EXTREMELY LOUD & INCREDIBLY CLOSE (23)

Ảnh

SỐNG VÀ CÔ ĐƠN (2)

Địa chỉ nhà Ruth Black nằm ở tầng thứ tám mươi sáu trong tòa nhà Empire State[1], mà tôi nghĩ rằng thật là lạ lùng, và ông Black cũng cho là như vậy, bởi vì không ai trong chúng tôi biết rằng lại có người sống ở đó. Tôi bảo với ông Black rằng tôi rất sợ, và ông bảo tôi rằng việc sợ hãi cũng là lẽ thường thôi. Tôi bảo ông rằng tôi cảm thấy như thể tôi không thể làm nổi chuyện đó, và ông nói rằng việc tôi cảm thấy không làm được cũng không sao cả. Tôi bảo với ông rằng đó là điều mà tôi sợ nhất. Ông nói rằng ông có thể hiểu được vì sao. Tôi những muốn ông không đồng ý với tôi, nhưng ông không thế, nên tôi chẳng còn gì để tranh cãi nữa. Tôi bảo ông rằng tôi sẽ đợi ông ở tiền sảnh, và ông nói, “Được.” “Được rồi, được rồi,” tôi nói, “cháu sẽ lên đấy.”

Khi thang máy đưa ta lên cao, ta có thể nghe đươc các thông tin về tòa nhà, mà cũng hay ho ra phết, và thông thường tôi sẽ ghi chú lại một vài điều, nhưng lần này tôi cần toàn bộ sự tập trung của mình vào việc tỏ ra can đảm. Tôi nắm chặt tay ông Black, và tôi không thể ngừng tưởng tượng ra những sự cố như: cáp thang máy bị đứt, thang máy rơi xuống, đường tàu điện ở dưới đáy, chúng tôi bị bật trở lại, mái bị mở ra như một cái hộp ngũ cốc, chúng tôi bị bắn lên khoảng không vũ trụ mà ngay cả Stephen Hawking cũng chẳng biết là đâu…

Khi cửa thang máy mở ra, chúng tôi bước ra đài quan sát. Chúng tôi không biết được người cần tìm kiếm là ai, nên chúng tôi chỉ nhìn quanh quất một lúc. Cho dù tôi biết rằng khung cảnh hiện ra sẽ cực kỳ tráng lệ, đầu óc tôi vẫn bắt đầu hoạt động lung tung, và suốt cả quãng thời gian ấy tôi tưởng tượng ra cảnh có một chiếc máy bay đang lao vào tòa nhà, nhằm ngay vị trí bên dưới chúng tôi. Tôi không hề muốn vậy, nhưng tôi không dừng lại được. Tôi tưởng tượng ra vào giây phút cuối cùng, khi tôi có thể nhìn thấy được gương mặt của tay phi công, mà là một tên khủng bố. Tôi tưởng tượng ra chúng tôi nhìn vào mắt nhau khi đầu máy bay chỉ còn cách tòa nhà có đúng một mm.

Ta ghét mi, ánh mắt tôi sẽ nói với hắn điều ấy.

Ta hận mi, ánh mắt hắn đáp trả lại tôi.

Rồi khi có tiếng nổ lớn vang lên, và tòa nhà sẽ lắc lư thật mạnh, gần như là sập xuống đến nơi, mà tôi biết sẽ như lời miêu tả tôi đọc được từ trên mạng, cho dù tôi ước gì tôi đã không đọc những dòng đó. Rồi sẽ có khói bốc lên từ chỗ tôi đang đứng và những người xung quanh tôi bắt đâu la hét. Tôi từng đọc được lời tường thuật của một ai đó từng bay xuống từ tần thứ tám mươi nhăm, mà tổng cộng là hai ngàn bậc thang, và ông ấy nói rằng có tiếng nhiều người kêu lên “Cứu tôi với!” và “Tôi không muốn chết!” và một người là chủ của một công ty lớn còn hét lên rằng “Mẹ ơi!”

Khi ấy sẽ rất nóng và da của tôi sẽ bắt đầu phồng rộp lên. Sẽ rất tốt nếu có thể thoát khỏi sức nóng, nhưng mặt khác, nếu tôi rơi xuống mặt đường thì tôi cũng chết, rõ ràng là như vậy. Vậy thì tôi phải chọn lựa như thế nào đây? Tôi sẽ nhảy xuống hay tôi sẽ cháy thành tro? Tôi đoán là khi ấy tôi sẽ nhảy thôi, bởi vì ít ra thì tôi cũng không bị đau đớn dày vò. Mà mặt khác, cũng có thể là tôi sẽ chấp nhận bị thiêu rụi, bởi vì ít ra là tôi cũng có một ít cơ hội thoát ra khỏi đó theo một cách nào đó, và ngay cả nếu như không thể, thì cảm thấy đau đớn vẫn còn tốt hơn là không cảm thấy gì cả, đúng không?

Tôi nhớ đến chiếc điện thoại cầm tay của mình.

Tôi vẫn còn lại một vài giây nữa.

Tôi nên gọi cho ai bây giờ?

Tôi nên nói gì vào lúc này?

Tôi nghĩ về tất cả mọi điều mà mọi người nói với những người khác, và về việc mọi người chết đi như thế nào, cho dù trong một phần triệu giây, hay hàng ngày trời, hay hàng tháng, hay trong 76,5 năm nữa, nếu như ta chỉ vừa mới được sinh ra. Mọi thứ được sinh ra đều sẽ đến lúc phải đi đến hồi kết thúc, có nghĩa là cuộc đời của mỗi chúng ta đều giống như những tòa nhà chọc trời. Khói bốc lên theo những tốc độ khác nhau, nhưng tất cả đều chìm trong biển lửa, và tất cả chúng ta đều bị mắc kẹt trong cơn ác mộng đó.

Ta có thể thấy được những thứ đẹp đẽ nhất từ trên đài quan sát của Tòa nhà Empire State. Tôi từng đọc được ở đâu đó rằng con người trên đường phố khi ấy trông giống như những con kiến, nhưng điều ấy là không chính xác. Họ chỉ trông giống như những người tí hon mà thôi. Và những chiếc xe hơi thì giống như những chiếc xe hơi tí hon. Và ngay cả các tòa nhà khác cũng bé xíu xiu. Cứ như thể toàn bộ thành phố New York đều trở thành một phiên bản thu nhỏ của New York thực thụ, mà điều ấy thì thật là hay, bởi vì ta có thể nhìn thấy nó thực sự ra sao, thay vì cái cảm giác mỗi  khi ta lạc lối trong lòng nó. Ở trên này thật sự quá đỗi cô đơn, và ta cảm thấy như bị cách li khỏi tất cả mọi thứ. Và cả sợ hãi nữa, bởi vì có quá nhiều cách thức để có thể chết đi. Nhưng ta còn cảm thấy cả an toàn, bởi vì ta được bao quanh bởi rất nhiều người. Tôi chạm tay vào bức tường khi tôi chầm chậm bước đi quanh đài quan sát tới mỗi một cái ống nhòm. Tôi nhìn thấy tất cả những cái ổ khóa mà tôi từng cố mở ra, và cả 161.999.831 cái còn lại mà tôi chưa mở được.

Tôi quỳ xuống và bò tới một cái ống nhòm. Tôi ôm nó thật chặt khi tôi tự kéo mình đứng dậy, và tôi lấy ra một đồng xu từ cái túi đựng tiền lẻ tôi đeo nơi thắt lưng. Khi cái nắp kính kim loại mở ra, tôi có thể nhìn được những thứ từ xa tít tắp đang tiến tới thật gần, như là Tòa nhà Woolworth[2], và Union Square[3], và cái hố khổng lồ nơi từng là Tòa nhà Thương mại Thế giới. Tôi nhìn vào cửa sổ của một tòa nhà văn phòng mà tôi đoán là cách đó khoảng mười khu nhà. Tôi mất tới vài giây để điều chỉnh tiêu cự, nhưng rồi tôi có thể nhìn thấy một người đàn ông đang ngồi ở bàn mình, viết một cái gì đó. Ông ấy đang viết gì thế? Ông ấy chẳng có vẻ gì là giống với Ba cả, nhưng ông ấy lại khiến tôi nhớ đến Ba. Tôi dí mặt lại gần hơn, và mũi tôi dính chặt đến bẹt dí vào mặt kim loại lạnh ngắt. Ông ấy thuận tay trái giống như Ba. Liệu có phải ông ấy cũng có khe hở ở răng cửa giống như Ba hay không? Tôi những muốn biết ông ấy đang suy nghĩ điều gì. Ông ấy đang nhớ đến ai? Ông ấy cảm thấy có lỗi với ai? Môi tôi chạm vào mặt kim loại, như một nụ hôn.

Tôi tìm thấy ông Black, lúc này đang nhìn về phía Central Park. Tôi bảo với ông rằng tôi đã sẵn sàng để đi xuống. “Nhưng còn bà Ruth thì sao?” “Ta có thể quay lại vào ngày khác ạ.” “Nhưng ta đã tới đây rồi mà.” “Cháu không thấy thế.” “Chỉ mất có một vài –” “Cháu muốn về nhà.” Ông có thể nhận ra tôi sắp khóc đến nơi. “Được rồi,” ông nói, “mình về nhà thôi nào.”

Chúng tôi nhập vào cuối hàng người đang đứng chờ thang máy.

Tôi nhìn vào mọi người và băn khoăn rằng họ tới từ đâu, và họ đang nhớ ai, và họ cảm thấy có lỗi với ai.

Có một bà béo đi cùng một đứa trẻ mập mạp, và một ông người Nhật đeo hai chiếc máy ảnh, và một cô gái với cái nạng mà trên cái chân bó bột có chữ kỹ của rất nhiều người. Tôi có cảm giác kỳ lạ rằng nếu như tôi kiểm tra xem có chữ viết của Ba trên đó hay không. Có thể Ba sẽ để lại một câu như “Chúc mau bình phục.” Hoặc chỉ đơn giản là tên của Ba. Và một người phụ nữ đã già đứng cách đó chừng vài feet, bà đang nhìn vào tôi, và khiến tôi thấy sợ. Bà đang cầm một tấm bìa, dù tôi không thể đọc được chữ trên đó, và lối ăn vận của bà ấy thì không hợp thời một chút nào. Tôi tự hứa với mình rằng tôi sẽ không là người nhìn đi chỗ khác trước, nhưng tôi đã làm vậy. Tôi giật ống tay áo ông Black và bảo ông hãy nhìn bà kia mà xem. “Cháu biết gì không,” ông thì thầm. “Gì ạ?” “Ông cá đấy là bà ấy đấy.” Vì một lý do nào đó, tôi biết rằng ông đúng. Cho dù không có phần nào trong tôi băn khoăn rằng liệu chúng tôi có đang tìm kiếm một điều gì khác hay không.

“Mình có nên lại chỗ bà ấy không ạ?” “Có thể.” “Như thế nào ạ?” “Ông không biết.” “Hay là ta đến chào bà ấy.” “Cháu không thể chỉ nói xin chào được.” “Mình bảo giờ bà ấy vậy.” “Nhưng bà ấy có hỏi giờ đâu.” “Thế thì mình hỏi giờ vậy.” “Cháu làm đi.” “Ông làm đi.” Chúng tôi quá bận bịu về việc ai đến chỗ bà ấy nên chúng tôi không nhận thấy bà ấy đã tiến về chỗ chúng tôi. “Tôi thấy các vị đang nghĩ đến việc ra về,” bà nói, “nhưng tôi có thể đề nghị với quý vị về một chuyến tham quan đặc biệt quanh tòa nhà rất đặc biệt này không?” “Bà tên là gì ạ?” tôi hỏi. Bà ấy trả lời, “Ruth.” Ông Black nói, “Chúng tôi rất sẵn lòng.”

Bà mỉm cười, hít vào thật sâu, và bắt đầu vừa đi vừa nói. “Việc xây dựng Tòa nhà Empire State được bắt đầu từ tháng 3 năm 1930, nằm trên nền của Khách sạn Waldorf-Astoria cũ, ở số 350 Đại lộ 5 và tại Đường 34. Nó được hoàn thiện sau đó một năm và bốn mươi nhăm ngày – bảy triệu giờ công, bao gồm cả các Chủ nhật và những ngày lễ. Mọi thứ về tòa nhà đều được thiết kế để đẩy nhanh tiến độ xây dựng – vật liệu được đúc sẵn bất kỳ lúc nào có thể – và kết quả là, tiến độ công việc đạt được là khoảng bốn tầng rưỡi mỗi tuần. Toàn bộ phần khung được hoàn thành trong vòng chưa đầy nửa năm.” Thời gian ấy còn ngắn hơn khoảng thời gian tôi đã bỏ ra để tìm cái ổ khóa.

Bà dừng lại lấy hơi.

“Được thiết kế bởi hãng kiến trúc Shreve, Lamlb, and Harmon Associates, kế hoạch ban đầu là tòa nhà sẽ cao tám mươi sáu tầng, nhưng sau này một cột trụ khí cầu cao 150 feet bằng chì đã được thêm vào. Hiện nay khí cầu này được sử dụng làm cột sóng truyền hình và đài phát thanh. Chi phí xây dựng tòa nhà, bao gồm cả tiền mua đất, là $40.948.900. Chi phí xây dựng tòa nhà là $24.718.000, ít hơn một nửa so với dự tính ban đầu là $50.000.000, do sự giảm giá về nhân công và nguyên vật liệu trong suốt thời kỳ Đại khủng hoảng. Tôi hỏi, “Đại khủng hoảng[4] là gì ạ?” Ông Black bảo, “Ông sẽ giải thích sau.”

“Với độ cao 1.250 feet, Tòa nhà Empire State trở thành tòa nhà cao nhất thế giới cho tới khi tòa tháp đầu tiên của Trung tâm Thương mại Thế giới được hoàn thành vào năm 1972. Khi tòa nhà được mở cửa, người ta phải lao đao lắm mới kiếm được khách thuê nên người New York bắt đầu gọi nó là Tòa nhà Empty State[5].” Điều ấy khiến tôi bật cười. “Chính đài quan sát này đã cứu cho tòa nhà khỏi lâm vào cảnh phá sản.” Ông Black gõ tay vào tường, như thể ông rất tự hào về đài quan sát.

“Tòa nhà Empire State được kiên cố bởi 60.000 tấn thép. Nó có khoảng 6.500 cửa sổ và 10.000.000 viên gạch, nặng tới 365.000 tấn.” “Thế thì nặng thật,” tôi công nhận. “Hơn 500.000 feet vuông đá hoa cương và đá vôi vùng Indiana bao bọc tòa nhà chọc trời này. Bên trong, cẩm thạch được nhập khẩu từ Pháp, Ý, Đức, và Bỉ. Thật ra, tòa nhà nổi tiếng nhất New York được xây dựng từ các nguyên vật liệu ở khắp mọi nơi ngoại trừ New York, cũng giống như điều khiến thành phố này trở nên vĩ đại là bởi những người nhập cư vậy.” “Rất đúng,” ông Black nói, gật đầu thừa nhận.

“Tòa nhà Empire State được đưa vào làm bối cảnh trong rất nhiều bộ phim, là điểm chào đón rất nhiều chức sắc nước ngoài, và còn trưng bày cả xác máy bay ném bom trong Thế chiến II từ năm 1945 ở tầng 79.” Tôi tập trung vào những thứ hạnh phúc, an toàn, như cái khóa kéo ở phía sau chiếc váy của Mẹ, hoặc là Ba thường phải uống nước bất kỳ khi nào Ba huýt sáo quá lâu. “Một cái thang máy từng rơi xuống mặt đất. Cháu sẽ cảm thấy thoải mái khi biết được rằng các du khách được cứu sống bởi vì cửa đã được phá ra.” Ông Black nắm tay tôi thật chặt. “Và nhân tiện nói về thang máy, ở trong tòa nhà này có bảy mươi cái tất cả, bao gồm cả sáu cái thang chở hàng. Chúng di chuyển với tốc độ từ 600 tới 1.400 feet mỗi phút. Hoặc là, nếu như cháu lựa chọn, cháu có thể leo 1.860 bậc thang từ dưới đất lên trên cùng.” Tôi hỏi bà liệu khi xuống có được phép đi bộ hay không.

“Vào ngày đẹp trời, cháu có thể nhìn xa tới tám mươi dặm – tới tận Connecticut. Kể từ khi đài quan sát được mở cửa cho công chúng tham quan vào năm 1931, có khoảng 110 triệu lượt người đã tận hưởng khung cảnh đẹp đến nín thở phía bên dưới họ. Hàng năm, hơn 3,5 triệu lượt người đã đặt chân tới tầng tám mươi sáu, nơi mà Cary Grant[6] từng mòn mỏi đợi chờ Deborah Kerr[7] trong phim An Affair to Remember[8], nơi mà Tom Hanks[9] và Meg Ryan[10] đã có buổi gặp gỡ định mệnh của mình trong phim Sleepless in Seattle[11]. Ngoài ra đài quan sát này còn có thể phục vụ cả những người khuyết tật.

Bà dừng lại và đặt tay lên vị trí của trái tim mình.

“Tóm lại, cảm xúc và tinh thần của thành phố New York đã được khắc sâu vào Tòa nhà Empire State. Từ những con người từng bắt đầu câu chuyện tình yêu của họ ở chính nơi này, tới những người vừa trở về với con cái và cháu chắt mình, mỗi người đều công nhận rằng tòa nhà này không chỉ là một khối kiến trúc gây choáng ngợp và mang tới cho họ khung cảnh ngoạn mục nhất trên trái đất, mà còn là một biểu tượng không có gì so sánh nổi của tính chất khéo léo Mỹ.”

Bà cúi chào. Chúng tôi vỗ tay.

“Các quý ông đây có thể dành thêm một phút nữa không?” “Chúng tôi có rất nhiều phút,” ông Black nói. “Bởi vì đến đây là kết thúc chuyến tham quan thông thường, nhưng vẫn còn có một vài điều mà tôi thực sự yêu thích về tòa nhà này, và tôi chỉ muốn được chia sẻ nó với những người mà tôi cho rằng sẽ quan tâm.” Tôi nói với bà, “Chúng cháu rất vui lòng ạ.”

“Cột trụ khí cầu điều khiển được, mà hiện là nền của tháp truyền hình, là một phần cấu trúc ban đầu của tòa nhà. Một nỗ lực để mô hình khí cầu nhỏ thuộc tư nhân thành công. Nhưng trong suốt một nỗ lực khác, vào tháng 9 năm 1931, một khí cầu thủy quân nhỏ đã gần như được lắp đặt, trong khi nước mưa trút xuống các khách bộ hành cách đó hàng khu nhà. Ý tưởng cột trụ khí cầu ngay lập tức bị loại bỏ, cho dù nó rất lãng mạn.” Bà tiếp tục bước đi, và chúng tôi đi theo bà, nhưng tôi không biết liệu bà có tiếp tục nói nữa nếu chúng tôi không đi theo bà hay không. Tôi không thể biết được rằng bà làm những điều mà bà đang làm vì chúng tôi, hay vì bản thân bà, hay vì một nguyên nhân nào hoàn toàn khác.

“Trong suốt mùa chim di cư vào mùa xuân và mùa thu, đèn chiếu sáng cho tòa nhà thường được tắt đi vào những tối mù sương để lũ chim không bị mất phương hướng, và lao đầu vào tòa nhà.” Tôi bảo với bà ấy, “Có mười nghìn con chim chết mỗi năm vì đâm vào cửa sổ đấy bà ạ,” bởi vì tôi ngẫu nhiên biết được thông tin này khi tôi đang tiến hành nghiên cứu về các ô cửa sổ ở tòa Tháp đôi. “Như thế thì nhiều thật,” ông Black nói. “Và rất nhiều cửa sổ,” bà Ruth nói. Tôi bảo với ông bà rằng, “Vâng, nên cháu đã nghĩ ra một thiết bị sẽ hoạt động khi lũ chim bay thật gần tới tòa nhà, và một thiết bị bắt chiếc tiếng chim kêu thật là to sẽ được khởi động từ tòa nhà khác, và chúng sẽ bị tiếng kêu đó hấp dẫn. Và chúng sẽ bật từ nơi này sang nơi kia.” “Như là trò chơi bắn đạn,” ông Black nói. “Trò bắn đạn là gì ạ?” tôi thắc mắc. “Nhưng như thế thì lũ chim sẽ chẳng bao giờ rời khỏi Manhattan được,” bà Ruth nói. “Như thế sẽ rất tuyệt,” tôi bảo bà, “bởi vì cái áo hạt chim của bà sẽ hoạt động tốt.” “Bà có thể đưa thông tin về mười nghìn con chim vào các bài giới thiệu của bà trong tương lai được không?” Tôi bảo với bà rằng chúng đâu có phải là do tôi độc quyền sở hữu đâu.

“Là một cột thu lôi tự nhiên, Tòa nhà Empire State bị sét đánh khoảng năm trăm lần mỗi năm. Và cứ mỗi khi có giông bão thì đài quan sát này sẽ đóng cửa, nhưng khu vực quan sát bên trong thì vẫn mở. Thống kê về điện năng trên đỉnh của tòa nhà thật sự rất ấn tượng mà, trong điều kiện tốt, nếu như cháu thò tay ra ngoài hàng rào quan sát, lửa St. Elmo[12] sẽ phát ra từ đầu ngón tay của cháu.” “Lửa St. Elmo raaất là tuyệt ạ!” “Những người yêu nhau khi hôn nhau ở nơi này sẽ thấy môi họ sẽ nứt ra cùng với những tia lửa.” Ông Black nói, “Tôi thích đoạn này.” Bà ấy nói, “Tôi cũng thế.” Tôi nói, “Còn cháu thì là lửa St. Elmo.” “Tòa nhà Empire State có vị trí địa lý tại vĩ độ 40, 44 phút, 53,977 giây bắc; kinh độ 73,59 phút, 10,812 giây tây[13]. Xin cảm ơn quý vị.”

“Thật là thú vị,” ông Black nói. “Xin cảm ơn,” bà nói. Tôi hỏi bà ấy rằng làm thế nào bà ấy có thể biết được tất cả những điều này. Bà trả lời, “Bà biết rõ về tòa nhà này bởi vì bà yêu quý nó.” Điều ấy khiến cho tôi cảm thấy thật buồn, bởi vì nó nhắc nhớ tôi về cái ổ khóa mà tôi vẫn chưa thể tìm ra, và làm thế nào mà cho tới lúc tôi tìm ra được nó, có lẽ tôi chưa yêu Ba đủ nhiều. “Thế chuyện về tòa nhà này là thế nào?” ông Black hỏi. Bà ấy trả lời, “Nếu như mà tôi có được câu trả lời, thì nó không hẳn là tình yêu, đúng không?” “Bà quả là một người phụ nữ đáng nể,” ông nói, và rồi ông hỏi gia đình bà từ đâu tới. “Tôi sinh ra ở Ireland. Gia đình tôi chuyển tới đây từ khi tôi còn nhỏ.” “Bố mẹ bà?” “Bố mẹ tôi là người Ireland.” “Và ông bà?” “Ireland.” “Quả là một thông tin tuyệt vời,” ông Black nói. “Vì sao?” bà ấy hỏi, và câu hỏi này cũng là điều mà tôi thắc mắc. “Bởi vì gia đình tôi chẳng liên quan gì đến người Ireland cả. Chúng tôi tới từ Mayflower.” Tôi nói, “Tuyệt.” Bà Ruth nói, “Tôi không chắc là tôi hiểu được điều ông nói.” Ông Black trả lời, “Có nghĩa là chúng ta không có quan hệ gì với nhau cả.” “Thế tại sao chúng ta lại phải có quan hệ với nhau?” “Bởi vì chúng ta có tên họ giống nhau.” Trong lòng tôi thầm nghĩ, Nhưng mà về mặt kỹ thuật bà ấy không thưc sự nói rằng họ của bà là Black. Và nếu như bà ấy mang họ Black thật đi chăng nữa, thì tại sao bà ấy lại không hỏi lại rằng tại sao ông ấy lại biết tên họ của bà chứ? Ông Black cởi mũ ra và quỳ một gối xuống, mà việc ấy khiến ông mất kha khá thời gian. “Trước nguy cơ tỏ ra quá đột ngột, tôi hi vọng rằng tôi sẽ có vinh hạnh nếu được bà dành cho một buổi chiều. Và tôi sẽ rất thất vọng, nhưng không hề có ý xúc phạm, nếu như bà từ chối.” Bà quay mặt đi. “Tôi xin lỗi,” ông nói, “tôi không nên làm thế này.” Bà ấy nói, “Tôi chỉ ở đây thôi.”

Ông Black nói, “Cái gì?” “Tôi sống ở đây.” “Thường xuyên ư?” “Vâng.” “Bao lâu rồi?” “Ôi. Lâu lắm rồi. Cũng đã nhiều năm.” Ông Black thốt lên, “Josse!” Tôi hỏi bà như thế nào. “Như thế nào là sao?” “Bà ngủ ở đâu ạ?” “Vào những đêm đẹp trời, bà ngủ ở ngay đây. Nhưng khi trời trở lạnh, mà ở độ cao này thì hầu như đêm nào cũng như vậy cả, bà có một cái giường ở trong phòng kho.” “Thế bà ăn gì ạ?” “Ở đây có hai quầy bán đồ ăn. Và thỉnh thoảng một trong những chàng trai trẻ sẽ mang thức ăn cho bà, nếu như bà muốn ăn thứ gì đó khác. Vì cháu biết đấy, ở New York này mang tới cho ta vô số trải nghiệm khác nhau về ẩm thực.”

Tôi hỏi họ có biết bà ấy sống ở đây hay không. “Họ là ai?” “Cháu không biết, những người sở hữu tòa nhà này hay gì đó.” “Tòa nhà này được sở hữu bởi rất nhiều người khác nhau kể từ khi bà chuyển tới đây.” “Thế còn những người làm việc ở đây thì sao ạ?” “Họ đến rồi đi. Những người mới nhìn thấy bà ở đây và cho rằng bà được phép ở đây.” “Thế không ai bắt bà phải dọn đi à?” “Chưa bao giờ.”

“Thế tại sao bà lại không xuống dưới kia?” ông Black hỏi. Bà ấy nói, “Ở trên này tôi thấy thoải mái hơn.” “Làm sao mà ba lại có thể cảm thấy thoải mái hơn khi ở đây được?” “Khó nói lắm.” “Nó bắt đầu như thế nào?” “Chồng tôi là một người bán hàng dạo.” “Và?” “Đấy là những ngày xưa. Ông ấy luôn bán thứ này hay thứ khác. Ông ấy thích những điều tiếp theo mà có thể thay đổi cuộc đời. Và ông ấy luôn tiến tới với những ý tưởng tuyệt vời và điên rồ. Có hơi hơi giống cháu,” bà nói với tôi, mà làm tôi cảm thấy bận lòng, bởi tại sao tôi lại không thể làm cho người khác nhớ tới tôi? “Vào một ngày nọ ông ấy tìm thấy một cái đèn pin trong một cửa hàng bán đồ quân dụng. Lúc ấy là thời điểm khi chiến tranh mới vừa kết thúc và người ta có thể tìm thấy bất cứ thứ gì mà họ cần ở đó. Ông ấy gắn nó vào bình ác quy của một cái xe và sửa chữa tất cả mọi thứ cho tới khi ông ấy chóng cả mặt. Ông ấy bảo tôi hãy lên trên đài quan sát của Tòa nhà Empire State, và khi ông ấy đi quanh New York, ông ấy thỉnh thoảng sẽ chiếu ánh đèn lên để tôi có thể biết được ông ấy đang ở đâu.

“Thế chuyện ấy có thành công không?” “Ban ngày thì không. Phải tới khi trời khá tối tôi mới có thể nhìn thấy ánh đèn, nhưng một khi tôi đã trong thấy được, thì điều ấy thật tuyệt vời. Cứ như thể mọi nguồn sáng ở New York này đều được tắt đi và chỉ còn lại ánh đèn của ông ấy. Tôi có thể nhìn thấy rõ ánh sáng như vậy đấy.” Tôi hỏi bà rằng liệu bà có phóng đại quá hay không. Bà nói, “Bà hiểu.” Ông Black nói, “Có lẽ bà ấy đã kể câu chuyện đúng như những gì mà nó xảy ra.”

“Tôi vẫn còn nhớ vào đêm đầu tiên. Tôi lên đây và mọi người đều nhìn ra xa, chỉ chỏ vào những thứ mà họ trông thấy. Có quá nhiều thứ ngoạn mục để ngắm nhìn. Nhưng chỉ mình tôi mới có được một thứ gì đó chỉ dành cho tôi.” “Một ai đó,” tôi nói. “Ừ, một thứ gì đó là một người. Tôi cảm thấy mình giống như là nữ hoàng vậy. Buồn cười nhỉ? Và thật ngớ ngẩn?” Tôi lắc đầu phản đối. Bà kể tiếp, “Tôi cảm thấy mình như một nữ hoàng. Và khi ánh sáng ấy biến mất, tôi biết rằng ngày làm việc của ông ấy đã kết thúc, và tôi sẽ xuống đường và trở về nhà gặp ông ấy. Rồi khi ông ấy mất, tôi quay trở lại đây. Thật ngốc nghếch.” “Không đâu ạ,” tôi nói. “Không hề.” “Không phải tôi tìm kiếm hay đợi chờ ông ấy. Tôi đâu còn là một cô bé. Nhưng việc này khiến tôi có cảm giác mà tôi từng có vào những ngày xưa và tôi tìm kiếm ánh đèn của ông ấy. Tôi biết rằng nó có đó, tôi chỉ không nhìn thấy được mà thôi.” Ông Black tiến một bước lại gần bà hơn.

“Tôi không chịu đựng được việc phải về nhà,” bà nói. Tôi hỏi bà tại sao không, cho dù tôi biết rằng tôi sẽ nghe thấy điều mà tôi không muốn biết. Bà trả lời, “Bởi vì bà biết rằng ông ấy không có ở đó.” Ông Black nói cảm ơn với bà, nhưng bà chưa kể hết câu chuyện của mình. “Tôi co mình vào một góc đêm đó, cái góc ở đằng kia kìa, và thiếp đi. Có lẽ điều tôi muốn là các nhân viên bảo vệ nhận ra tôi. Tôi cũng không Tôi tìm thấy ông Black, lúc này đang nhìn về phía Central Park. Tôi bảo với ông rằng tôi đã sẵn sàng để đi xuống. “Nhưng còn bà Ruth thì sao?” “Ta có thể quay lại vào ngày khác ạ.” “Nhưng ta đã tới đây rồi mà.” “Cháu không thấy thế.” “Chỉ mất có một vài –” “Cháu muốn về nhà.” Ông có thể nhận ra tôi sắp khóc đến nơi. “Được rồi,” ông nói, “mình về nhà thôi nào.”

Chúng tôi nhập vào cuối hàng người đang đứng chờ thang máy.

Tôi nhìn vào mọi người và băn khoăn rằng họ tới từ đâu, và họ đang nhớ ai, và họ cảm thấy có lỗi với ai.

Có một bà béo đi cùng một đứa trẻ mập mạp, và một ông người Nhật đeo hai chiếc máy ảnh, và một cô gái với cái nạng mà trên cái chân bó bột có chữ kỹ của rất nhiều người. Tôi có cảm giác kỳ lạ rằng nếu như tôi kiểm tra xem có chữ viết của Ba trên đó hay không. Có thể Ba sẽ để lại một câu như “Chúc mau bình phục.” Hoặc chỉ đơn giản là tên của Ba. Và một người phụ nữ đã già đứng cách đó chừng vài feet, bà đang nhìn vào tôi, và khiến tôi thấy sợ. Bà đang cầm một tấm bìa, dù tôi không thể đọc được chữ trên đó, và lối ăn vận của bà ấy thì không hợp thời một chút nào. Tôi tự hứa với mình rằng tôi sẽ không là người nhìn đi chỗ khác trước, nhưng tôi đã làm vậy. Tôi giật ống tay áo ông Black và bảo ông hãy nhìn bà kia mà xem. “Cháu biết gì không,” ông thì thầm. “Gì ạ?” “Ông cá đấy là bà ấy đấy.” Vì một lý do nào đó, tôi biết rằng ông đúng. Cho dù không có phần nào trong tôi băn khoăn rằng liệu chúng tôi có đang tìm kiếm một điều gì khác hay không.

“Mình có nên lại chỗ bà ấy không ạ?” “Có thể.” “Như thế nào ạ?” “Ông không biết.” “Hay là ta đến chào bà ấy.” “Cháu không thể chỉ nói xin chào được.” “Mình bảo giờ bà ấy vậy.” “Nhưng bà ấy có hỏi giờ đâu.” “Thế thì mình hỏi giờ vậy.” “Cháu làm đi.” “Ông làm đi.” Chúng tôi quá bận bịu về việc ai đến chỗ bà ấy nên chúng tôi không nhận thấy bà ấy đã tiến về chỗ chúng tôi. “Tôi thấy các vị đang nghĩ đến việc ra về,” bà nói, “nhưng tôi có thể đề nghị với quý vị về một chuyến tham quan đặc biệt quanh tòa nhà rất đặc biệt này không?” “Bà tên là gì ạ?” tôi hỏi. Bà ấy trả lời, “Ruth.” Ông Black nói, “Chúng tôi rất sẵn lòng.”

Bà mỉm cười, hít vào thật sâu, và bắt đầu vừa đi vừa nói. “Việc xây dựng Tòa nhà Empire State được bắt đầu từ tháng 3 năm 1930, nằm trên nền của Khách sạn Waldorf-Astoria cũ, ở số 350 Đại lộ 5 và tại Đường 34. Nó được hoàn thiện sau đó một năm và bốn mươi nhăm ngày – bảy triệu giờ công, bao gồm cả các Chủ nhật và những ngày lễ. Mọi thứ về tòa nhà đều được thiết kế để đẩy nhanh tiến độ xây dựng – vật liệu được đúc sẵn bất kỳ lúc nào có thể – và kết quả là, tiến độ công việc đạt được là khoảng bốn tầng rưỡi mỗi tuần. Toàn bộ phần khung được hoàn thành trong vòng chưa đầy nửa năm.” Thời gian ấy còn ngắn hơn khoảng thời gian tôi đã bỏ ra để tìm cái ổ khóa.

Bà dừng lại lấy hơi.

“Được thiết kế bởi hãng kiến trúc Shreve, Lamlb, and Harmon Associates, kế hoạch ban đầu là tòa nhà sẽ cao tám mươi sáu tầng, nhưng sau này một cột trụ khí cầu cao 150 feet bằng chì đã được thêm vào. Hiện nay khí cầu này được sử dụng làm cột sóng truyền hình và đài phát thanh. Chi phí xây dựng tòa nhà, bao gồm cả tiền mua đất, là $40.948.900. Chi phí xây dựng tòa nhà là $24.718.000, ít hơn một nửa so với dự tính ban đầu là $50.000.000, do sự giảm giá về nhân công và nguyên vật liệu trong suốt thời kỳ Đại khủng hoảng. Tôi hỏi, “Đại khủng hoảng[14] là gì ạ?” Ông Black bảo, “Ông sẽ giải thích sau.”

“Với độ cao 1.250 feet, Tòa nhà Empire State trở thành tòa nhà cao nhất thế giới cho tới khi tòa tháp đầu tiên của Trung tâm Thương mại Thế giới được hoàn thành vào năm 1972. Khi tòa nhà được mở cửa, người ta phải lao đao lắm mới kiếm được khách thuê nên người New York bắt đầu gọi nó là Tòa nhà Empty State[15].” Điều ấy khiến tôi bật cười. “Chính đài quan sát này đã cứu cho tòa nhà khỏi lâm vào cảnh phá sản.” Ông Black gõ tay vào tường, như thể ông rất tự hào về đài quan sát.

“Tòa nhà Empire State được kiên cố bởi 60.000 tấn thép. Nó có khoảng 6.500 cửa sổ và 10.000.000 viên gạch, nặng tới 365.000 tấn.” “Thế thì nặng thật,” tôi công nhận. “Hơn 500.000 feet vuông đá hoa cương và đá vôi vùng Indiana bao bọc tòa nhà chọc trời này. Bên trong, cẩm thạch được nhập khẩu từ Pháp, Ý, Đức, và Bỉ. Thật ra, tòa nhà nổi tiếng nhất New York được xây dựng từ các nguyên vật liệu ở khắp mọi nơi ngoại trừ New York, cũng giống như điều khiến thành phố này trở nên vĩ đại là bởi những người nhập cư vậy.” “Rất đúng,” ông Black nói, gật đầu thừa nhận.

“Tòa nhà Empire State được đưa vào làm bối cảnh trong rất nhiều bộ phim, là điểm chào đón rất nhiều chức sắc nước ngoài, và còn trưng bày cả xác máy bay ném bom trong Thế chiến II từ năm 1945 ở tầng 79.” Tôi tập trung vào những thứ hạnh phúc, an toàn, như cái khóa kéo ở phía sau chiếc váy của Mẹ, hoặc là Ba thường phải uống nước bất kỳ khi nào Ba huýt sáo quá lâu. “Một cái thang máy từng rơi xuống mặt đất. Cháu sẽ cảm thấy thoải mái khi biết được rằng các du khách được cứu sống bởi vì cửa đã được phá ra.” Ông Black nắm tay tôi thật chặt. “Và nhân tiện nói về thang máy, ở trong tòa nhà này có bảy mươi cái tất cả, bao gồm cả sáu cái thang chở hàng. Chúng di chuyển với tốc độ từ 600 tới 1.400 feet mỗi phút. Hoặc là, nếu như cháu lựa chọn, cháu có thể leo 1.860 bậc thang từ dưới đất lên trên cùng.” Tôi hỏi bà liệu khi xuống có được phép đi bộ hay không.

“Vào ngày đẹp trời, cháu có thể nhìn xa tới tám mươi dặm – tới tận Connecticut. Kể từ khi đài quan sát được mở cửa cho công chúng tham quan vào năm 1931, có khoảng 110 triệu lượt người đã tận hưởng khung cảnh đẹp đến nín thở phía bên dưới họ. Hàng năm, hơn 3,5 triệu lượt người đã đặt chân tới tầng tám mươi sáu, nơi mà Cary Grant[16] từng mòn mỏi đợi chờ Deborah Kerr[17] trong phim An Affair to Remember[18], nơi mà Tom Hanks[19] và Meg Ryan[20] đã có buổi gặp gỡ định mệnh của mình trong phim Sleepless in Seattle[21]. Ngoài ra đài quan sát này còn có thể phục vụ cả những người khuyết tật.

Bà dừng lại và đặt tay lên vị trí của trái tim mình.

“Tóm lại, cảm xúc và tinh thần của thành phố New York đã được khắc sâu vào Tòa nhà Empire State. Từ những con người từng bắt đầu câu chuyện tình yêu của họ ở chính nơi này, tới những người vừa trở về với con cái và cháu chắt mình, mỗi người đều công nhận rằng tòa nhà này không chỉ là một khối kiến trúc gây choáng ngợp và mang tới cho họ khung cảnh ngoạn mục nhất trên trái đất, mà còn là một biểu tượng không có gì so sánh nổi của tính chất khéo léo Mỹ.”

Bà cúi chào. Chúng tôi vỗ tay.

“Các quý ông đây có thể dành thêm một phút nữa không?” “Chúng tôi có rất nhiều phút,” ông Black nói. “Bởi vì đến đây là kết thúc chuyến tham quan thông thường, nhưng vẫn còn có một vài điều mà tôi thực sự yêu thích về tòa nhà này, và tôi chỉ muốn được chia sẻ nó với những người mà tôi cho rằng sẽ quan tâm.” Tôi nói với bà, “Chúng cháu rất vui lòng ạ.”

“Cột trụ khí cầu điều khiển được, mà hiện là nền của tháp truyền hình, là một phần cấu trúc ban đầu của tòa nhà. Một nỗ lực để mô hình khí cầu nhỏ thuộc tư nhân thành công. Nhưng trong suốt một nỗ lực khác, vào tháng 9 năm 1931, một khí cầu thủy quân nhỏ đã gần như được lắp đặt, trong khi nước mưa trút xuống các khách bộ hành cách đó hàng khu nhà. Ý tưởng cột trụ khí cầu ngay lập tức bị loại bỏ, cho dù nó rất lãng mạn.” Bà tiếp tục bước đi, và chúng tôi đi theo bà, nhưng tôi không biết liệu bà có tiếp tục nói nữa nếu chúng tôi không đi theo bà hay không. Tôi không thể biết được rằng bà làm những điều mà bà đang làm vì chúng tôi, hay vì bản thân bà, hay vì một nguyên nhân nào hoàn toàn khác.

“Trong suốt mùa chim di cư vào mùa xuân và mùa thu, đèn chiếu sáng cho tòa nhà thường được tắt đi vào những tối mù sương để lũ chim không bị mất phương hướng, và lao đầu vào tòa nhà.” Tôi bảo với bà ấy, “Có mười nghìn con chim chết mỗi năm vì đâm vào cửa sổ đấy bà ạ,” bởi vì tôi ngẫu nhiên biết được thông tin này khi tôi đang tiến hành nghiên cứu về các ô cửa sổ ở tòa Tháp đôi. “Như thế thì nhiều thật,” ông Black nói. “Và rất nhiều cửa sổ,” bà Ruth nói. Tôi bảo với ông bà rằng, “Vâng, nên cháu đã nghĩ ra một thiết bị sẽ hoạt động khi lũ chim bay thật gần tới tòa nhà, và một thiết bị bắt chiếc tiếng chim kêu thật là to sẽ được khởi động từ tòa nhà khác, và chúng sẽ bị tiếng kêu đó hấp dẫn. Và chúng sẽ bật từ nơi này sang nơi kia.” “Như là trò chơi bắn đạn,” ông Black nói. “Trò bắn đạn là gì ạ?” tôi thắc mắc. “Nhưng như thế thì lũ chim sẽ chẳng bao giờ rời khỏi Manhattan được,” bà Ruth nói. “Như thế sẽ rất tuyệt,” tôi bảo bà, “bởi vì cái áo hạt chim của bà sẽ hoạt động tốt.” “Bà có thể đưa thông tin về mười nghìn con chim vào các bài giới thiệu của bà trong tương lai được không?” Tôi bảo với bà rằng chúng đâu có phải là do tôi độc quyền sở hữu đâu.

“Là một cột thu lôi tự nhiên, Tòa nhà Empire State bị sét đánh khoảng năm trăm lần mỗi năm. Và cứ mỗi khi có giông bão thì đài quan sát này sẽ đóng cửa, nhưng khu vực quan sát bên trong thì vẫn mở. Thống kê về điện năng trên đỉnh của tòa nhà thật sự rất ấn tượng mà, trong điều kiện tốt, nếu như cháu thò tay ra ngoài hàng rào quan sát, lửa St. Elmo[22] sẽ phát ra từ đầu ngón tay của cháu.” “Lửa St. Elmo raaất là tuyệt ạ!” “Những người yêu nhau khi hôn nhau ở nơi này sẽ thấy môi họ sẽ nứt ra cùng với những tia lửa.” Ông Black nói, “Tôi thích đoạn này.” Bà ấy nói, “Tôi cũng thế.” Tôi nói, “Còn cháu thì là lửa St. Elmo.” “Tòa nhà Empire State có vị trí địa lý tại vĩ độ 40, 44 phút, 53,977 giây bắc; kinh độ 73,59 phút, 10,812 giây tây[23]. Xin cảm ơn quý vị.”

“Thật là thú vị,” ông Black nói. “Xin cảm ơn,” bà nói. Tôi hỏi bà ấy rằng làm thế nào bà ấy có thể biết được tất cả những điều này. Bà trả lời, “Bà biết rõ về tòa nhà này bởi vì bà yêu quý nó.” Điều ấy khiến cho tôi cảm thấy thật buồn, bởi vì nó nhắc nhớ tôi về cái ổ khóa mà tôi vẫn chưa thể tìm ra, và làm thế nào mà cho tới lúc tôi tìm ra được nó, có lẽ tôi chưa yêu Ba đủ nhiều. “Thế chuyện về tòa nhà này là thế nào?” ông Black hỏi. Bà ấy trả lời, “Nếu như mà tôi có được câu trả lời, thì nó không hẳn là tình yêu, đúng không?” “Bà quả là một người phụ nữ đáng nể,” ông nói, và rồi ông hỏi gia đình bà từ đâu tới. “Tôi sinh ra ở Ireland. Gia đình tôi chuyển tới đây từ khi tôi còn nhỏ.” “Bố mẹ bà?” “Bố mẹ tôi là người Ireland.” “Và ông bà?” “Ireland.” “Quả là một thông tin tuyệt vời,” ông Black nói. “Vì sao?” bà ấy hỏi, và câu hỏi này cũng là điều mà tôi thắc mắc. “Bởi vì gia đình tôi chẳng liên quan gì đến người Ireland cả. Chúng tôi tới từ Mayflower.” Tôi nói, “Tuyệt.” Bà Ruth nói, “Tôi không chắc là tôi hiểu được điều ông nói.” Ông Black trả lời, “Có nghĩa là chúng ta không có quan hệ gì với nhau cả.” “Thế tại sao chúng ta lại phải có quan hệ với nhau?” “Bởi vì chúng ta có tên họ giống nhau.” Trong lòng tôi thầm nghĩ, Nhưng mà về mặt kỹ thuật bà ấy không thưc sự nói rằng họ của bà là Black. Và nếu như bà ấy mang họ Black thật đi chăng nữa, thì tại sao bà ấy lại không hỏi lại rằng tại sao ông ấy lại biết tên họ của bà chứ? Ông Black cởi mũ ra và quỳ một gối xuống, mà việc ấy khiến ông mất kha khá thời gian. “Trước nguy cơ tỏ ra quá đột ngột, tôi hi vọng rằng tôi sẽ có vinh hạnh nếu được bà dành cho một buổi chiều. Và tôi sẽ rất thất vọng, nhưng không hề có ý xúc phạm, nếu như bà từ chối.” Bà quay mặt đi. “Tôi xin lỗi,” ông nói, “tôi không nên làm thế này.” Bà ấy nói, “Tôi chỉ ở đây thôi.”

Ông Black nói, “Cái gì?” “Tôi sống ở đây.” “Thường xuyên ư?” “Vâng.” “Bao lâu rồi?” “Ôi. Lâu lắm rồi. Cũng đã nhiều năm.” Ông Black thốt lên, “Josse!” Tôi hỏi bà như thế nào. “Như thế nào là sao?” “Bà ngủ ở đâu ạ?” “Vào những đêm đẹp trời, bà ngủ ở ngay đây. Nhưng khi trời trở lạnh, mà ở độ cao này thì hầu như đêm nào cũng như vậy cả, bà có một cái giường ở trong phòng kho.” “Thế bà ăn gì ạ?” “Ở đây có hai quầy bán đồ ăn. Và thỉnh thoảng một trong những chàng trai trẻ sẽ mang thức ăn cho bà, nếu như bà muốn ăn thứ gì đó khác. Vì cháu biết đấy, ở New York này mang tới cho ta vô số trải nghiệm khác nhau về ẩm thực.”

Tôi hỏi họ có biết bà ấy sống ở đây hay không. “Họ là ai?” “Cháu không biết, những người sở hữu tòa nhà này hay gì đó.” “Tòa nhà này được sở hữu bởi rất nhiều người khác nhau kể từ khi bà chuyển tới đây.” “Thế còn những người làm việc ở đây thì sao ạ?” “Họ đến rồi đi. Những người mới nhìn thấy bà ở đây và cho rằng bà được phép ở đây.” “Thế không ai bắt bà phải dọn đi à?” “Chưa bao giờ.”

“Thế tại sao bà lại không xuống dưới kia?” ông Black hỏi. Bà ấy nói, “Ở trên này tôi thấy thoải mái hơn.” “Làm sao mà ba lại có thể cảm thấy thoải mái hơn khi ở đây được?” “Khó nói lắm.” “Nó bắt đầu như thế nào?” “Chồng tôi là một người bán hàng dạo.” “Và?” “Đấy là những ngày xưa. Ông ấy luôn bán thứ này hay thứ khác. Ông ấy thích những điều tiếp theo mà có thể thay đổi cuộc đời. Và ông ấy luôn tiến tới với những ý tưởng tuyệt vời và điên rồ. Có hơi hơi giống cháu,” bà nói với tôi, mà làm tôi cảm thấy bận lòng, bởi tại sao tôi lại không thể làm cho người khác nhớ tới tôi? “Vào một ngày nọ ông ấy tìm thấy một cái đèn pin trong một cửa hàng bán đồ quân dụng. Lúc ấy là thời điểm khi chiến tranh mới vừa kết thúc và người ta có thể tìm thấy bất cứ thứ gì mà họ cần ở đó. Ông ấy gắn nó vào bình ác quy của một cái xe và sửa chữa tất cả mọi thứ cho tới khi ông ấy chóng cả mặt. Ông ấy bảo tôi hãy lên trên đài quan sát của Tòa nhà Empire State, và khi ông ấy đi quanh New York, ông ấy thỉnh thoảng sẽ chiếu ánh đèn lên để tôi có thể biết được ông ấy đang ở đâu.

“Thế chuyện ấy có thành công không?” “Ban ngày thì không. Phải tới khi trời khá tối tôi mới có thể nhìn thấy ánh đèn, nhưng một khi tôi đã trong thấy được, thì điều ấy thật tuyệt vời. Cứ như thể mọi nguồn sáng ở New York này đều được tắt đi và chỉ còn lại ánh đèn của ông ấy. Tôi có thể nhìn thấy rõ ánh sáng như vậy đấy.” Tôi hỏi bà rằng liệu bà có phóng đại quá hay không. Bà nói, “Bà hiểu.” Ông Black nói, “Có lẽ bà ấy đã kể câu chuyện đúng như những gì mà nó xảy ra.”

“Tôi vẫn còn nhớ vào đêm đầu tiên. Tôi lên đây và mọi người đều nhìn ra xa, chỉ chỏ vào những thứ mà họ trông thấy. Có quá nhiều thứ ngoạn mục để ngắm nhìn. Nhưng chỉ mình tôi mới có được một thứ gì đó chỉ dành cho tôi.” “Một ai đó,” tôi nói. “Ừ, một thứ gì đó là một người. Tôi cảm thấy mình giống như là nữ hoàng vậy. Buồn cười nhỉ? Và thật ngớ ngẩn?” Tôi lắc đầu phản đối. Bà kể tiếp, “Tôi cảm thấy mình như một nữ hoàng. Và khi ánh sáng ấy biến mất, tôi biết rằng ngày làm việc của ông ấy đã kết thúc, và tôi sẽ xuống đường và trở về nhà gặp ông ấy. Rồi khi ông ấy mất, tôi quay trở lại đây. Thật ngốc nghếch.” “Không đâu ạ,” tôi nói. “Không hề.” “Không phải tôi tìm kiếm hay đợi chờ ông ấy. Tôi đâu còn là một cô bé. Nhưng việc này khiến tôi có cảm giác mà tôi từng có vào những ngày xưa và tôi tìm kiếm ánh đèn của ông ấy. Tôi biết rằng nó có đó, tôi chỉ không nhìn thấy được mà thôi.” Ông Black tiến một bước lại gần bà hơn.

“Tôi không chịu đựng được việc phải về nhà,” bà nói. Tôi hỏi bà tại sao không, cho dù tôi biết rằng tôi sẽ nghe thấy điều mà tôi không muốn biết. Bà trả lời, “Bởi vì bà biết rằng ông ấy không có ở đó.” Ông Black nói cảm ơn với bà, nhưng bà chưa kể hết câu chuyện của mình. “Tôi co mình vào một góc đêm đó, cái góc ở đằng kia kìa, và thiếp đi. Có lẽ điều tôi muốn là các nhân viên bảo vệ nhận ra tôi. Tôi cũng không biết nữa. Và khi tôi tỉnh dậy vào giữa đêm khuya, tôi chỉ còn lại có một mình. Lạnh lẽo. Và tôi sợ hãi. Tôi đi tới lan can. Ngay kia. Tôi chưa từng cảm thấy cô đơn đến thế. Cứ như là tòa nhà này đột nhiên cao hơn vậy. Hoặc là cái thành phố này thành ra tối tăm hơn. Nhưng tôi cũng chưa bao giờ cảm nhận được sự tồn tại của mình lại mạnh mẽ như lúc ấy. Tôi chưa từng bao giờ cảm thấy mình tồn tại và cô đơn đến thế.”

“Tôi sẽ không ép bà phải đi xuống đâu,” ông Black nói. “Chúng ta có thể dành buổi chiều ở trên này mà.” “Tôi rất vụng về,” bà ấy nói. “Tôi cũng vậy,” ông Black nói. “Tôi không phải là người dễ gần. Tôi chỉ kể cho ông nghe tất cả những gì mà tôi biết.” “Tôi cũng rất tệ,” ông Black nói, dù điều ấy theo tôi thì chẳng đúng tẹo nào. “Bà cứ hỏi thằng bé thì biết,” ông nói, chỉ vào tôi. “Đúng đấy ạ,” tôi tán thành, “ông ấy chán lắm.” “Bà có thể kể cho tôi nghe về tòa nhà trong cả buổi chiều. Điều ấy thật là tuyệt. Tôi thích thời gian sẽ trôi đi theo cách ấy.” “Tôi còn chẳng có một thỏi son nào cả.” “Thì tôi cũng vậy thôi.” Bà ấy bật cười, và rồi bà đưa tay che miệng, như thể bà cảm thấy tức giận chính mình vì đã quên mất nỗi buồn kia.

Tôi hoàn thành việc đi bộ xuống 1.840 bậc thang đến tiền sảnh vào lúc 2:32 chiều, và tôi thấy mệt bã cả người, và ông Black cũng như sắp hôn mê đến nơi, nên chúng tôi đi thẳng về nhà. Khi chúng tôi đến trước cửa nhà ông Black – mà chỉ mới cách đây một vài phút – tôi đã lên kế hoạch sẵn sàng cho cuối tuần tiếp theo, bởi vì chúng tôi phải đi Far Rockaway, và Boerum Hill, và Long Island City, và nếu thời gian cho phép thì chúng tôi sẽ tiếp tục tới Dumbo, nhưng ông ngăn tôi lại và nói, “Nghe này. Oskar?” “Đấy là tên cháu ạ, ông không cần phải hỏi đâu.” “Ông nghĩ là ông đã xong việc rồi.” “Xong cái gì ạ?” “Ông mong là cháu hãy hiểu cho ông.” “Ông đưa tay ra để bắt tay. “Kết thúc cái gì ạ?” “Ông rất thích được ở bên cháu. Ông yêu thích mọi khoảnh khắc chúng ta bên nhau. Cháu đã đưa ông trở lại với thế giới này. Đấy hẳn là điều tuyệt vời nhất mà một ai đó có thể làm cho ông. Nhưng lúc này ông nghĩ rằng ông nên dừng lại ở đây thôi. Ông hi vọng là cháu hiểu cho ông.” Bà tay ông vẫn xòe ra, đón chờ bàn tay tôi.

Tôi bảo với ông, “Cháu không hiểu.”

Tôi đá vào cửa nhà ông và nói, “Ông không giữ lời.” Tôi đẩy ông và hét lên, “Không công bằng!”

Tôi kiễng chân lên và ghé miệng vào tai ông và hét lên, “Mẹ kiếp!”

Không hẳn. Tôi đã bắt tay ông…


[1] Tòa nhà Empire State là một tòa nhà 102 tầng (381m) tại giao điểm của Đại lộ 5 và Phố 34 Wall Street Thành phố New York, Hoa Kỳ. Tên tòa nhà được thừa hưởng từ tên cũ của tiểu bang New York. Tòa nhà được thiết kế bởi Shreve, Lamb and Harmon. Nó được hoàn thành vào năm 1931 và là tòa nhà cao nhất thế giới cho đến năm 1972 cho tới khi tòa nhà World Trade Center hoàn thành. Sau sự kiện 11 tháng 9, khi tòa nhà World Trade Center bị phá hủy, tòa nhà này một lần nữa trở thành tòa nhà cao nhất New York.

[2] Tòa nhà Woolworth nằm tại số 233 Broadway, Manhattan, New York, do kiến trúc sư Cass Gilbert thiết kế và hoàn thành vào năm 1913, là một trong những tòa nhà chọc trời lâu đời nhất của Hoa Kỳ. Vùng đất xây dựng tòa nhà được F. W. Woolworth mua lại vào ngày 11/3/ 1910, từ Trenor Luther Park Estate với giá hai triệu dollar. Tòa nhà này cao khoảng 241,4 m, và nằm trong top 50 tòa nhà cao nhất Hoa Kỳ, và top 20 tòa nhà cao nhất New York. Tòa nhà trở thành Di tích Lịch sử Quốc gia từ năm 1966, và di tích lịch sử của New York vào năm1983.

[3] Union Square là một nút giao thông quan trọng và mang tính lịch sử nằm trong khu Manhattan thuộc thành phố New York, bang New York, ở khu Broadway và đường Bowery Road trước đây – mà hiện nay đổi tên thành Đại lộ 4 – được xây dựng vào đầu thế kỷ 19; nó được đặt tên nhằm kỷ niệm/vinh danh tổ chức Công đoàn Liên bang Hoa Kỳ hay là Liên đoàn lao động nhưng cũng bao hàm rằng “đây là sự hợp nhất của hai đường phố chính của đảo.”

Ngày nay, Công viên Union Square được quy hoạch và giới hạn bởi Đường 14 ở phía nam, Union Square West ở phía tây, Đường 17 ở phía bắc, và Union Square East ở phía đông, và nối liền Broadway với Park Avenue South tới Đại lộ 4 và tiếp tục kéo dài tới Broadway.

[4] Đại khủng hoảng là thời kỳ suy thoái kinh tế toàn cầu diễn ra từ năm 1929 đến hết các năm 1930 và lấn sang đầu thập kỷ 1940, bắt đầu sau sự sụp đổ của thị trường chứng khoán Phố Wall vào 29/10/1929 (còn được biết đến như Thứ Ba Đen tối). Nó bắt đầu ở Hoa Kỳ và nhanh chóng lan rộng ra toàn Châu Âu và mọi nơi trên thế giới, phá hủy cả các nước phát triển. Thương mại quốc tế suy sụp rõ rệt, từ thu nhập cá nhân, thuế, lợi tức đều bị ảnh hưởng và suy thoái. Xây dựng gần như bị tê liệt ở nhiều nước. Từ thành thị đến nông thôn đều phải đối mặt với mất mùa, giảm từ 40 đến 60%. Các lĩnh vực khai mỏ và khai thác gỗ bị ảnh hưởng lớn nhất. Đại Suy thoái kết thúc vào các thời gian khác nhau tùy theo từng nước. Nó bị coi là “đêm trước” của Thế chiến II.

[5] Empty State Building: Tòa nhà bỏ không

[6] Archibald Alec Leach (18/1/1904 – 29/11/1986), nổi tiếng với nghệ danh Cary Grant, là một diễn viên người Mỹ gốc Anh. Với những dấu ấn có một không hai của mình, ông thường được xem như đỉnh cao của sự kết hợp hài hoà giữa sự tự tin, ngoại hình, sự nam tính sức lôi cuốn quyến rũ.

Grant nổi tiếng qua những vai diễn trong The Philadelphia Story, North by Northwest, Notorious, His Girl Friday, To Catch A Thief, Bringing Up Baby và The Bishop’s Wife. Năm 1970, AMPAS trao tặng ông Giải Oscar danh dự “cho sự lão luyện vô song trong nghệ thuật điện ảnh cùng với sự kính trọng và yêu mến của đồng nghiệp”. Năm 1999, ông được Viện Điện ảnh Mỹ xếp thứ 2 trong danh sách 100 huyền thoại điện ảnh mọi thời đại.

[7] Deborah Jane Kerr (tên thật là Deborah Jane Trimmer, 30/9/1921 – 16/20/2007) là diễn viên điện ảnh, truyền hình và sân khấu kịch nổi tiếng người Scotland. Bà từng giành giải thưởng Sarah Siddons Award cho vai diễn Laura Reynolds trong vở Tea and Sympathy trên sân khấu kịch Chicago, giải thưởng Golden Globe bộ phim The King and I, và ba lần giành giải thưởng Nữ diễn viên suất sắc nhất của New York Film Critics Circle Award. Bà cũng tham dự nhiều giải thưởng danh giá khác như Giải thưởng của Viện hàn lâm, BAFTA và LHP Cannes.

Bà từng được sáu lần đề cử giải Oscar dành cho Nữ diễn viên suất sắc nhất, nhưng chưa từng bao giờ được vinh danh. Vào năm 1994, bà nhận được giải Oscar danh dự cho “một nghệ sĩ với vẻ đẹp và sự duyên dáng hoàn hảo, một nữ diễn viên chuyên nghiệp mà sự nghiệp điện ảnh luôn luôn hướng tới sự hoàn hảo, tính kỷ luật và tao nhã.” Các phim có sự tham gia diễn xuất của bà: The King and I, An Affair to Remember, From Here to Eternity, Quo Vadis, The Innocents, Black Narcissus, Heaven Knows, Mr. Allison, The Life and Death of Colonel Blimp và Separate Tables.

[8] An Affair to Remember (Một chuyện tình để nhớ): bộ phim được thực hiện năm 1957 với sự tham gia diễn xuất của Cary Grant và Deborah Kerr, do Leo McCarey đạo diễn. Được đầu tư bởi hãng 20th Century Fox.

Bộ phim được đánh giá là một trong những tác phẩm điện ảnh lãng mạn nhất mọi thời đại, theo Viện điện ảnh Mỹ. Đây là tác phẩm được làm lại từ phim Love Affair của McCarey vào năm1939, do Irene Dunne và Charles Boyer thủ vai chính.

Góp phần vào thành công của tác phẩm điện ảnh ra đời năm 1957 này là ca khúc, “An Affair to Remember (Our Love Affair)”, được sáng tác bởi Harry Warren và do Leo McCarey cùng Harold Adamson viết lời. Ca khúc do Vic Damone trình bày ở phần đầu phim và sau đó được nhân vật của Deborah Kerr thể hiện.

[9] Thomas Jeffrey Hanks (9/7/1956) là diễn viên, đạo diễn, nhà sản xuất phim người Mỹ nổi tiếng. Ông từng đoạt 2 giải Oscar cho cho các vai diễn trong phim Philadelphia và Forrest Gump. Hanks là một trong ba diễn viên duy nhất từng đóng 7 phim bom tấn liên tiếp có doanh thu trên 100 triệu USD, ông cũng là ngôi sao mang lại doanh thu cao thứ hai trong lịch sử điện ảnh.

[10] Margaret Mary Emily Anne Hyra sinh ngày 19/11/1961, nghệ danh Meg Ryan, là một nữ diễn viên Hoa Kỳ đóng vai chính các phim hài lãng mạn nổi tiếng trong những năm 1990 – When Harry Met Sally, Sleepless in Seattle, French Kiss, City of Angels và You’ve Got Mail – đạt tổng doanh thu trên $ 870.000.000 trên toàn thế giới. Cô là diễn viên nổi tiếng một thời, là thần tượng của nhiều diễn viên trẻ sau này,là người đi đầu của thể loại phim hài lãng mạn.

[11] Sleepless in Seattle (Không ngủ ở Seattle) là một bộ phim tình cảm – hài của Mỹ trình chiếu năm 1993, phim được biên kịch và chỉ đạo bởi đạo diễn Nora Ephron. Dựa trên một câu chuyện được viết bởi Jeff Arch, và các ngôi sao diễn xuất trong phim gồm có: Tom Hanks vai Sam Baldwin và Meg Ryan vai Annie Reed.

Bộ phim lấy cảm hứng từ phim “An affair to remember” (Một chuyện tình để nhớ) và sử dụng hầu hết những bài hát và những đoạn clip từ bộ phim này trong những cảnh quan trọng. Cuộc gặp gỡ đầy cao trào ở trên đỉnh của tòa nhà Empire là một sự ám chỉ tới cuộc đoàn viên của Cary Grant và Deborah Kerr trong phim “An affair to remember” , cuộc gặp gỡ này đã thât bại vì Kerr đã bị một chiếc xe hơi tông vào khi đang băng qua đường.Một điểm khác là, một vài nhân vật đã tranh cãi về phim “An affair to remember” , với Sam nó giống như là một bộ phim “gà bông”.

Sự thành công của A Sleepless Night in Seattle đã mở đường cho sự hồi sinh của “An affair to remember” trong lòng công chúng kể cả thế hệ của những khán giả trẻ tuổi.

[12] Lửa St. Elmo (St. Elmo’s fire): hiện tượng tự nhiên này là plasma phát sáng xuất hiện như đốm lửa trên các vật thể khác, như gậy thò ra mũi thuyền hay cột chống sét, thậm chí ở buồng điện thoại công cộng, trên sừng các con gia súc, ở khu vực tích điện trong cơn bão. Cũng có thể được sinh ra trong những cơn mưa giông có sấm sét hay 1 vụ nổ núi lửa. Hiện tượng này được đặt tên theo Thánh Elmo, thần hộ mệnh của thuỷ thủ, do hiện tượng này hay xuất hiện trên biển khiến cho thủy thủ sợ hãi. Với sự mê tín cùng với nỗi khiếp đảm, họ đã lấy tên của thánh Elmo để đặt tên cho nó, nên còn có tên Lửa Thánh Elmo.

[13] Hệ tọa độ địa lý cho phép tất cả mọi điểm trên Trái Đất đều có thể xác định được bằng ba tọa độ của hệ tọa độ cầu tương ứng với trục quay của Trái Đất. Dựa theo lý thuyết của những người Babylon cổ đại, rồi được nhà hiền triết và địa lý học nổi tiếng người Hy Lạp Ptolemy mở rộng, một đường tròn đầy đủ sẽ được chia thành 360 độ (360°).

+ Vĩ độ (ký hiệu: φ) của một điểm bất kỳ trên mặt Trái Đất là góc tạo thành giữa đường thẳng đứng (phương của dây dọi, có đỉnh nằm ở tâm hệ tọa độ-chính là trọng tâm của địa cầu) tại điểm đó và mặt phẳng tạo bởi xích đạo. Đường tạo bởi các điểm có cùng vĩ độ gọi là vĩ tuyến, và chúng là những đường tròn đồng tâm trên bề mặt Trái Đất. Mỗi cực là 90 độ: cực bắc là 90° B; cực nam là 90° N. Vĩ tuyến 0° được chỉ định là đường xích đạo, một đường thẳng tưởng tượng chia địa cầu thành Bán cầu bắc và Bán cầu nam.

+ Kinh độ (ký hiệu: λ) của một điểm trên bề mặt Trái Đất là góc tạo ra giữa mặt phẳng kinh tuyến đi qua điểm đó và mặt phẳng kinh tuyến gốc. Kinh độ có thể là kinh độ đông hoặc tây, có đỉnh tại tâm hệ tọa độ, tạo thành từ một điểm trên bề mặt Trái Đất và mặt phẳng tạo bởi đường thẳng ngẫu nhiên nối hai cực bắc nam địa lý. Những đường thẳng tạo bởi các điểm có cùng kinh độ gọi là kinh tuyến. Tất cả các kinh tuyến đều là nửa đường tròn, và không song song với nhau: theo định nghĩa, chúng hội tụ tại hai cực bắc và nam. Đường thẳng đi qua Đài Thiên văn Hoàng gia Greenwich (gần London ở Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ireland) là đường tham chiếu có kinh độ 0° trên toàn thế giới hay còn gọi là kinh tuyến gốc. Kinh tuyến đối cực của Greenwich có kinh độ là 180°T hay 180°Đ.

Bằng cách phối hợp hai góc này, ta có thể xác định được vị trí nằm ngang của bất kỳ điểm nào trên Trái Đất.

Cách tính kinh độ (cách tính tương tự đối với vĩ độ): Kinh độ được đưa ra như là số đo góc nằm trong khoảng từ 0° tại kinh tuyến gốc tới +180° về phía đông và −180° về phía tây. Mỗi độ kinh độ được chia thành 60 phút, mỗi phút lại được chia thành 60 giây. Như thế kinh độ được liệt kê trong biểu diễn thập lục phân như là 23° 27′ 30″ kinh đông. Để có độ chính xác cao hơn, giây được liệt kê với phần thập phân. Một kiểu biểu diễn khác sử dụng độ và phút, trong đó phần lẻ của phút được biểu diễn dưới dạng thập phân, giống như thế này: 23° 27,500′ kinh đông. Cũng có thể biểu diễn dưới dạng chỉ có độ và phần thập phân của nó như: 23,45833° kinh đông. Để tính toán, số đo góc có thể chuyển đổi sang radian, vì thế kinh độ có thể biểu diễn theo kiểu này như là phân số có dấu của π (pi) hoặc không dấu của 2π.

[14] Đại khủng hoảng là thời kỳ suy thoái kinh tế toàn cầu diễn ra từ năm 1929 đến hết các năm 1930 và lấn sang đầu thập kỷ 1940, bắt đầu sau sự sụp đổ của thị trường chứng khoán Phố Wall vào 29/10/1929 (còn được biết đến như Thứ Ba Đen tối). Nó bắt đầu ở Hoa Kỳ và nhanh chóng lan rộng ra toàn Châu Âu và mọi nơi trên thế giới, phá hủy cả các nước phát triển. Thương mại quốc tế suy sụp rõ rệt, từ thu nhập cá nhân, thuế, lợi tức đều bị ảnh hưởng và suy thoái. Xây dựng gần như bị tê liệt ở nhiều nước. Từ thành thị đến nông thôn đều phải đối mặt với mất mùa, giảm từ 40 đến 60%. Các lĩnh vực khai mỏ và khai thác gỗ bị ảnh hưởng lớn nhất. Đại Suy thoái kết thúc vào các thời gian khác nhau tùy theo từng nước. Nó bị coi là “đêm trước” của Thế chiến II.

[15] Empty State Building: Tòa nhà bỏ không

[16] Archibald Alec Leach (18/1/1904 – 29/11/1986), nổi tiếng với nghệ danh Cary Grant, là một diễn viên người Mỹ gốc Anh. Với những dấu ấn có một không hai của mình, ông thường được xem như đỉnh cao của sự kết hợp hài hoà giữa sự tự tin, ngoại hình, sự nam tính sức lôi cuốn quyến rũ.

Grant nổi tiếng qua những vai diễn trong The Philadelphia Story, North by Northwest, Notorious, His Girl Friday, To Catch A Thief, Bringing Up Baby và The Bishop’s Wife. Năm 1970, AMPAS trao tặng ông Giải Oscar danh dự “cho sự lão luyện vô song trong nghệ thuật điện ảnh cùng với sự kính trọng và yêu mến của đồng nghiệp”. Năm 1999, ông được Viện Điện ảnh Mỹ xếp thứ 2 trong danh sách 100 huyền thoại điện ảnh mọi thời đại.

[17] Deborah Jane Kerr (tên thật là Deborah Jane Trimmer, 30/9/1921 – 16/20/2007) là diễn viên điện ảnh, truyền hình và sân khấu kịch nổi tiếng người Scotland. Bà từng giành giải thưởng Sarah Siddons Award cho vai diễn Laura Reynolds trong vở Tea and Sympathy trên sân khấu kịch Chicago, giải thưởng Golden Globe bộ phim The King and I, và ba lần giành giải thưởng Nữ diễn viên suất sắc nhất của New York Film Critics Circle Award. Bà cũng tham dự nhiều giải thưởng danh giá khác như Giải thưởng của Viện hàn lâm, BAFTA và LHP Cannes.

Bà từng được sáu lần đề cử giải Oscar dành cho Nữ diễn viên suất sắc nhất, nhưng chưa từng bao giờ được vinh danh. Vào năm 1994, bà nhận được giải Oscar danh dự cho “một nghệ sĩ với vẻ đẹp và sự duyên dáng hoàn hảo, một nữ diễn viên chuyên nghiệp mà sự nghiệp điện ảnh luôn luôn hướng tới sự hoàn hảo, tính kỷ luật và tao nhã.” Các phim có sự tham gia diễn xuất của bà: The King and I, An Affair to Remember, From Here to Eternity, Quo Vadis, The Innocents, Black Narcissus, Heaven Knows, Mr. Allison, The Life and Death of Colonel Blimp và Separate Tables.

[18] An Affair to Remember (Một chuyện tình để nhớ): bộ phim được thực hiện năm 1957 với sự tham gia diễn xuất của Cary Grant và Deborah Kerr, do Leo McCarey đạo diễn. Được đầu tư bởi hãng 20th Century Fox.

Bộ phim được đánh giá là một trong những tác phẩm điện ảnh lãng mạn nhất mọi thời đại, theo Viện điện ảnh Mỹ. Đây là tác phẩm được làm lại từ phim Love Affair của McCarey vào năm1939, do Irene Dunne và Charles Boyer thủ vai chính.

Góp phần vào thành công của tác phẩm điện ảnh ra đời năm 1957 này là ca khúc, “An Affair to Remember (Our Love Affair)”, được sáng tác bởi Harry Warren và do Leo McCarey cùng Harold Adamson viết lời. Ca khúc do Vic Damone trình bày ở phần đầu phim và sau đó được nhân vật của Deborah Kerr thể hiện.

[19] Thomas Jeffrey Hanks (9/7/1956) là diễn viên, đạo diễn, nhà sản xuất phim người Mỹ nổi tiếng. Ông từng đoạt 2 giải Oscar cho cho các vai diễn trong phim Philadelphia và Forrest Gump. Hanks là một trong ba diễn viên duy nhất từng đóng 7 phim bom tấn liên tiếp có doanh thu trên 100 triệu USD, ông cũng là ngôi sao mang lại doanh thu cao thứ hai trong lịch sử điện ảnh.

[20] Margaret Mary Emily Anne Hyra sinh ngày 19/11/1961, nghệ danh Meg Ryan, là một nữ diễn viên Hoa Kỳ đóng vai chính các phim hài lãng mạn nổi tiếng trong những năm 1990 – When Harry Met Sally, Sleepless in Seattle, French Kiss, City of Angels và You’ve Got Mail – đạt tổng doanh thu trên $ 870.000.000 trên toàn thế giới. Cô là diễn viên nổi tiếng một thời, là thần tượng của nhiều diễn viên trẻ sau này,là người đi đầu của thể loại phim hài lãng mạn.

[21] Sleepless in Seattle (Không ngủ ở Seattle) là một bộ phim tình cảm – hài của Mỹ trình chiếu năm 1993, phim được biên kịch và chỉ đạo bởi đạo diễn Nora Ephron. Dựa trên một câu chuyện được viết bởi Jeff Arch, và các ngôi sao diễn xuất trong phim gồm có: Tom Hanks vai Sam Baldwin và Meg Ryan vai Annie Reed.

Bộ phim lấy cảm hứng từ phim “An affair to remember” (Một chuyện tình để nhớ) và sử dụng hầu hết những bài hát và những đoạn clip từ bộ phim này trong những cảnh quan trọng. Cuộc gặp gỡ đầy cao trào ở trên đỉnh của tòa nhà Empire là một sự ám chỉ tới cuộc đoàn viên của Cary Grant và Deborah Kerr trong phim “An affair to remember” , cuộc gặp gỡ này đã thât bại vì Kerr đã bị một chiếc xe hơi tông vào khi đang băng qua đường.Một điểm khác là, một vài nhân vật đã tranh cãi về phim “An affair to remember” , với Sam nó giống như là một bộ phim “gà bông”.

Sự thành công của A Sleepless Night in Seattle đã mở đường cho sự hồi sinh của “An affair to remember” trong lòng công chúng kể cả thế hệ của những khán giả trẻ tuổi.

[22] Lửa St. Elmo (St. Elmo’s fire): hiện tượng tự nhiên này là plasma phát sáng xuất hiện như đốm lửa trên các vật thể khác, như gậy thò ra mũi thuyền hay cột chống sét, thậm chí ở buồng điện thoại công cộng, trên sừng các con gia súc, ở khu vực tích điện trong cơn bão. Cũng có thể được sinh ra trong những cơn mưa giông có sấm sét hay 1 vụ nổ núi lửa. Hiện tượng này được đặt tên theo Thánh Elmo, thần hộ mệnh của thuỷ thủ, do hiện tượng này hay xuất hiện trên biển khiến cho thủy thủ sợ hãi. Với sự mê tín cùng với nỗi khiếp đảm, họ đã lấy tên của thánh Elmo để đặt tên cho nó, nên còn có tên Lửa Thánh Elmo.

[23] Hệ tọa độ địa lý cho phép tất cả mọi điểm trên Trái Đất đều có thể xác định được bằng ba tọa độ của hệ tọa độ cầu tương ứng với trục quay của Trái Đất. Dựa theo lý thuyết của những người Babylon cổ đại, rồi được nhà hiền triết và địa lý học nổi tiếng người Hy Lạp Ptolemy mở rộng, một đường tròn đầy đủ sẽ được chia thành 360 độ (360°).

+ Vĩ độ (ký hiệu: φ) của một điểm bất kỳ trên mặt Trái Đất là góc tạo thành giữa đường thẳng đứng (phương của dây dọi, có đỉnh nằm ở tâm hệ tọa độ-chính là trọng tâm của địa cầu) tại điểm đó và mặt phẳng tạo bởi xích đạo. Đường tạo bởi các điểm có cùng vĩ độ gọi là vĩ tuyến, và chúng là những đường tròn đồng tâm trên bề mặt Trái Đất. Mỗi cực là 90 độ: cực bắc là 90° B; cực nam là 90° N. Vĩ tuyến 0° được chỉ định là đường xích đạo, một đường thẳng tưởng tượng chia địa cầu thành Bán cầu bắc và Bán cầu nam.

+ Kinh độ (ký hiệu: λ) của một điểm trên bề mặt Trái Đất là góc tạo ra giữa mặt phẳng kinh tuyến đi qua điểm đó và mặt phẳng kinh tuyến gốc. Kinh độ có thể là kinh độ đông hoặc tây, có đỉnh tại tâm hệ tọa độ, tạo thành từ một điểm trên bề mặt Trái Đất và mặt phẳng tạo bởi đường thẳng ngẫu nhiên nối hai cực bắc nam địa lý. Những đường thẳng tạo bởi các điểm có cùng kinh độ gọi là kinh tuyến. Tất cả các kinh tuyến đều là nửa đường tròn, và không song song với nhau: theo định nghĩa, chúng hội tụ tại hai cực bắc và nam. Đường thẳng đi qua Đài Thiên văn Hoàng gia Greenwich (gần London ở Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ireland) là đường tham chiếu có kinh độ 0° trên toàn thế giới hay còn gọi là kinh tuyến gốc. Kinh tuyến đối cực của Greenwich có kinh độ là 180°T hay 180°Đ.

Bằng cách phối hợp hai góc này, ta có thể xác định được vị trí nằm ngang của bất kỳ điểm nào trên Trái Đất.

Cách tính kinh độ (cách tính tương tự đối với vĩ độ): Kinh độ được đưa ra như là số đo góc nằm trong khoảng từ 0° tại kinh tuyến gốc tới +180° về phía đông và −180° về phía tây. Mỗi độ kinh độ được chia thành 60 phút, mỗi phút lại được chia thành 60 giây. Như thế kinh độ được liệt kê trong biểu diễn thập lục phân như là 23° 27′ 30″ kinh đông. Để có độ chính xác cao hơn, giây được liệt kê với phần thập phân. Một kiểu biểu diễn khác sử dụng độ và phút, trong đó phần lẻ của phút được biểu diễn dưới dạng thập phân, giống như thế này: 23° 27,500′ kinh đông. Cũng có thể biểu diễn dưới dạng chỉ có độ và phần thập phân của nó như: 23,45833° kinh đông. Để tính toán, số đo góc có thể chuyển đổi sang radian, vì thế kinh độ có thể biểu diễn theo kiểu này như là phân số có dấu của π (pi) hoặc không dấu của 2π.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: