EXTREMELY LOUD & INCREDIBLY CLOSE (27)

Ảnh

VÌ SAO TA KHÔNG Ở BÊN CON 9/11/03 (3)

Ta dành phần lớn thời gian đi dạo quanh thành phố, làm quen với nó thêm một lần nữa, ta đi tới tiệm Columbian Bakery ngày xưa nhưng giờ nó không còn đấy nữa, ở vị trí ấy giờ là một cửa hàng tiện dụng chín mươi chín cent nơi mà mọi thứ đều có giá hơn chín mươi chín cent trên thực tế. Ta ghé qua cửa hàng may nơi ta từng mua quần, nhưng giờ đây nó là một nhà băng, để qua cửa con cần phải có thẻ ra vào, ta bước đi hàng giờ, xuống ở bên này Broadway và quay lên ở phía bên kia, nơi từng có một ông thợ sửa đồng hồ ngồi cặm cụi mỗi ngày giờ đã thành cửa hàng băng đĩa, nơi từng là hàng hoa giờ đã thành cửa hàng bán đĩa game, nơi từng là hàng thịt giờ đã thành quầy sushi, mà sushi là gì, và điều gì đã xảy ra với tất cả những chiếc đồng hồ hỏng kia? Ta dành hàng giờ cho cuộc đua chó bên sân của bảo tàng lịch sử tự nhiên, một con pit bull[1], một con Labrador[2], một con golden retriever[3], ta là người duy nhất không mang theo chó bên mình, ta suy nghĩ và suy nghĩ, làm sao ta có thể tiếp cận được với Oskar từ rất xa như thế, làm sao ta có thể công bằng với con và công bằng với mẹ con và công bằng với chính bản thân ta, ta những muốn mang theo cánh cửa tủ bên mình để ta luôn có thể nhìn thấy thằng bé qua lỗ khóa, ta đã làm điều tốt đẹp nhất tiếp theo. Ta tìm hiểu cuộc sống của thằng bé từ khoảng cách xa, khi nào thì thằng bé tới trường, khi nào thì thằng bé về nhà, bạn bè của thằng bé sống ở nơi nào, những cửa hàng mà thằng bé thường thăm viếng, ta theo chân thằng bé khắp thành phố, nhưng ta không hề phản bội mẹ con, bởi vì ta không bao giờ để thằng bé biết được rằng ta ở đó. Ta cứ nghĩ mọi chuyện sẽ tiếp tục như thế mãi mãi, rồi một lần nữa ta lại biết được mình đã sai. Ta không nhớ được khi điều lạ lùng ấy lần đầu tiên đến với ta, thằng bé ra ngoài nhiều ra sao, thằng bé đã đi tới bao nhiêu nơi, tại sao ta lại là người duy nhất dõi theo thằng bé, làm sao mà mẹ thằng bé lại cho phép nó một mình lang thang xa đến thế. Vào mỗi sáng cuối tuần, thằng bé rời nhà với một ông già và đi gõ cửa các ngôi nhà quanh thành phố, ta lập một bản đồ về những nơi mà họ đã ghé qua, nhưng ta không tìm ra được một ý nghĩa nào trong đó cả, bọn họ đang làm gì vậy? Và ông già đó là ai, một người bạn, một ông giáo, một người thay thế cho vị trí thiếu khuyết của người ông này? Và tại sao họ lại chỉ dừng lại một vài phút ở mỗi một căn hộ, họ đang bán thứ gì, hay đang thu thập thứ thông tin gì? Và bà thằng bé biết được những gì, có phải ta là người duy nhất lo lắng về thằng bé? Và sau khi họ rời đi, trên Đảo Staten, ta đợi chờ và gõ vào cánh cửa, “Tôi không thể tin được,” người phụ nữ nói, “thêm một vị khách nữa!” “Tôi xin lỗi,” ta viết, “tôi không nói được. Thằng bé vừa rời đi là cháu nội tôi. Bà có thể vui lòng cho tôi biết thằng bé đã làm gì ở đây không?” Người phụ nữ bảo với ta, “Gia đình ông thật là kỳ lạ quá.” Ta nghĩ, Thật đúng là như vậy. “Tôi vừa mới nói chuyện điện thoại với mẹ cậu bé.” Ta viết, “Tại sao thằng bé lại tới đây?” Bà ấy trả lời, “Vì chiếc chìa khóa.” Ta hỏi, “Chiếc chìa khóa nào nhỉ?” Bà ấy trả lời, “Để mở ổ khóa.” “Ổ khóa nào cơ ạ?” “Ông không biết gì sao?” Trong suốt tám tháng trời ta đi theo thằng bé và nói chuyện với tất cả những người mà thằng bé vừa mới nói chuyện, ta cố gắng tìm hiểu về thằng bé cũng như việc thằng bé gắng tìm hiểu về con, như thằng bé cố gắng kiếm tìm con, như là con cố gắng tìm kiếm ta, điều ấy khiến con tim ta tan vỡ thành muôn mảnh, tại sao con người ta lại không thể nói ra những điều mà họ muốn nói vào đúng thời điểm của nó? Vào một buổi chiều ta theo chân thằng bé xuống trung tâm thành phố, chúng ta ngồi đối diện nhau trong ga tàu điện ngầm, ông già kia ngước nhìn ta, có phải ta chăm chú nhìn ông ta, có phải ta giơ tay ra trước mình, liệu ông ta có biết ta đáng lý ra phải là người duy nhất ngồi bên Oskar khi ấy? Họ đi tới tiệm cà phê, trên đường về ta lạc bóng họ, chuyện này cứ diễn ra suốt, thật khó để tiến lại gần nếu không muốn người khác chú ý tới mình, và ta sẽ không phản bội bà ấy. Khi ta quay trở lại khu Upper West Side ta ghé vào một tiệm sách, ta không thể quay trở về ngôi nhà vội, ta cần thời gian để suy nghĩ, cuối lối đi ta nhìn thấy một người đàn ông mà ta nghĩ hẳn phải là Simon Goldberg, ông ta cũng đứng trong khu vực sách dành cho thiếu nhi, càng nhìn ông ta, ta càng cảm thấy không chắc chắn, ta lại càng muốn rằng đó là ông ấy hơn, có phải ông ta đang làm việc thay vì đi về phía cái chết của mình? Bàn tay lắc những đồng tiền lẻ trong túi, ta cố không nhìn chằm chằm, ta cố không đưa tay ra trước mặt, có thể không, liệu ông ấy có nhận ra ta không, ông ta từng viết rằng, “Và ta hi vọng rằng chúng ta sẽ còn gặp lại nhau dù con đường chúng ta đi thật gập ghềnh và gian khó.” Năm mươi năm sau đó ông ấy vẫn đeo cặp kính dày cộm ấy, và ta chưa từng thấy một chiếc áo nào trắng hơn thế, ông ấy phải khó khăn lắm mới rời xa được những cuốn sách kia, ta bước tới chỗ ông ấy. “Tôi không nói,” ta viết, “tôi xin lỗi.” Ông ấy vòng tay quanh người và ôm lấy ta, ta có thể nghe thấy tiếng tim ông ấy đập cạnh trái tim ta, chúng đang cố hòa thành một nhịp, không nói một lời nào ông ấy quay người và chạy thật nhanh, khỏi cửa hàng, vào lòng phố, ta không thể chắc chắn đấy có phải là ông ấy hay không, ta cần có một quyển sổ trắng tinh thật dày và tất cả thời gian còn lại… Ngày tiếp theo, Oskar và ông già kia đi tới Tòa nhà Empire State, ta đợi họ trên phố. Ta nhìn lên, cố gắng tìm thằng bé, cổ ta nhức mỏi, có phải thằng bé cũng đang cúi xuống nhìn ta, có phải chúng ta cùng chia sẻ một điều gì đó mà cả hai chúng ta đều không biết đến? Sau một giờ, cánh cửa thang máy mở ra và ông già kia xuất hiện, chẳng lẽ ông ta đã bỏ lại Oskar trên đó, trên cao tít tắp, thật cô đơn, liệu có ai trông nom thằng bé. Ta cảm thấy mới căm ghét ông già đó làm sao. Ta bắt đầu viết gì đó, ông ta tiến lại chỗ ta và tóm lấy cổ áo ta, “Nghe này,” ông ta nói, “tôi không biết ông là ai, nhưng tôi đã trông thấy ông đi theo chúng tôi, và tôi không thích chuyện này tí nào cả đâu. Không hề. Và tôi chỉ nói với ông một lần này thôi đấy, rằng hãy tránh xa chúng tôi ra.” Cuốn sổ của ta rơi xuống đất, nên ta chẳng nói gì được. “Nếu như tôi còn trông thấy ông lần nữa, ở bất kỳ nơi nào mà ở gần thằng bé –” Ta chỉ tay xuống đất, ông ta thả tay khỏi cổ áo ta, ta nhặt cuốn sổ lên và viết, “Tôi là ông nội của Oskar. Tôi không nói chuyện được. Tôi xin lỗi.” “Ông thằng bé ư?” Ta lật lại cuốn sổ và chỉ vào những gì ta vừa viết, “Thằng bé ở đâu?” “Oskar làm gì có ông nội.” Ta chỉ vào trang giấy. “Thằng bé đang leo bộ xuống.” Ta nhanh chóng giải thích mọi điều theo một cách rõ ràng nhất có thể, chữ viết của ta trở nên khó đọc, ông ta nói, “Oskar không nói dối tôi đâu.” Ta viết, “Thằng bé không nói dối. Thằng bé không hề biết chuyện này.” Ông già lôi chiếc vòng cổ trong áo ra và nhìn vào nó, mặt dây chuyền là một cái la bàn, ông ta nói, “Oskar là bạn của tôi. Tôi phải nói cho thằng bé biết thôi.” “Thằng bé cũng là cháu nội của tôi nữa. Tôi xin ông đừng làm vậy.” “Ông đáng lý ra phải là người duy nhất đi cùng thằng bé mới phải.” “Tôi đã làm vậy.” “Thế còn mẹ thằng bé thì sao?” “Có chuyện gì về mẹ thằng bé vậy?” Chúng ta nghe thấy tiếng Oskar hát từ một khúc quanh, giọng thằng bé mỗi lúc một to hơn, ông già nói, “Nó là một thằng bé ngoan,” và bỏ đi. Ta đi thẳng về nhà, căn nhà trống trơn. Ta nghĩ tới việc đóng gói đồ đạc, ta nghĩ đến việc lao ra từ ô cửa sổ, ta ngồi xuống bên giường và suy nghĩ, và ta nghĩ về con. Thức ăn nào được con thích nếm, bài hát nào mà con thích nghe, cô gái nào từng được con trao cho nụ hôn đầu, và ở đâu, và như thế nào, ta chạy ra khỏi phòng, ta cần một cuốn sổ trắng tinh thật dày và mãi mãi, ta không biết bao nhiêu thời gian đã trôi qua, nhưng điều này còn quan trọng chi nữa, ta đã đánh mất tất cả những lý do để theo dõi sát sao. Có ai đó nhấn chuông cửa, ta không đứng dậy, ta chẳng bận tâm dù đó là ai đi chăng nữa, ta chỉ muốn được ở một mình, ở bên kia của khung cửa sổ. Ta nghe thấy tiếng cửa mở, và ta nghe thấy giọng thằng bé, lý do tồn tại của ta, “Bà ơi?” Thằng bé đang ở trong căn hộ, chỉ còn lại hai chúng ta, ông và cháu. Ta nghe thấy tiếng bước chân thằng bé đi từ căn phòng này sang căn phòng khác, dịch chuyển đồ đạc, mở ra rồi đóng lại, thằng bé đang tìm kiếm thứ gì, tại sao nó lại cứ luôn tất bật kiếm tìm một điều gì đó? Thằng bé đến trước cửa phòng ta, “Bà ơi?” ta không hề muốn phản bội bà ấy, ta tắt đèn, ta lo sợ điều gì cơ chứ? “Bà ơi?” Thằng bé bắt đầu khóc, đứa cháu của ta đang khóc. “Làm ơn. Cháu thực sự cần được giúp đỡ. Nếu như ông có ở đó, làm ơn hãy bước ra.” Ta bật đèn lên, tại sao ta lại phải sợ sệt thêm nữa? “Làm ơn.” Ta mở cửa và chúng ta nhìn vào nhau, ta đối diện với chính mình, “Ông có phải là người thuê nhà không?” Ta quay vào phòng và lấy cuốn sổ này từ trong tủ, cuốn sổ đã gần như kín chữ, ta cầm nó tới chỗ thằng bé và viết, “Ta không nói. Ta xin lỗi.” Ta cảm thấy thật may mắn khi thằng bé nhìn ta, thằng bé hỏi ta là ai, ta không biết phải nói gì với nó, ta mời thằng bé vào phòng, thằng bé hỏi rằng liệu ta có phải là người lạ, ta không biết phải nói gì với nó, thằng bé vẫn còn khóc, ta không biết làm sao để ôm thằng bé vào lòng, ta sắp hết chỗ để viết rồi. Ta dắt thằng bé đến bên giường, thằng bé ngồi xuống, ta không hỏi thằng bé câu nào cả hay bảo thằng bé rằng ta đã biết hết mọi chuyện, chúng ta không nói về những điều quan trọng, chúng ta không trở thành bạn bè, ta có thể là bất kỳ ai đó, thằng bé bắt đầu kể từ đầu, câu chuyện về cái bình hoa, cái chìa khóa, về Brooklyn, về Queens, ta biết hết rồi những điều này, rất rõ. Ôi đứa trẻ tội nghiệp, thổ lộ hết những điều này với một người xa lạ, ta những muốn dựng lên những bức tường bao quanh thằng bé, ta những muốn phân cách những thứ bên trong ấy với thế giới bên ngoài kia, ta những muốn trao cho thằng bé một cuốn sổ trắng thật dày và toàn bộ quãng thời gian còn lại, thằng bé kể ta nghe thằng bé vừa lên trên đỉnh Tòa nhà Empire State, và người bạn già đã nói rằng ông ấy không muốn tiếp tục nữa như thế nào, ta nào có cầu mong gì điều ấy, nhưng nếu như điều ấy là cần để cho cháu nội ta nhìn mặt ta, thì như thế thật là xứng đáng, dù cái giá có là gì đi nữa. Ta những muốn chạm vào thằng bé, và nói với nó rằng cho dù nếu như tất cả mọi người đều bỏ đi, thì ta sẽ luôn ở bên thằng bé, thằng bé nói và cứ nói liên hồi, những từ ngữ rơi rụng quanh thằng bé, cố gắng chạm vào sàn nhà đau thương của thằng bé, “Ba cháu,” thằng bé nói, “Ba cháu,” thằng bé chạy sang bên kia đường và quay trở lại với một cái điện thoại. “Đây là những lời cuối cùng của ba cháu.”

TIN NHẮN THỨ NĂM.

10:22 SÁNG. B ĐÂY                 BA ĐÂ.  CHẾT TIÊ            BA ĐÂ. NẾU BIẾT

NGHE BẤT KỲ     RẰNG BA

XIN CHÀO?                    CÓ NGHE THẤY BA KHÔNG? BỌN BA                    TỚI

SÂN THƯỢNG      MỌI THỨ    OK     ỔN     SỚM THÔI

XIN LỖI                 NGHE BA              NHIỀU

XẢY RA,                         NHỚ RẰNG –

Tin nhắn bị cắt đứt gữa chừng, con thật bình thản, con không có vẻ gì như một người sắp chết, ta ước gì chúng ta có thể ngồi bên bàn và nói chuyện về những điều vô nghĩa trong nhiều giờ, ta ước gì chúng ta có thể cùng lãng phí thời gian, ta muốn một quyển sổ hoàn toàn mới và toàn bộ thời gian còn lại. Ta dặn Oskar tốt nhất không nên để cho bà nó biết được cuộc gặp gỡ giữa chúng ta, thằng bé không hề hỏi tại sao, và ta lo lắng liệu thằng bé đã biết những gì, ta bảo thằng bé nếu như nó mốn nói chuyện với ta bất kỳ lúc nào, nó chỉ việc ném sỏi vào cửa sổ của phòng dành cho khách và ta sẽ xuống gặp nó nơi góc phố, ta sợ hãi vì có thể sẽ không được gặp thằng bé nữa, được thấy thằng bé nhìn ta, đó có thể là lần đầu tiên mẹ con và ta làm tình với nhau kể từ khi ta quay trở lại, và cũng là lần cuối cùng, nó không có vẻ gì còn giống như lần cuối cùng trước đây nữa, ta từng hôn Anna lần cuối, từng nhìn thấy cha mẹ mình lần cuối, từng nói chuyện lần cuối, tại sao ta lại không học được cách đối xử với mọi thứ như thể đó là lần cuối, niềm hối hận lớn nhất trong ta là ta đã quá tin tưởng vào tương lai, bà ấy nói, “Tôi cho ông thấy thứ này,” bà ấy dắt ta vào căn phòng ngủ thứ hai, bàn tay của bà ấy đang nắm chặt lấy CÓ, bà ấy mở cửa ra và chỉ vào chiếc giường, “Đây là nơi mà con từng ngủ,” ta chạm vào tấm đệm, ta ngồi xuống sàn nhà và ngửi mùi chiếc gối, ta muốn mọi thứ thuộc về con mà ta có thể có được, ta muốn cả bụi bặm kia nữa, bà ấy nói, “Rất lâu, rất lâu rồi. Ba mươi năm trước.” Ta nằm lên giường, ta muốn được cảm nhận những điều mà con từng cảm nhận, ta muốn kể con nghe tất cả, bà ấy nằm xuống bên ta, bà ấy nói, “Ông có tin vào thiên đàng và địa ngục hay không?” ta giơ lên bàn tay phải, “Tôi cũng vậy,” bà ấy nói, “tôi nghĩ sau này cũng giống như trước đây mình từng sống,” bà ấy xòe tay ra, ta đặt CÓ vào bàn tay ấy, bà ấy nắm các ngón tay lại quanh tay ta, bà ấy nói, “Cứ nghĩ về tất cả những thứ vẫn chưa được sinh ra. Tất cả những đứa trẻ. Có những đứa trẻ sẽ chẳng bao giờ được sinh ra. Thật là buồn đúng không?” Ta không biết được liệu như thế có phải là rất buồn, tất cả những ông bố và bà mẹ chưa có diễm phúc được gặp gỡ những thiên thần bé nhỏ, tất cả những sự mất mát, ta nhắm mắt lại, và bà ấy nói, “Chỉ vài ngày trước trận bom, cha dắt tôi ra căn nhà tạm. Cha cho tôi uống thử một ngụm whiskey và cho tôi rít thử một hơi xì gà. Điều ấy khiến cho tôi thấy mình như đã thành người lớn, thật đặc biệt. Cha hỏi tôi có biết gì về tình dục hay không. Tôi sặc rượu và sặc thuốc lá. Cha tôi cười và cười và rồi tỏ ra nghiêm túc. Ông hỏi tôi có biết cách thu xếp hành lý, và rằng tôi có biết không bao giờ được phép chấp nhận lời đề nghị đầu tiên, và nếu tôi có biết cách nhóm lửa nếu tôi bắt buộc phải làm vậy. Tôi yêu cha nhiều lắm. Tôi yêu cha vô hạn, vô hạn. Nhưng tôi không biết phải làm sao để nói được điều đó với ông.” Ta ngoảnh đầu lại, ta tựa đầu vào bờ vai bà ấy, bà ấy chạm tay vào má ta, như cái cách mà mẹ vẫn thường làm với ta, mọi điều mà bà ấy làm đều gợi cho ta nhớ về một ai đó, “Thật đáng hổ thẹn,” bà ấy nói tiếp, “vì cuộc đời này sao mà quý giá thế.” Ta quay mặt lại và vòng tay ôm lấy bà ấy, ta sắp hết chỗ để viết rồi, ta nhắm mắt lại và hôn bà ấy, bờ môi bà ấy cũng giống như bờ môi của mẹ ta, và bờ môi của Anna, và cả bờ môi của con nữa, ta không biết làm sao để có thể ở bên bà ấy và cùng bà ấy. “Chuyện này làm chúng ta lo lắng,” bà ấy nói, cởi từng cúc áo, ta cũng tự mình cởi từng cúc áo, bà ấy cởi quần, ta tự cởi quần mình, “Chúng ta lo nghĩ quá nhiều,” ta chạm vào bà ấy, và chạm vào tất cả những người còn lại, “Đó là điều mà ta vẫn thường làm,” chúng ta làm tình, cho lần cuối cùng, ta cùng bà ấy và cùng tất cả mọi người, khi bà ấy bước vào phòng tắm một vệt máu ở lại trên tấm trải giường, ta trở về ngủ trong căn phòng dành cho khách, có quá nhiều điều mà con sẽ chẳng bao giờ biết. Vào sáng hôm sau ta bị đánh thức bởi tiếng sỏi đập lộp cộp vào ô kính cửa sổ, ta nói với mẹ con rằng ta muốn đi dạo, bà ấy không hỏi han gì, bà ấy đã biết những gì, tại sao bà ấy lại để cho ta vuột khỏi tầm mắt của mình như thế? Oskar đang đợi ta bên cột đèn đường, thằng bé nói, “Cháu muốn đào mộ ba lên.” Ta gặp thằng bé mỗi ngày trong hai tháng vừa qua, chúng ta lên kế hoạch về những điều có thể diễn ra, chi li tới từng chi tiết nhỏ nhặt nhất, thậm chí chúng ta còn tập đào xới giữa công viên Central Park, các chi tiết bắt đầu gợi cho ta nhớ về những điều tồi tệ, ta không thể ăn năn  bàn tay run rẩy, và mẹ con cho ta ăn,và và ta lên kế hoạch, ta rất sợ hãi và lo lắng và ta không biết phải làm như thế nào, ước gì có con ở đây bên ta và tgiuosddkkvaf giúp ta biết phảitakhoong  confbieets phải làm sao nữa nhưng mà ta nghĩ rằng ta có thể xoay sở đư


[1] pit bull là tên gọi chung dùng để chỉ loài chó có những đặc điểm tương tự nhau. Và tên gọi này thường được dùng cho một số nòi như American Pit Bull Terrier, American Staffordshire Terrier, Staffordshire Bull Terrier, Bull Terrier hay là những con được lai tạo từ những nòi này. Ở một số nơi trên thế giới, chó Bull của Mỹ và Dogo Argentino cũng được xếp vào dòng chó Pit Bull, cho dù không thật sự chính xác. Nói chung loài chó được gọi là “pitbull” nếu chúng có đặc điểm cái đầu có hình dạng khá vuông. Đây là một loài chó dữ và đã từng gây ra không ít những tai nạn khủng khiếp.

[2] Chó Labrador Ritriever (hay còn được gọi là Labrador hoặc Lab) là một trong nhiều loại chó tha mồi, một loại gun dog. Đặc điểm của chúng là bàn chân có màng để bơi, phục vụ cho mục đích kéo lưới đánh cá ban đầu. Chúng rất phổ biến tại Mĩ, Canada, Anh và nhiều nước khác, cũng như được sử dụng bới cảnh sát cho mục đích làm việc. Thông thường, chúng thích thể thao, bơi lội, các trò chơi bắt và tha mồi, tốt với trẻ nhỏ. Loại chó này thường có lông màu vàng hoặc đen.

[3] Golden Retriever là giống chó có kích thước trung bình. Thuộc họ nhà chó ưa hoạt động, chơi đùa, chúng rất trung thành và thông minh. Chúng còn có tên gọi khác là chó săn mồi hoặc chó tha mồi. Golden Retriever là loài chó có bản năng truy tìm và phát hiện con mồi rất nhạy bén nên có thể làm chó đặc vụ để dò tìm ma túy,… Đặc điểm chung của loài này là rất hiền lạnh và thông minh, trung thành và thích chơi đùa.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: