra rất thông cảm, nhưng nếu như không có chiếc chìa khóa, thì chú không làm gì được.” “Và đó là lý do vì sao mà chú cần tìm ba cháu.”

“Chú cứ hi vọng rằng ông ấy sẽ nhận ra rằng có chiếc chìa khóa được cất trong bình hoa và sẽ đi tìm chú. Nhưng làm sao mà ông ấy có thể. Bọn chú đã rao bán ngôi nhà của cha chú, nên cho dù ông ấy có quay lại đó, thì ông ấy cũng đi vào ngõ cụt mà thôi. Và chú chắc rằng kể cả khi ông ấy tìm thấy cái chìa khóa, thì ông ấy chỉ việc ném nó đi, vì nghĩ rằng nó chẳng có ý nghĩa gì. Đấy là những gì mà chú đã làm đấy thôi. Và chú cũng chẳng có cách nào để tìm ra ông ấy. Không thể nào. Chú chẳng biết tí gì về ông ấy, kể cả một cái tên. Trong vòng vài tuần, chú lùng quanh khu vực nhà cháu trên đường đi làm về, cho dù không hề thuận đường. Nơi ấy cách nhà chú đến chừng một tiếng lái xe. Chú cứ lượn quanh để tìm ông ấy. Chú đã chuẩn bị các bản thông báo khi chú nhận ra điều gì đã xảy ra: ‘Gửi người đã mua chiếc bình hoa trong buổi bán đồ thanh lý trên đường 75 vào cuối tuần này, xin vui lòng liên hệ…’ Nhưng đấy là tuần sau ngày 11 tháng 9. Và bất kỳ chỗ nào cũng được dán đầy các thông báo.”

“Mẹ cháu cũng dán các thông báo về ba.” “Ý cháu là sao?” “Ba mất ngày 11 tháng 9. Ba cháu mất như thế đấy.” “Ôi, Chúa ơi. Chú rất tiếc.” “Không sao ạ.” “Chú không biết phải nói gì vào lúc này.” “Chú không cần phải nói gì đâu.” “Chú đã không nhìn thấy thông báo đó. Nếu như mà chú… Ôi, chú không biết là nếu nhìn thấy thì chú có thể làm gì nữa.” “Chú có thể tìm được chúng cháu.” “Chú cho là vậy.” “Không biết là thông báo của chú và thông báo của mẹ cháu có được dán cạnh nhau không nhỉ.”

Chú ấy nói, “Dù chú ở đâu, chú cũng cố tìm được ba cháu: trung tâm thành phố, ngoại ô, trên tàu điện. Chú nhìn vào mắt tất cả mọi người, nhưng chẳng có đôi mắt nào thuộc về ba cháu. Một lần nọ chú gặp một ai đó mà chú nghĩ có thể là ba cháu đang băng qua đường Broadway trên Quảng trường Thời đại, nhưng chú lạc dấu người ấy trong đám đông. Và chú nhìn thấy một ai đó mà chú ghĩ có thể là ba cháu leo lên một chiếc taxi ở trên phố 23. Chú có thể gọi người ấy lại, nhưng chú không biết được ba cháu tên gì.” “Thomas ạ.” “Thomas. Chú ước gì chú biết được vào lúc ấy.”

Chú ấy kể tiếp, “Chú theo chân một người đàn ông quanh Central Park trong hơn nửa giờ. Chú cứ nghĩ đó là ba cháu. Chú không hiểu được vì sao ông ấy lại di chuyển theo kiểu lạ lùng thế, di chuyển theo đường chữ thập. Ông ấy không đến được đâu cả. Chú không hiểu được thế nào ra thế nào hết.” “Thế tại sao chú không ngăn ông ấy lại?” “Thậm chí chú đã làm vậy.” “Thế điều gì xảy ra ạ?” “Chú đã sai. Đó là một người khác hẳn.” “Thế chú có hỏi vì sao ông ấy lại đi như thế không ạ?” “Ông ấy bảo rằng ông ấy đánh rơi thứ gì đó và đang đi tìm nó.”

“Ồ, giờ thì chú không cần phải tìm thêm nữa,” tôi nói với chú ấy. Chú ấy nói, “Chú đã mất rất lâu để tìm kiếm nó. Thật khó khăn khi nhìn vào nó.” “Thế chú có muốn biết cha chú để lại gì cho chú không?” “Chú không nghĩ đấy là một câu hỏi về việc muốn.” Tôi hỏi chú, “Thế câu hỏi nên là gì ạ?”

Chú ấy trả lời, “Chú xin lỗi. Chú biết là cháu cũng đi tìm kiếm một thứ gì đó. Và chú biết rằng giờ nó không còn là thứ mà cháu tìm kiếm nữa.” “Không sao ạ.” “Nhưng chú cũng nghĩ rằng việc này là đáng giá, vì ba cháu dường như là một người nhân hậu. Dù chú chỉ trao đổi với ông ấy trong vài phút, nhưng từng ấy cũng đủ để biết được rằng ông ấy là người tốt. Cháu thật may mắn khi có một người cha như thế. Chú sẵn sàng đánh đổi chiếc chìa khóa này để có được một người cha như vậy.” “Chú không nên chọn lựa thì hơn.” “Không, đúng là chú không nên lựa chọn như vậy.”

Chúng tôi ngồi đó, lặng yên không nói. Tôi lại ngắm nhìn những bức hình được bày trên bàn làm việc. Tất cả đều là hình chụp cô Abby.

Chú ấy nói, “Sao cháu lại không ra ngân hàng cùng chú nhỉ?” “Chú thật tốt bụng, nhưng không ạ.” “Cháu có chắc không?” “Không phải là cháu không tò mò đâu. Cháu tò mò lắm ấy. Chỉ là cháu sợ rằng sẽ bối rối thôi.”

Chú ấy hỏi, “Sao thế cháu?” “Không có gì đâu ạ.” “Cháu không sao chứ?” Tôi muốn ngăn nước mắt lại, nhưng không thể. Chú ấy vỗ về, “Chú rất tiếc. Rất tiếc.”

“Cháu có thể kể với chú chuyện này mà cháu chưa từng nói với ai hết hay không?”

“Được chứ.”

“Vào ngày hôm ấy, người ta cho bọn cháu về ngay khi bọn cháu vừa tới trường. Người ta không nói cho bọn cháu biết vì sao, mà chỉ nói rằng có việc xảy ra. Bọn cháu không hiểu được, cháu nghĩ là vậy. Hoặc là bọn cháu không tưởng tượng được có điều gì tồi tệ lại có thể xảy ra với bọn cháu. Rất nhiều phụ huynh tới đón con của họ, nhưng vì trường học chỉ cách nhà cháu có năm dãy nhà, nên cháu tự đi bộ về. Bạn cháu bảo với cháu rằng nó sẽ gọi điện, nên khi về đến nhà cháu bước tới ngay chỗ cái điện thoại và thấy có tìn nhắn. Năm tin nhắn tất cả. Đều là của một người.” “Bạn cháu à?” “Ba cháu.”

Chú ấy lấy tay che miệng.

“Ba cháu nói rằng ba vẫn ổn, và rằng mọi thứ đều ổn, và rằng mọi người không cần phải lo lắng.”

Một giọt nước mắt lăn xuống má chú ấy và đọng lại trên đầu ngón tay.

“Nhưng đây là điều mà cháu chưa bao giờ kể với một ai khác. Sau khi cháu nghe hết những tin nhắn kia, chuông điện thoại reo. Lúc ấy là 10:22. Cháu nhìn vào số gọi đến và đó là số di động của ba.” “Ôi, Chúa ơi.” “Chú có thể đặt tay lên người cháu và cháu có thể kể nốt câu chuyện này không chú?” “Có chứ,” chú ấy nói, và chú ấy kéo ghế tới bên tôi.

“Cháu không thể nhấc máy. Cháu không thể làm nổi. Và điện thoại cứ thế mà reo, và cháu không nhúc nhích nổi. Cháu muốn nhấc máy lắm, nhưng cháu không làm được.”

“Chức năng trả lời tự động hoạt động, và cháu nghe thấy giọng của mình.”

Xin chào, đây là gia đình Schell. Đây là thông tin về ngày hôm nay: Thời tiết đang rất lạnh ở Yukatia, mà thuộc nước Siberia, và khí ta thở ra sẽ ngay lập tức bị đóng băng với một tiếng vỡ tan mà người ta thường gọi là tiếng thì thầm của những vì sao. Vào những người mà trời cực lạnh, các thị trấn bị bao phủ bởi lớp sương mù được tạo thành từ hơi thở của con người và gia súc. Xin hãy vui lòng để lại tin nhắn.

“Rồi sau đó là tiếng bíp.”

“Rồi cháu nghe thấy giọng của ba.”

Con có ở đó không? Con có ở đó không? Con có ở đó không?

“Ba cần cháu, và cháu không thể nhấc được điện thoại lên. Cháu không nhấc nổi. Cháu không thể. Con có ở đó không? Ba hỏi câu đấy mười một lần. Cháu biết, bởi vì cháu đã đếm. Thừa ra một lần khi cháu đếm bằng các ngón tay. Tại sao ba cháu lại liên tục hỏi thế? Có phải vì ba đang đợi chờ ai đó về nhà không? Và tại sao ba lại không hỏi là ‘có ai’ không? Có ai ở đó không? ‘Con’ chỉ là một người duy nhất. Đôi khi cháu nghĩ rằng ba hẳn biết có cháu ở đó. Có thể là ba liên tục nói như vậy để cháu có thời gian gom góp sự can đảm mà nhấc máy. Ngoài ra, mỗi lần ba hỏi đều có một quãng nghỉ khá dài. Lần hỏi thứ tư cách lần hỏi thứ ba mười lăm giây tất cả, và là khoảng cách lâu nhất. Cháu có thể nghe thấy tiếng người la hét và khóc lóc vọng lại. Và cháu còn nghe thấy được cả tiếng kính vỡ, và làm cho cháu nghĩ rằng chắc hẳn có người nào đó đang lao qua cửa sổ.

Con có ở đó không? Con có ở đó không? Con có ở đó không? Con có ở đó không? Con có ở đó không? Con có ở đó không? Con có ở đó không? Con có ở đó không? Con có ở đó không? Con có ở đó không? Con có ở đó không? Con có

“Và rồi nó ngừng lại.

“Cháu đã xem giờ tin nhắn ấy, nó dài một phút và hai mươi giây. Có nghĩa là nó kết thúc vào 10:24. Và là khi mà tòa nhà sụp xuống. Và có lẽ ba cháu đã chết như thế.”

“Chú rất tiếc,” chú ấy nói.

“Cháu chưa bao giờ kể cho ai nghe chuyện này.”

Chú ấy xiết chặt tôi, gần như một cái ôm, và tôi có thể cảm thấy được chú đang lắc đầu.

Tôi hỏi chú, “Chú tha thứ cho cháu chứ?”

“Chú tha thứ cho cháu ư?”

“Vâng.”

“Vì không thể nhấc máy sao?”

“Vì không thể kể chuyện này cho ai cả.”

Chú ấy trả lời, “Có cháu ạ.”

Tôi tháo sợi dây ra khỏi đầu và tròng nó vào cổ chú.

“Thế chiếc chìa khóa kia là gì?” chú ấy hỏi.

Tôi nói, “Chìa khóa nhà cháu ạ.”

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: