EXTREMELY LOUD & INCREDIBLY CLOSE (24)

Ảnh

SỐNG VÀ CÔ ĐƠN (3)

“Và rồi cháu sang đây ngay, và giờ thì cháu chẳng biết phải làm gì.”

Trong khi tôi kể cho người thuê nhà nghe, ông ấy liên tục gật đầu và nhìn vào mặt tôi. Ông ấy nhìn tôi chăm chú đến mức tôi lo lắng rằng liệu ông có nghe hết được những điều mà tôi nói hay không, hay là ông ấy đang cố nghe thứ gì đó thật yên tĩnh nằm bên dưới những lời tôi nói, kiểu như cái máy dò kim loại, nhưng là sự thật thay vì kim loại vậy.

Tôi bảo với ông ấy, “Cháu đã tiến hành tìm kiếm hơn sáu tháng, và cháu chẳng biết một điều gì cả về những điều mà cháu không biết vào sáu tháng trước đó. Và thật ra cháu có kiến thức tiêu cực, bởi vì cháu bỏ toàn bộ các buổi học tiếng Pháp với thầy Marcel. Ngoài ra cháu còn phải nói tới một googoplex những lời dối trá, mà điều ấy khiến cháu cảm thấy bản thân mình chẳng tốt đẹp gì cho cam, cháu đã gây phiền phức cho rất nhiều người mà đáng lý ra cháu đã có thể thực sự trở thành bạn họ, cháu giờ đây cảm thấy nhớ ba nhiều hơn so với lúc ban đầu rất nhiều, cho dù toàn bộ chuyện này là nhằm ngừng nhớ tới ba.”

Tôi bảo với ông ấy, “Chuyện này bắt đầu khiến cháu cảm thấy rất đau.”

Ông ấy viết, “Chuyện gì?”

Rồi tôi làm cái điều mà ngay cả chính bản thân mình cũng phải ngạc nhiên. Tôi nói, “Đợi cháu,” và chạy xuống 72 bậc thang, sang đường, vượt qua Stan, dù cho lúc ấy bác nói “Cháu có thư này!” và leo lên 105 bậc thang. Nhà không có ai. Tôi những muốn được nghe thứ âm nhạc dịu êm. Tôi những muốn nghe thấy tiêng véo von huýt sáo của Ba, và tiếng chiếc bút bi đỏ của Ba gạch những đường rột roạt trên mặt giấy, và tiếng quả lắc đồng hồ đong đưa từng nhịp trong cái tủ đồ của Ba, và thấy Ba đang buộc dây giầy. Tôi đi vào phòng mình và lấy ra chiếc điện thoại. Tôi chạy xuống 105 bậc thang, vượt qua bác Stan, vẫn đang nói “Cháu có thư này!,” leo lên 72 bậc thang, vào căn hộ của Bà nội. Tôi đi vào căn phòng dành cho khách. Người thuê nhà vẫn đứng nguyên chỗ cũ, cứ như thể tôi chưa hề rời đi, hoặc là chưa bao giờ đặt chân tới đó. Tôi lấy chiếc điện thoại ra khỏi chiếc khăn len mà Bà nội không bao giờ hoàn thành, lắp dây vào, và bật lên năm tin nhắn đầu tiên. Ông ấy không biểu lộ gì trên nét mặt. Ông ấy chỉ nhìn tôi. Không phải tôi, mà là vào tôi, như một cái máy dò cảm xúc thật sâu bên trong con người tôi.

“Chưa một ai từng nghe thấy chúng,” tôi nói.

“Mẹ con thì sao?” ông ấy viết.

“Đặc biệt là mẹ cháu.”

Ông bắt chéo tay và giữ tay dưới nách mình, mà với ông ấy trông giống như là đang thò tay vào mồm vậy. Tôi nói, “Dù là với bà nội,” và tay ông bắt đầu run lên, giống như những con chim bị mắc kẹt dưới một tấm khăn trải bàn. Cuối cùng ông cũng để chúng được duỗi ra. Ông viết, “Có lẽ là ông ấy trông thấy điều gì đó và chạy đi cứu những người khác.” “Có lẽ vậy. Ba cháu là như thế.” “Ông ấy là một người rất tốt ư?” “Ba là người tốt nhất trên đời này. Nhưng ba đến tòa tháp để họp. Và ba còn nói là ba lên tầng thượng, nên ba hẳn phải ở trên đó khi máy bay tấn công, và như thế có nghĩa là ba chẳng chạy đi cứu ai hết.” “Có thể là ông ấy chỉ nói rằng ông ấy có thể sẽ lên tầng thượng thôi thì sao.” “Tại sao ba cháu phải làm thế?”

“Thế ba con có hẹn gì vào hôm ấy?” “Ba cháu mở một cửa hàng trang sức. Và ông gặp khách vào mọi lúc.” “Kinh doanh trang sức gia đình?” “Ông nội cháu đã mở ra nó.” “Ông nội con là ai?” “Cháu đâu biết được. Ông bỏ bà nội cháu từ trước khi cháu chào đời. Bà bảo ông có thể nói chuyện được với lũ thú và tạc những bức tượng còn thật hơn cả thật.” “Con nghĩ sao?” “Cháu không nghĩ là có người có thể nói chuyện được với bọn thú. Ngoại trừ bọn cá heo, có lẽ thế. Hay là ngôn ngữ cử chỉ với bọn tinh tinh.” “Con nghĩ gì về ông nội mình.” “Cháu không nghĩ về ông ấy.”

Ông ấy nhất nút Bật và lắng nghe tin nhắn thoại một lần nữa, và một lần nữa tôi ấn vào nút Dừng sau khi tin nhắn thứ năm kết thúc.

Ông ấy viết, “Ông ấy có vẻ bình thản trong tin nhắn cuối cùng.” Tôi bảo với ông, “Cháu đọc được trong National Geographic rằng làm sao, khi mà một con vật cho rằng nó sắp chết, nó sẽ hoảng loạn và bắt đầu hành động điên rồ. Nhưng một khi nó biết được rằng nó sẽ chết, thì nó lại trở nên rất, rất bình tĩnh.” “Có thể là ông ấy không muốn con phải lo lắng.” Có thể. Có thể là Ba không nói rằng Ba yêu tôi bởi vì Ba thực sự yêu tôi. Nhưng đó không phải là một lời giải thích đủ tốt. Tôi nói, “Cháu cần phải biết được ba đã chết như thế nào.”

Ông ấy lật lại cuốn sổ và chỉ vào, “Tại sao?”

“Nên cháu có thể ngừng tưởng tượng ra cảnh ba chết ra sao. Cháu cứ tưởng tượng mãi không thôi.”

Ông ấy lật cuốn sổ và chỉ vào, “Ta rất tiếc.”

“Cháu tìm thấy hàng tá đoạn video trên Internet quay cảnh người ngã từ trên cao xuống. Nó được đăng tải trên một trang mạng Bồ Đào Nha, nơi mà tất cả những thứ kiểu đó không được đăng ở đây, cho dù chúng thực sự xảy ra ở đất nước này. Bất kỳ khi nào cháu cố tìm hiểu xem ba cháu chết như thế nào, cháu sẽ sử dụng chương trình phiên dịch và tìm ra cách nói những điều khác nhau bằng các ngôn ngữ khác nhau, như là ‘tháng Chín,’ mà là ‘Wrzesień,’ hay ‘người nhảy từ tòa nhà bốc cháy,’ mà là ‘Menschen, die aus brennenden Gebäuden springen.’ Rồi cháu bắt đầu google các từ này. Cháu thấy tức điên lên được khi mà mọi người ở khắp nơi trên thế giới có thể biết được những điều mà cháu không thể, bởi nó xảy ra ở đây, và nó xảy ra với cháu, thì sao nó không thể thuộc về cháu?

“Cháu in một số hình cắt ra từ các đoạn video của trang web Bồ Đào Nha ấy và xem xét chúng rất kỹ. Có một thân thể mà có thể là ba cháu. Vì người ấy ăn mặc giống như ba, và khi cháu phóng ảnh to ra cho tới khi ảnh điểm trở nên quá lớn và nó trông không còn giống với một người nữa, thì thỉnh thoảng cháu còn có thể trông thấy cả cái kính. Hoặc cháu nghĩ là cháu có thể. Nhưng cháu biết là điều ấy không đúng. Chỉ là cháu muốn người ấy là ba mà thôi.”

“Con muốn ông ấy nhảy xuống à?”

“Cháu muốn không phải tưởng tượng nữa. Nếu như cháu có thể biết được ba chết thế nào, biết chính xác ba chết như thế nào, thì cháu sẽ không phải hình dung ra cái chết của ba trong một cái thang máy mà bị mắc kẹt giữa các tầng lầu, mà xảy ra với một số người, và cháu sẽ không phải hình dung ra cảnh ba đang cố bò toài phía bên ngoài tòa nhà, mà cháu từng nhìn thấy trong một đoạn video về một người làm như vậy trên một trang web tiếng ba Lan, hay cố sử dụng tấm trải bàn như một chiếc dù, như vài người ở trong nhà hàng Windows trong Tòa tháp đã thực sự làm. Có rất nhiều cách để chết, và cháu thì chỉ muốn biết cách của ba là gì.”

Ông giơ tay ra như thể ông muốn tôi nắm lấy chúng. “Đây có phải là hình xăm không ạ?” Ông nắm lại bàn tay phải. Tôi lật lại cuốn sổ và chỉ vào “Tại sao?” Ông thu tay về và viết, “Nó khiến cho sự việc trở nên dễ dàng hơn. Thay vì phải viết có và không mọi lúc, ta chỉ việc giơ tay ra.” “Nhưng tại sao lại chỉ có CÓ và KHÔNG thôi?” “Bởi vì ta chỉ có duy nhất hai bàn tay.” “Thế còn ‘Tôi sẽ suy nghĩ về điều đó,’ và ‘có thể lắm,’ và ‘có lẽ’ thì sao ạ?” Ông ấy nhắm mắt lại và tập trung trong một vài phút. Rồi ông nhún vai, y hệt như Ba vậy.

“Ông vẫn luôn im lặng như thế này ạ?” Ông ấy mở ra lòng bàn tay phải. “Thế tại sao ông lại không nói nữa?” Ông ấy viết, “Ta không thể.” “Tại sao lại không ạ?” Ông ấy chỉ vào, “Ta không thể.” “Dây thanh quản của ông bị hỏng hay sao ạ?” “Có thứ gì đó đã hỏng.” “Thế lần cuối cùng ông nói chuyện là khi nào?” “Rất, rất lâu rồi.” “Từ cuối cùng mà ông nói là gì?” Ông ấy giở lại cuốn sổ và chỉ vào “Tôi.” “Tôi là từ cuối cùng mà ông nói á?” Ông ấy xòe ra lòng bàn tay trái. “Liệu nó có được tính là một từ không ạ?” Ông nhún vai. “Ông có cố gắng nói không?” “Ta biết điều gì sẽ xảy ra.” “Điều gì ạ?” “Ta không thể.”

“Ông cố đi.” “Bây giờ ư?” “Ông hãy cố nói gì đó.” Ông ấy nhún vai. Tôi nói, “Cháu xin ông đấy.”

Ông ấy mở miệng và đặt ngón tay lên cổ họng. Chúng run rẩy, như khi các ngón tay của ông Black đang tìm một cái tên trong thư viện danh bạ, nhưng không có tiếng động nào phát ra, dù cho là một tiếng động xấu xí, hay là một tiếng thở đi nữa.

Tôi hỏi ông, “Ông đang cố nói gì vậy?” Ông ấy lật lại cuốn sổ và chỉ vào, “Ta xin lỗi.” Tôi nói, “Không sao đâu.” Tô nói, “Có lẽ là dây thanh quản của ông vỡ thật rồi. Ông nên đi khám bác sĩ xem.” Tôi hỏi ông, “Ông vừa cố nói gì thế ạ?” Ông ấy chỉ vào, “Ta rất tiếc.”

Tôi hỏi, “Cháu có thể chụp lại bàn tay của ông không?”

Ông đặt tay lên trên đùi, mở ra, như một cuốn sách.

CÓ và KHÔNG.

Tôi nhìn vào ống ngắm trên máy ảnh.

Ông giữ cho tay mình thật yên.

Tôi chụp hình.

Tôi bảo với ông, “Giờ cháu phải về nhà đây.” Ông ấy cầm cuốn sổ lên và viết, “Thế còn bà nội con thì sao?” “Ông nói với bà hộ cháu là ngày mai cháu sẽ lên tìm bà.”

Khi tôi sang đến nửa đường, tôi nghe thấy có tiếng vỗ tay sau lưng mình, giống như là tiếng vỗ cánh của đàn chim bên ngoài ô cửa sổ nhà ông Black vậy. Tôi quay lại và người thuê nhà đang đứng trước cửa tòa nhà. Ông ấy đặt tay lên cổ họng và mở miệng, như thể ông đang cố nói điều gì đó.

Tôi hỏi với lại, “Ông đang cố nói gì vậy?”

Ông viết gì đó lên cuốn sổ và giơ nó lên, nhưng tôi không đọc được, nên tôi chạy trở lại. Nó ghi, “Con đừng kể với bà là chúng ta có gặp nhau nhé.” Tôi bảo ông, “Cháu sẽ không nói nếu như ông không nói,” và tôi còn chẳng băn khoăn điều hiển nhiên, mà là tại sao ông ấy lại muốn giữ một bí mật. Ông ấy viết, “Nếu con cần bất cứ điều gì, con chỉ việc ném đá vào khung cửa sổ của phòng dành cho khách. Ta sẽ xuống nhà và gặp con ở chỗ đèn đường.” Tôi trả lời, “Cháu cám ơn.” Cho dù trong đầu tôi nghĩ là, Tại sao cháu lại phải cần tới ông nhỉ?

Tất cả những gì tôi muốn vào tối đó là có thể ngủ, nhưng tất cả những gì tôi làm là tưởng tượng.

Sẽ thế nào nếu như những chiếc máy bay được làm cho đông lạnh, mà có thể an toàn trước những chiếc tên lửa biết truy kích theo nguồn nhiệt?

Thế còn những cửa quay tàu điện ngầm mà cũng là thiết bị dò phóng xạ?

Thế còn những chiếc xe cứu thương siêu dài mà kết nối mọi tòa nhà với một bệnh viện nào đó?

Thế còn những cái dù được cất trong người?

Thế còn những khẩu súng với cái cảm biến ở cò kéo mà có thể phát hiện ra ta đang tức giận, và nếu là như vậy, thì súng sẽ không nổ, ngay cả khi ta là một sĩ quan cảnh sát?

Thế còn những bộ quần áo bằng sợi Kevlar[1]?

Thế còn những tòa nhà chọc trời được cấu thành từ các phần chuyển động, do đó chúng có thể tự sắp xếp lại khi bắt buộc, và mở ra các lỗ hổng ở giữa để máy bay có thể xuyên qua?

Thế còn…

Thế còn…

Thế còn…

Và rồi một ý nghĩ nảy ra trong óc tôi mà không giống với bất kỳ một ý nghĩ nào trước đó. Nó thân quen với tôi hơn, và ồn ào hơn. Tôi không biết được nó đến từ đâu, hay nó nghĩa là gì, hay là tôi thích hay ghét nó. Nó mở ra như một nắm đấm, hoặc như một bông hoa.

Thế còn nếu như tôi đào cỗ quan tài trống rỗng của Ba lên thì sao?


[1] Kevlar là nhãn hiệu đăng ký cho một sợi tổng hợp para-aramid, liên quan đến aramit khác như Nomex và Technora. Được phát triển tại DuPont vào năm 1965, vật liệu cường độ cao này đã được sử dụng trong thương mại lần đầu tiên vào đầu năm 1970 như là một thay thế cho thép trong lốp xe đua. Thông thường nó được xe thành sợi dây thừng hoặc tấm vải có thể được sử dụng như thế hoặc như một thành phần trong các thành phần vật liệu composite.

Kevlar là một loại sợi có cấu trúc mạch dài và định hướng cao. Sợi Kevlar có độ bền gấp 5 lần thép nhưng cũng rất dẻo dai nên thường được sử dụng làm vật liệu chế tạo áo giáp chống đạn. Hiện nay, Kevlar có nhiều ứng dụng khác nhau, từ lốp xe đạp và đua thuyền buồm áo giáp vì tỷ lệ sức bền trên trọng lượng cao độ bền kéo, mạnh hơn 5 lần thép trên cơ sở cùng trọng lượng. Kevlar cũng được sử dụng để làm cho các mặt trống hiện đại chịu được tác động cao. Khi được sử dụng như một vật liệu dệt, nó phù hợp cho các dây buộc tàu và các ứng dụng dưới nước khác.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: