EXTREMELY LOUD & INCREDIBLY CLOSE (28)

Ảnh

MỘT GIẢI PHÁP ĐƠN GIẢN CHO MỘT VẤN ĐỀ KHÔNG TƯỞNG (1)

Vào ngày sau cái ngày người thuê nhà và tôi đào ngôi mộ của Ba lên, tôi ghé qua căn hộ của ông Black. Tôi cảm thấy ông ấy xứng đáng được biết điều gì đã xảy ra, cho dù chuyện này không dính dáng gì đến ông cả. Nhưng khi tôi gõ cửa, người xuất hiện không phải là ông. “Tôi có thể giúp gì được cho cháu?” một người phụ nữ hỏi. Cặp kính mắt của bà được neo nơi cổ bằng một sợi dây, và bà ấy đang ôm một chồng hồ sơ với hàng đống những giấy tờ như sắp rơi ra đến nơi. “Bà không phải là ông Black.” “Ông Black à?” “Ông Black là người đang sống ở đây. Ông ấy đâu rồi ạ?” “Tôi xin lỗi, tôi không biết.” “Ông ấy không sao chứ ạ?” “Tôi đoán là như vậy. Tôi cũng không biết nữa.” “Thế bà là ai?” “Tôi làm môi giới bất động sản.” “Nghĩa là gì ạ?” “Nghĩa là tôi bán các căn hộ ấy.” “Tại sao?” “Tôi đoán là chủ sở hữu muốn bán ngôi nhà này. Tôi chỉ làm thay ngày hôm nay.” “Làm thay á?” “Người buôn bán nhà đại diện cho ngôi nhà này hôm nay nghỉ ốm.” “Bà có biết cháu có thể tìm chủ nhà ở đâu không ạ?” “Thật xin lỗi cháu. Tôi không được biết.” “Nhưng mà ông ấy là bạn của cháu.”

Bà ấy nói với tôi, “Sáng nay họ có ghé qua để mang đồ đạc đi.” “Họ là ai ạ?” “Họ. Tôi không biết được. Nhà thầu khoán. Người dọn rác. Bọn họ.” “Không phải là người chuyển nhà sao?” “Tôi không biết nữa.” “Họ sẽ vứt hết đồ đạc của ông ấy đi ạ?” “Cũng có thể là sẽ bán chúng đi.” Nếu mà tôi siêu giàu, thì tôi có thể mua lại mọi thứ, cho dù tôi vẫn chỉ có thể cất chúng vào nhà kho. Tôi nói với bà ấy, “Ôi, cháu để quên vài thứ trong nhà. Bởi vì nó thuộc về cháu, nên họ không thể bán hoặc mang chúng đi. Cháu sẽ vào lấy nó. Làm ơn cho cháu qua.”

Tôi đi tới các ngăn kéo danh mục tiêu sử. Tôi biết tôi không thể giữ lại toàn bộ chúng, dĩ nhiên là vậy, nhưng ở đó có một vài thứ mà tôi cần. Tôi kéo ra ngăn kéo vần B và lật qua các tấm thẻ. Tôi tìm thấy thẻ tên của ông Black. Tôi biết đây là việc đáng làm, nên tôi lấy nó ra và nhét vào túi áo khoác của mình.

Nhưng rồi, cho dù tôi đã có được thứ tôi muốn, tôi vẫn mở ra ngăn kéo S. Antonin Scalia[1], G. L. Scarborough, Lord Leslie George Scarman[2], Maurice Scève[3], Anne Wilson Schaef[4], Jack Warner Schaefer[5], Iris Scharmel[6], Robert Haven Schaufner[7], Barry Scheck[8], Johann Scheffler[9], Jean de Schelandre[10] … Và rồi tôi nhìn thấy nó: Schell.

Lúc ban đầu tôi cảm thấy thật nhẹ nhõm, bởi vì tôi cảm giác như thể tất cả những điều tôi làm đều thật xứng đáng, bởi vì nó khiến Ba trở thành Một Người Vĩ Đại mà có tiểu sử quan trọng và được nhắc đến. Nhưng khi tôi xem xét tấm thẻ, tôi nhìn thấy rằng nó không phải về Ba.

OSKAR SCHELL: CON TRAI

Ước gì tôi biết được rằng tôi sẽ không gặp lại ông Black nữa sau cái lần chúng tôi bắt tay nhau vào buổi chiều đó. Có lẽ vào khi ấy tôi sẽ không buông xuôi như thế. Hoặc là tôi sẽ ép ông phải tiếp tục cuộc tìm kiếm cùng tôi. Hoặc là tôi sẽ nói cho ông biết về việc Ba đã gọi điện khi tôi về nhà. Nhưng tôi đã không biết, cũng như tôi đã không biết đó là lần cuối cùng mà Ba sẽ ôm tôi vào lòng, bởi vì ta sẽ chẳng bao giờ biết nổi về những điều như thế. Nên khi mà ông nói rằng, “Ông đã xong rồi. Ông mong là cháu có thể hiểu cho ông,” thì tôi lại nói, “Cháu hiểu,” cho dù tôi thật lòng không hiểu một chút gì. Tôi không bao giờ lên tìm ông nơi đài quan sát của Tòa nhà Empire State, bởi tôi cảm thấy hạnh phúc hơn nhiều khi tin rằng ông có đó thay vì phải thực sự bước tới nơi kia.

Tôi vẫn tiếp tục tìm kiếm cái ổ khóa sau khi ông nói với tôi rằng ông đã xong, nhưng giờ đây chuyện ấy không còn như xưa nữa.

Tôi đi tới Far Rockaway[11] và Boerum Hill[12] và Long Island.

Tôi đi tới Dumbo[13] và Spanish Harlem[14] và Meatpacking District[15].

Tôi đi tới Flatbush[16] và Tudor[17] và Little Italy[18].

Tôi đi tới Bedford-Stuyvesant[19] và Inwood[20] và Red Hook[21].

Tôi không biết có phải bởi ông Black không còn đồng hành cùng tôi nữa, hay bởi vì tôi đã dành quá nhiều thời gian với người thuê nhà để lên kế hoạch đào mộ của Ba, hay chỉ bởi vì tôi đã tìm kiếm quá lâu mà chẳng được gì, mà tôi không còn thấy tôi đang tiến về phía Ba nữa. Tôi cũng không chắc rằng tôi vẫn còn tin vào cái ổ khóa kia.

Người mang họ Black cuối cùng mà tôi gặp mặt là Peter. Chú ấy sống ở khu Sugar Hill, mà gần với Hamilton Heights, khu Harlem. Tôi trông thấy một người đàn ông đang khom khom dáng người khi tôi tới gần ngôi nhà. Chú ấy đang nựng một em bé trên đầu gối, và chú ấy còn nói chuyện cùng bé, dù các em bé ở tuổi ấy chưa hiểu được ngôn ngữ, dĩ nhiên rồi. “Chú có phải là Peter Black không ạ?” “Ai hỏi thế nhỉ?” “Cháu là Oskar Schell.” Chú ấy vỗ vỗ bàn tay mình xuống bậc thềm, mà có nghĩa là tôi có thể ngồi xuống cạnh chú ấy nếu muốn, mà tôi nghĩ là thật tốt, nhưng tôi vẫn muốn được đứng hơn. “Con chú ạ?” “Ừ.” “Cháu có thể nựng bé gái này không?” “Là em trai đấy.” “Cháu có thể nựng bé trai không?” “Dĩ nhiên rồi,” chú ấy nói. Tôi không tin nổi đầu em bé lại mềm đến thế, và cả đôi mắt nhỏ tí như hòn bi ve của em, và cả những ngón tay mũm mĩm kia nữa. “Em ấy thật dễ bị tổn thương.” “Đúng vậy,” chú Peter nói, “nhưng bọn chú trông nom cho em bé được an toàn.” “Em bé có ăn thức ăn bình thường không ạ?” “Chưa đâu. Hiện giờ em chỉ ăn sữa thôi.” “Em có khóc nhiều không hả chú?” “Có lẽ vậy. Chú nghĩ là bé khóc nhiều đấy.” “Nhưng mà em bé thì không biết buồn đâu, đúng không chú? Bé chỉ thấy đói hay gì đó thôi.” “Chúng ta làm sao biết được.” Tôi thích nhìn cái cách mà em bé nắm bàn tay nhỏ xíu của mình lại. Tôi không biết liệu bé có suy nghĩ hay không, hay em giống với một con vật không có tính người hơn. “Cháu có muốn bế em không?” “Cháu không nghĩ đấy là ý hay đâu.” “Sao lại không?” “Cháu không biết bế em bé ạ.” “Nếu cháu muốn, chú có thể chỉ cho cháu. Dễ lắm.” “Thế thì được ạ.” “Sao cháu không ngồi xuống đây?” chú ấy nói. “Nào. Giờ cháu đưa tay đỡ dưới này. Như thế. Tốt lắm. Giờ thì cháu để một tay đỡ đầu em. Đúng rồi. Cháu cứ bế em ở ngang ngực nhé. Đúng rồi. Như thế đấy. Cháu làm được rồi đấy. Chỉ như thế thôi mà. Em bé đang thích lắm đấy.” “Như thế này có được không ạ?” “Cháu đang làm tốt lắm.” “Tên của em là gì ạ?” “Peter.” “Cháu cứ nghĩ đấy là tên chú.” “Chúng ta đều tên Peter cả.” Điều ấy khiến tôi lần đầu tiên thắc mắc rằng tại sao tôi lại không được đặt theo tên của Ba, dù tôi không hề thấy băn khoăn khi biết người thuê nhà có tên Thomas. Tôi nói, “Chào em, Peter. Anh sẽ bảo vệ em.”

Khi tôi về đến nhà vào chiều hôm đó, tám tháng sau khi bắt đầu tìm kiếm khắp New York, tôi thấy thật mệt mỏi và chán nản và bi quan, cho dù những gì tôi thật sự mong muốn là hạnh phúc.

Tôi đi vào phòng thí nghiệm, nhưng tôi không thấy muốn làm bất kì một thí nghiệm nào. Tôi không muốn chơi lục lạc, hay chơi với Buck-minster, hay sắp xếp các bộ sưu tập, hay xem cuốn Những Điều Xảy Ra Quanh Tôi.

Mẹ và chú Ron đang ngồi với nhau trong phòng sinh hoạt gia đình, cho dù chú ấy chẳng phải là người nhà tôi. Tôi vào bếp và múc kem khử nước ra đĩa. Tôi nhìn vào điện thoại. Cái điện thoại mới. Nó nhìn lại tôi. Bất kỳ khi nào cái điện thoại đổ chuông, tôi đều hét lên, “Có điện thoại này!” bởi vì tôi không muốn phải chạm vào nó. Tôi còn không muốn cùng chung một chỗ với nó nữa kìa.

Tôi ấn vào nút Đọc Tin Nhắn, mà tôi chưa từng làm kể từ cái ngày tồi tệ nhất, và đây là những gì mà cái điện thoại lưu lại.

Tin nhắn một. Thứ Bảy, 11:52 sáng. Xin chào, tin nhắn này cho Oskar Schell. Chào Oskar, cô là Abby Black đây. Cháu vừa mới ghé qua nhà cô để hỏi về chiếc chìa khóa. Cô đã không hoàn toàn thành thật với cháu, và cô nghĩ rằng cô có thể giúp được cháu. Hãy đưa–

Và tin nhắn kết thúc.

Cô Abby là người mang họ Black mà tôi đã ghé thăm, vào tám tháng về trước. Cô ấy sống trong ngôi nhà hẹp nhất New York. Tôi từng nói với cô rằng cô thật đẹp. Và cô cười khúc khích. Tôi nói với cô rằng cô thật sự xinh đẹp. Và cô bảo rằng tôi thật dễ thương. Và cô khóc khi tôi nói với cô rằng voi là loài có tri giác ngoại cảm. Tôi hỏi cô rằng chúng tôi có thể hôn nhau không. Cô không nói rằng cô không hề muốn vậy. Và tin nhắn của cô đã chờ tôi suốt tám tháng qua.

“Mẹ ơi?” “Ừ?” “Con ra ngoài nhé.” “Ừ.” “Con sẽ quay về.” “Ừ.” “Con không biết là khi nào. Có thể là rất muộn.” “Được.” Tại sao mẹ không hỏi han gì tôi? Sao mẹ lại không cố ngăn tôi lại, hay ít nhất là đảm bảo tôi được an toàn?

Bởi vì trời bắt đầu chuyển tối, và bởi vì đường xá lúc này thật đông đúc, nên tôi lao vào một cơ số googolplex những người. Bọn họ là những ai? Bọn họ đang đi đâu về đâu? Bọn họ đang tìm kiếm điều gì? Tôi những muốn được nghe thấy nhịp đập con tim họ, và tôi mong sao họ có thể nghe thấy tiếng lòng tôi.

Ga tàu điện ngầm chỉ cách nhà cô chừng mấy dãy nhà, và khi tôi tới nơi thì cửa nhà đang khép hờ, cứ như thể cô biết rằng tôi sẽ tới, dù thật ra thì cô không thể, đương nhiên rồi. Thế thì tại sao nó lại được mở ra?

“Xin chào? Có ai ở nhà không ạ? Cháu là Oskar Schell.”

Cô ấy đi ra cửa.

Tôi nhẹ nhõm hẳn, bởi vì tôi không tưởng tượng ra cô.

“Cô có còn nhớ cháu không?” “Đương nhiên là cô nhớ chứ, Oskar. Cháu lớn lên nhiều đấy.” “Thật ạ?” “Nhiều lắm. Cao lên bao nhiêu.” “Cháu cứ mải tìm kiếm nên cháu không có thời gian tự đo chiều cao.” “Cháu vào nhà đi,” cô ấy mời. “Cô cứ nghĩ là cháu sẽ không gọi lại cho cô. Cô để lại tin nhắn ấy cho cháu từ rất lâu rồi còn gì.” Tôi bảo cô, “Cháu thấy sợ điện thoại.”

Cô nói, “Cô đã nghĩ về cháu rất nhiều.” Tôi nói, “Tin nhắn của cô.” “Từ nhiều tháng trước à?” “Sao cô lại không thành thật với cháu ạ?” “Cô đã nói với cháu rằng cô không biết gì về cái chìa khóa cả.” “Nhưng cô có biết đúng không?” “Ừ. Ô, không hẳn. Cô không biết. Nhưng chồng cô thì có.” “Thế tại sao cô không nói với cháu khi ta gặp nhau?” “Vì cô không thể.” “Sao lại không?” “Cô không thể.” “Đấy không phải là một câu trả lời đúng nghĩa.” “Chồng cô và cô khi ấy có nhiều xích mích.” “Nhưng đấy là ba cháu mà!” “Và người ấy là chồng cô.” “Ông ấy là tên giết người!”

“Cô muốn làm tổn thương chú ấy.” “Tại sao ạ?” “Bởi vì chú ấy đã làm tổn thương cô.” “Vì sao?” “Bởi vì con người ta hay tổn thương lẫn nhau. Đấy là những gì mà con người vẫn thường làm.” “Nhưng cháu không hề như thế.” “Cô biết.” “Cháu đã mất tám tháng trời để tìm kiếm thứ mà cô có thể nói cho cháu biết chỉ trong tám giây!” “Cô đã gọi cho cháu. Ngay sau khi cháu đi.” “Cô đã làm tổn thương cháu!” “Cô thật lòng xin lỗi.”

Giờ thì sao ạ?” tôi hỏi. “Giờ thì chồng cô ra sao?” Cô ấy nói, “Chú ấy cũng đang đi tìm cháu.” “Chú ấy đang tìm cháu ư?” “Ừ.” “Nhưng cháu đang đi tìm chú ấy mà!” “Chú ấy sẽ giải thích tất cả với cháu. Cô nghĩ cháu nên gọi cho chú ấy.” “Cháu thấy giận cô bởi vì cô đã không nói thật với cháu.” “Cô biết.” “Cô gần như đã hủy hoại đời cháu.”

Chúng tôi ngồi bên nhau thật gần.

Tôi có thể ngửi thấy hơi thở của cô.

Cô nói, “Nếu muốn, cháu có thể hôn cô.” “Gì cơ ạ?” “Cháu từng hỏi cô, vào hôm chúng ta gặp nhau ấy, rằng mình có thể hôn nhau không. Cô nói không, nhưng giờ thì câu trả lời của cô là có.” “Cháu rất xấu hổ về ngày hôm ấy.” “Không có lý do gì để xấu hổ cả.” “Cô không cần phải để cháu hôn cô chỉ vì cô thấy có lỗi với cháu.” “Hãy hôn cô,” cô nói, “và cô sẽ hôn lại cháu.” Tôi hỏi cô, “Thế nếu mình chỉ ôm nhau thì sao?”

Cô ôm tôi vào lòng.

Tôi khóc, và tôi ôm cô thật chặt. Bờ vai cô thấm đẫm nước mắt của tôi và tôi nghĩ, Có lẽ đúng là con người ta có thể cạn vơi nước mắt. Có thể là Bà nội đã đúng về điều đó. Thật dễ chịu khi nghĩ về điều ấy, bởi vì những gì tôi muốn là trở nên trống rỗng.

Và rồi, không vì nguyên cớ gì, tôi phát hiện ra, và mặt đất như sụp xuống dưới chân tôi, và tôi như đang đứng trên hư không.

Tôi vùng dậy.

“Tại sao tin nhắn của cô lại bị ngắt quãng nửa chừng thế?” “Cái gì?” “Tin nhắn của cô trên điện thoại ấy. Nó bị ngưng lại nửa chừng.” “À, đấy là vì mẹ cháu nhấc máy.”

“Mẹ cháu nhấc máy ấy ạ?” “Ừ.” “Và sau đó thì sao ạ?” “Ý cháu là sao?” “Cô có nói chuyện với mẹ cháu không?” “Trong vài phút.” “Cô nói gì với mẹ?” “Cô không còn nhớ nữa.” “Nhưng cô có kể với mẹ là cháu tới chỗ cô không?” “Ừ, có đấy. Cô có làm sai chuyện gì không?”

Tôi không biết liệu cô làm thế có là sai hay không. Và tôi không biết vì sao mà Mẹ lại chẳng nói gì về cuộc nói chuyện ấy, hay là cả tin nhắn nữa.

“Cái chìa khóa? Cô có nói về nó với mẹ cháu không?” “Cô đoán là mẹ cháu đã biết từ trước rồi.” “Và cả sứ mệnh của cháu nữa hay sao?”

Điều này chẳng có ý nghĩa gì cả.

Tại sao Mẹ lại không nói gì với tôi hết?

Hay làm gì cả?

Hay tỏ ra quan tâm?

Nhưng rồi, bỗng nhiên, mọi chuyện thành ra rõ ràng.

Bỗng nhiên tôi hiểu ra vì sao, khi mà Mẹ hỏi rằng tôi đi đâu, và tôi trả lời “Con đi ra ngoài,” và thế là Mẹ không hỏi thêm bất kỳ điều gì khác nữa. Mẹ không cần làm vậy, bởi vì Mẹ biết hết.

Điều ấy cũng dễ hiểu khi cô Ada biết rõ rằng tôi sống ở khu Upper West Side, và rồi cả khi Carol có bánh quy nóng mời tôi khi tôi gõ cửa nhà cô, và rằng doorman215@hotmail.com nói rằng “Chúc may mắn nhé, Oskar” khi tôi rời đi, cho dù tôi chắc chắn tới chín mươi chín phần trăm rằng tôi chưa từng nói với bác ấy tên của mình là Oskar.

Bởi vì họ biết rằng tôi sẽ tới.

Mẹ  đã nói chuyện với tất cả bọn họ trước tôi.

Ngay cả ông Black cũng là một phần trong đó. Ông hẳn biết rằng tôi sẽ gõ vào cánh cửa nhà ông ngày hôm đó, bởi vì Mẹ hẳn đã nói chuyện với ông từ trước. Có thể Mẹ đã nhờ ông cùng đi với tôi, và bầu bạn với tôi, và trông nom tôi. Liệu ông có thực sự thích tôi? Và có phải tất cả những câu chuyện thú vị của ông đều là thật? Cái máy trợ thính của ông có là thật? Cái giường từ tính có là thật? Tất cả những viên đạn và những bông hồng và viên đạn và những bông hồng có là thật?

Toàn bộ quãng thời gian đó.

Tất cả mọi người.

Mọi thứ.

Có thể là cả Bà nội cũng biết.

Có thể là cả người thuê nhà.

Người thuê nhà có phải chỉ là người thuê nhà?

Cuộc tìm kiếm của tôi như thể một vở kịch mà Mẹ đã biên soạn, và Mẹ biết rõ kết cục của nó khi tôi chỉ mới ở điểm khởi đầu.

Tôi hỏi cô Abby, “Có phải cô để cửa mở bởi cô biết cháu sẽ tới hay không?” Cô không nói gì trong vài giây. Rồi cô trả lời, “Đúng vậy.”

“Chồng cô đang ở đâu?” “Chú ấy không phải là chồng cô.” “Cháu chẳng. Hiểu. GÌ CẢ!” “Chú ấy là chồng cũ của cô.” “Chú ấy đang ở đâu ạ?” “Chú ấy đang làm việc.” “Nhưng giờ là tối Chủ Nhật mà.” Cô ấy nói, “Chú ấy làm nghiên cứu thị trường nước ngoài.” “Cái gì cơ ạ?” “Giờ là sáng thứ Hai ở Nhật.”


[1] Antonin Gregory Scalia, sinh ngày 11 tháng 3 năm 1936 là một  Thành viên Tư pháp của Tòa án Tối cao Hoa Kỳ. Ông được chỉ định vào Tòa án Tối cao bởi Tổng thống Ronald Reagan vào năm 1986, Scalia được biết đến như là  người có trí tuệ uyên thâm của Tòa án Tối cao đầy bảo thủ.

[2] Leslie George Scarman, Baron Scarman, OBE, PC (29/7/1911 – 8/12/2004) là thẩm phán và luật sư người Anh, từng là thượng nghị sĩ đặc trách công tác pháp luật ở nghị viện cho tới khi về hưu vào năm 1986.

[3] Maurice Scève (1501 – 1564) là nhà thơ người Pháp sống chủ yếu tại Lyon trong thời kỳ Phục hưng. Ông là nhà tiên phong của trường phái Lyon mà khởi xướng luận thuyết tình yêu thiêng liêng, được phát triển một phần từ các quan điểm của Plato và một phần từ Petrarch.

Các tác phẩm chính của Scève gồm có Délie, objet de plus haulte vertu (1544); bài hát bi thán Arion (1536) và bài hát đối ngắn La Saulsaye (1547); và Microcosme (1562). Có không ít các ý kiến châm trích Scève cho tới tận cuối thế kỷ 19, dù ông được đánh giá cao bởi Du Bellay, Ronsard, Pontus de Tyard và Des Autels vì đã đưa nghệ thuật thơ Pháp lên một tầng cao mới. Ông mất sau năm 1560; ngày tháng cụ thể không được biết đến.

[4] Anne Wilson Schaef, Tiến sỹ triết học, tác giả của Women’s Reality and Co-Dependence (tạm dịch: Sự thực tế và tính tương tác của phụ nữ), giảng viên, chuyên gia tư vấn tổ chức, chuyên gia điều trị tâm lý, chuyên gia hướng dẫn cao cấp của Living Process Facilitation. Bà hiện sinh sống tại Boulder, Colorado, Hoa Kỳ.

[5] Jack Warner Schaefer (19/11/1907 –24/1/1991) là nhà văn Mỹ nổi tiếng trong thế kỷ 20 với những câu truyện về miền Viễn Tây. Tác phẩm nổi nhất của ông là Shane, chính tác phẩm này đã được dựng thành bộ phim kinh điển cùng tên, và tập truyện ngắn “Stubby Pringle’s Christmas” (1964).

[6] Iris Scharmel (23/8/1889 – 24/10/1909) nhà thơ Công giáo người Mỹ gốc Ý đầy tham vọng, người khởi đầu sự nghiệp của mình như là một người giả mạo và nghệ sĩ giả danh tại Chicago, và đã dành nhiều nỗ lực sáng tạo để đạt được danh tiếng. Iris sinh tại nước Ý vào năm 1889 và chuyển tới Chicago khi lên ba, nơi ông công bố tác phẩm đầu tiên vào năm 1905. Iris không bao giờ từ bỏ mục tiêu trở thành nhà thơ vĩ đại của nước Mỹ, cho dù mong ước này đã khiến ông rời vào cảnh khánh kiệt. Để thúc đẩy sự thành công, ông đã sử dụng cái tên giả Vincent Holme để tự gửi thư khen ngợi các tác phẩm mình tới nhà xuất bản, hoặc cố gắng gây quỹ bảo trợ. Ngoài ra, ông còn viết các bức thư tuyên bố mình là bạn hoặc họ hàng của các nghệ sĩ nổi tiếng như T.S. Eliot, W.B. Yeats, Salvador Dali, và Pablo Picasso. Các kiểu giả mạo này đã phát huy tác dụng, và tác phẩm của Iris được đăng tải trên Poetry Magazine và được tờ báo Chicago viết bài bình luận. Ông cũng từng lấy trường Lewis College làm địa chỉ nhà mình, giả vờ như là một giảng viên tại trường này, và ông cũng đã thực sự chuyển vào sinh sống trong trường. Khi bị phát hiện ra ông đã bị đuổi khỏi trường năm 1966, và mất vào năm 1967.

[7] Robert Haven Schauffler (8/4/1879 – 24/11/1964) là nhà văn người Mỹ, nghệ sĩ cello và được phong tặng danh hiệu anh hùng trong Thế chiến I (huân chương Purple Heart). Schauffler xuất bản các tập thơ, sách tiểu sử về Beethoven, Brahms, Schumann và hàng loạt sê ri sách về các ngày lễ của Mỹ.

[8] Barry C. Scheck (sinh ngày 19/9/1949) là luật sư người Mỹ. Ông nhận được sự chú ý của dư luận vì biện hộ trong vụ án của O.J. Simpson, giúp cho bị cáo được tuyên bố trắng án trong vụ giết người. Scheck là giám đốc của Dự án vì người vô tội và là giảng viên tại trường Benjamin N. Cardozo thuộc New York.

[9] Angelus Silesius hay Johann Angelus Silesius (tên thật: Johann Scheffler; 25/12/1624 – 9/7/1677) là linh mục và nhà vật lý người Đức, còn được biết đến như một nhà thơ mộ đạo và bí ẩn và. Được sinh ra và nuôi dưỡng theo thuyết Lutheran, ông lấy tên là Angelus (tiếng Latin có nghĩa là “sứ giả”) và tên tên họ Silesius (từ Latin cho “Silesian”) khi cải đạo Thiên chúa vào năm 1653.

[10] Jean de Schelandre (1585 – 18/10/1635), Seigneur de Saumazènes, nhà thơ người Pháp.

[11] Far Rockaway: khu dân cư nằm ở cực đông của Bán đảo Rockaway Peninsula thuộc quận Queens, thành phố  New York. Khu vực này bắt đầu từ đường biên hạt Nassau và kéo dài sang phía tây tới tận bờ biển nằm bên Phố 32. Cái tên “Rockaway” có thể có nghĩa là “vùng đất cát” theo ngôn ngữ Munsee của người Da đỏ Lenape. Các tên gọi khác được biết đến còn có Requarkie, Rechouwakie, Rechaweygh, Rechquaakie và Reckowacky

[12] Boerum Hill: khu vực dân cư nhỏ nằm ở phía tây bắc của quận Brooklyn, New York, giới hạn bên trong Đường Schermerhorn Street ở phía bắc và Đại lộ 4 ở phía đông. Phần ranh giới phía tây có thể là đường Smith hoặc Court, và đường Warren hoặc Wyckoff ở phía nam.

[13] Dumbo (Down Under the Manhattan Bridge Overpass), là khu dân cư thuộc quận Brooklyn, New York. Nó bao gồm 2 khu vực: 1 khu vực nằm giữa Manhattan và Cầu Brooklyn Bridges, mà kết nối Brooklyn với Manhattan qua Sông East, và khu vực kia kéo dài ở phía đông từ cây cầu Manhattan Bridge tới khu vực Vinegar Hill.

[14] Khu East Harlem, còn được biết đến với tên gọi Spanish Harlem hay El Barrio, là một khu dân cư thuộc Upper Manhattan, New York City bao phủ vùng phía bắc là Đường 96 và phía đông của Đại lộ 5 tới sông  East Rivers và sông Harlem Rivers. Đây là một trong những khu vực tập trung cộng đồng người La Tinh lớn nhất New York, phần lớn là người Puerto Rica, và các nơi khác như Dominica, Salvador, Mexico. Đây cũng là nơi tập trung nhiều người gốc Ý sinh sống. Từ năm 2000, số lượng người gốc Hoa sinh sống ở nơi này cũng bắt đầu tăng lên.

Khu vực East Harlem của New York là nơi vấp phải nhiều vấn đề xã hội phức tạp, như tỉ lệ thất nghiệp cao nhất, bà mẹ vị thành niên, AIDS, ma túy, vô gia cư, và tỉ lệ người mắc bệnh hen suyễn cao gấp 5 lần so với mức trung bình của quốc gia. Đây cũng là khu vực có tỉ lệ phạm tội cao nhất trong Manhattan.

[15] Meatpacking District  là khu dân cư thuộc quận Manhattan, New York chạy từ Đường 14 ở phía tây tới Đường Gansevoort ở phía nam, và từ sông Hudson River ở phía đông tới Đường Hudson.

[16] Flatbush: một cộng đồng gồm nhiều khu dân cư ở Brooklyn, New York. Cái tên Flatbush được Anh hóa từ tiếng Hà Lan Vlacke bos (vlacke = vlak = phẳng; “miền rừng phẳng” hay “khu rừng miền đồng bằng”). Cộng đồng Flatbush chứng kiến sự đổ bộ của người nhập cư từ Caribbean, phần lớn là người Haiti, Trinidad and Tobago, Jamaica, Grenada, Guyana, Barbados, Saint Lucia, Saint Vincent và Grenadines, Dominica, Antigua and Barbuda, Saint Kitts và Nevis và Belize, kể từ những năm 1980, cũng như là những người Nam Á, mà chủ yếu là người Ấn Độ, Pakistan và Bangladesh và các nước châu Phi như Ghana, Zimbabwe, Nigeria, và Kenya. Haiti là cộng đồng dân tộc thiểu số lớn nhất tại Flatbush. Trước khi có sự xuất hiện của những nhóm người này, cộng đồng Flatbush vốn đã rất đa dạng, với những người đến từ Ý, người Mỹ – Phi, và người Do Thái.

[17] Tudor: khu dân cư nằm ở East Manhattan, New York.

[18] Little Italy khu vực sinh sống của người nhập cư Italy tại New York. Trong thành phố New York có khá nhiều khu vực được gọi là Little Italy như: Little Italy, Manhattan; Little Italy, thuộc quận Bronx; Bensonhurst, Brooklyn; Howard Beach, Queens; Rosebank, đảo Staten Island (44% dân cư của quận này là người gốc Ý).

[19] Bedford–Stuyvesant (còn được biết đến như Bed-Stuy) là khu dân cư với quy mô khoảng 153,000 người thuộc phía bắc khu trung tâm quận Brooklyn, New York City. Bedford–Stuyvesant được bao quanh bởi Đại lộ Flushing Avenue ở phía bắc; Đại lộ Classon ở phía tây (quanh đồi Clinton Hill); Broadway ở phía đông; và Đường Fulton ở phía nam.

Trong nhiều thập kỷ, Brooklyn từng là trung tâm văn hóa cho cộng đồng người da đen. Khi đường tàu điện ngầm Harlem và Bedford được xây dựng vào năm 1936, người Mỹ gốc Phi đã rời khỏi khu vực đông đúc Harlem để chuyển tới  Bedford–Stuyvesant. Rồi từ Bedford–Stuyvesant, họ chuyển tới các khu vực phụ cận Brooklyn khác, như East New York, Crown Heights, Brownsville và Fort Greene.

[20] Inwood khu vực dân cư nằm ở phía bắc của đảo Manhattan Island, thuộc quận Manhattan, New York.

[21] Red Hook: khu dân cư thuộc quận Brooklyn, New York.

//

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: