EXTREMELY LOUD & INCREDIBLY CLOSE (22)

Ảnh

SỐNG VÀ CÔ ĐƠN (1)

Chúng tôi cùng nhau tìm kiếm trong sáu tháng rưỡi cho tới khi ông Black nói với tôi rằng ông bỏ cuộc, và rồi tôi lại đơn độc, và tôi vẫn chưa thể hoàn thành bất cứ điều gì cả, và tôi cảm thấy nặng nề hơn bao giờ hết. Tôi không thể nói chuyện này với Mẹ, dĩ nhiên rồi, và ngay cả những người bạn thân nhất là thằng Kem Đánh Răng hay Thằng Ẻo Lả, tôi cũng không thể kể với bọn nó. Ông nội có thể nói chuyện với bọn thú, nhưng tôi thì không thể, nên Buckminster cũng chẳng giúp được gì. Tôi không thấy có được sự tín nhiệm nơi bác sĩ Fein, và để giải thích cho bác Stan nghe mọi điều kể từ đầu câu chuyện đâm ra lại mất nhiều thời gian quá, và tôi cũng chẳng tin tưởng gì cho lắm vào việc nói chuyện với người đã chết.

Bác gác cửa Farley không biết Bà nội có nhà không, bởi vì bác ấy vừa mới bắt đầu ca trực. Bác ấy hỏi mọi chuyện vẫn ổn cả chứ. Tôi trả lời, “Cháu cần gặp bà.” “Nếu cháu muốn thì bác sẽ gọi lên nhà?” “Không cần đâu ạ.” Khi tôi chạy qua bảy mươi hai bậc thang, tôi nghĩ, Và dù sao, ông ấy cũng là một ông già tuyệt vời mà làm mình chậm lại và chẳng biết có gì là hữu ích. Tôi thở hổn hển khi nhấn vào nút chuông nhà Bà. Mình thấy mừng là ông ấy bảo ông ấy không cố thêm được nữa. Mình chẳng biết vì sao mà mình lại rủ ông ấy đi cùng mình lúc ấy nữa. Bà không ra mở cửa, nên tôi lại nhấn chuông lần nữa. Tại sao Bà không đợi tôi ở cửa nhỉ? Tôi là điều quan trọng duy nhất đối với Bà cơ mà.

Tôi tự mở cửa vào.

“Bà ơi? A lô? Bà có ở nhà không?”

Tôi đoán có lẽ Bà đi mua đồ hay gì đó, nên tôi ngồi xuống ghế bành và đợi. Có thể là Bà ra công viên đi dạo cho tiêu cơm, mà tôi biết là đôi khi Bà vẫn thường làm thế, dù điều ấy khiến tôi cảm thấy có đôi phần kỳ lại. Hoặc cũng có thể Bà đi mua kem khử nước cho tôi, hoặc qua bưu điện gửi thư từ hay gì đó. Nhưng mà Bà gửi thư cho ai mới được chứ?

Dù không hề muốn, tôi lại bắt đầu tưởng tượng.

Bà bị một chiếc taxi lao vào trong khi cố sang đường ở khu Broadway, và chiếc taxi ấy thì chạy mất dạng, và mọi người nhìn Bà từ phần đường dành cho người đi bộ, nhưng không một ai chạy ra giúp đỡ gì Bà cả, bởi vì ai ai cũng sợ sẽ thực hiện sai mấy cái động tác sơ cứu.

Bà trượt ngã từ trên một cái thang trong thư viện và bị võ sọ. Bà chảy máu tới chết ở đó bởi đấy là khu vực lưu trữ những thể loại sách mà không một ai để tâm tới.

Bà nằm bất tỉnh nhân sự dưới đáy bể bơi ở khu Y. Bọn trẻ con thì bơi tung tăng ngay phía trên Bà chừng mười ba feet.

Tôi cố suy nghĩ về những điều khác. Tôi cố hình dung ra những thứ tích cực. Nhưng những điều tiêu cực lại cứ vang vọng ồn ã trong đầu tôi.

Bà lên cơn đau tim.

Có ai đó đẩy Bà vào đầu xe tải.

Bà bị cưỡng hiếp và bị sát hại.

Tôi lại tìm Bà quanh ngôi nhà.

“Bà ơi?”

Những gì mà tôi muốn nghe là “Bà không sao,” nhưng những gì mà tôi nghe được chỉ là sự yên lặng.

Tôi nhìn vào phòng ăn và gian bếp. Tôi mở cánh cửa tủ chứa đồ, chỉ đề phòng trường hợp đặc biệt, nhưng chỉ có đồ ăn ở đó. Tôi nhìn vào tủ treo áo khoác và phòng tắm. Tôi mở cánh cửa của gian phòng ngủ thứ hai, nơi mà Ba vẫn từng mộng mị trong suốt quãng đời khi Ba vẫn còn là một đứa trẻ ở tuổi tôi.

Đó là lần đầu tiên tôi ở trong căn hộ của Bà nội mà không có mặt Bà, và điều này đối với tôi thật vô cùng kỳ lạ, như thể tôi nhìn vào quần áo của Bà mà không có Bà trong đó, và đó là điều mà tôi làm khi tôi đi vào phòng ngủ của Bà và nhìn vào tủ quần áo. Tôi mở ra ngăn kéo trên cùng của tủ quần áo, dù tôi biết rằng Bà không thể ở đó, dĩ nhiên rồi. Vậy thì tại sao tôi lại làm như thế?

Chiếc ngăn kéo ấy đầy ắp những phong bì. Hàng trăm cái tất cả. Chúng được buộc lại với nhau thành từng bó. Tôi mở ra cái ngăn kéo tiếp theo bên dưới, nó cũng chất đầy toàn phong bì. Và cả cái bên dưới cũng thế. Toàn bộ đều như vậy.

Tôi nhìn thấy trên dấu bưu điện của những chiếc phong bì được sắp xếp theo thứ tự thời gian, có nghĩa là theo ngày tháng, và được gửi đi từ Dresden, nước Đức, là nơi mà Bà được sinh ra. Một lá thư mỗi ngày, kể từ ngày 31 tháng 5 năm 1963, cho tới ngày tồi tệ ấy. Trên một số phong bì có đề “Gửi đứa con chưa ra đời của ta.” Một số đề “Gửi con trai ta.”

Cái gì thế này?

Tôi biết có lẽ là tôi không nên làm vậy, bởi vì chúng đâu có thuộc về tôi, nhưng tôi không kìm lòng được và mở ra một lá thư.

Nó được gửi đi ngày 6 tháng 2 năm 1972. “Gửi con trai ta.” Chiếc phong bì trống không.

Tôi mở ra một cái khác, từ một chồng khác. Đề ngày 22 tháng 11 năm 1986. “Gửi con trai ta.” Hoàn toàn trống rỗng.

Ngày 14 tháng 6 năm 1963. “Gửi đứa con chưa ra đời của ta.” Trống rỗng.

Ngày 2 tháng 4 năm 1979. Trống rỗng.

Tôi tìm thấy chiếc phong bì đề ngày tôi sinh ra đời. Trống rỗng.

Điều mà tôi muốn biết là, Bà đã cất toàn bộ các lá thư bên trong đi đâu.

Tôi nghe thấy có tiếng động từ căn phòng khác. Tôi đóng thật nhanh các ngăn kéo lại, thế là Bà nội sẽ không biết được tôi đã nhòm ngó lung tung khắp nhà Bà, và rón rén bước về cửa trước, bởi vì tôi sợ rằng những gì mà tôi vừa nghe thấy là do một tên trộm gây ra. Tôi lại nghe thấy tiếng động, và lần này thì tôi đoan chắc rằng nó phát ra từ căn phòng dành cho khách.

Tôi nghĩ, Người thuê nhà!

Tôi nghĩ , Ông ấy có thật!

Tôi chưa bao giờ yêu Bà nội như lúc này.

Tôi quay lại, nhón chân bước tới trước cửa căn phòng dành cho khách, và ghé tai vào vào đó. Tôi không nghe thấy gì nữa cửa. Nhưng khi tôi quỳ xuống, tôi nhìn thấy trong phòng có ánh sáng đèn. Tôi đứng lên.

“Bà ạ?” tôi thì thào. “Bà có trong đấy không thế?”

Không có gì cả.

“Bà ơi?”

Tôi nghe được một âm thanh rất khẽ. Tôi lại quỳ xuống, và lần này tôi thấy đèn đã tắt.

“Có ai ở trong đó không ạ? Cháu tám tuổi và cháu đang tìm bà nội cháu bởi vì cháu rất cần bà vào lúc này ạ.”

Có tiếng bước chân về phía cánh cửa, nhưng tôi khó khăn lắm mới nghe thấy chúng bởi vì chúng rất nhẹ và bởi vì tấm thảm. Tiếng bước chân dừng lại. Tôi có thể nghe thấy tiếng thở, nhưng tôi biết không phải là Bà nội, bởi vì tiếng thở ấy rõ ràng là nặng nề và chậm chạp hơn. Có cái gì đó chạm vào cánh cửa. Một bàn tay? Hai bàn tay?

“Xin chào?”

Nắm đấm cửa xoay tròn.

“Nếu ông là kẻ trộm, xin ông đừng giết cháu.”

Cánh cửa được mở ra.

Một người đàn ông đứng đó và không nói lời nào, và hiển nhiên ông ta không phải là tên trộm. Ông ấy đã quá già và có khuôn mặt gần như trái ngược so với của Mẹ, bởi vì nó nom thật nhăn nhúm trong khi nó không hề cau có. Ông ấy mặc một chiếc áo sơ mi cộc tay màu trắng, nên ta có thể thấy cẳng tay của ông ấy đầy những lông, và ông ấy có một khe hở ở giữa hai chiếc răng cửa, giống như Ba vậy.

“Ông là người thuê nhà ạ?”

Ông ấy cứng người lại trong một giây, và rồi ông ấy đóng cửa lại.

“Xin chào?”

Tôi nghe thấy tiếng ông ấy di chuyển các đồ vật xung quanh căn phòng, và rồi ông ấy quay trở lại và mở cửa ra. Ông ấy cầm trên tay một cuốn sổ nhỏ. Ông ấy mở ra trang đầu tiên, mà trắng tinh tình tình. “Ta không nói,” ông ấy viết, “Ta xin lỗi.”

“Ông là ai đấy ạ?” Ông ấy lật sang trang tiếp theo và viết, “Tên của ta là Thomas.” “Ba cháu cũng có tên như thế. Thật là trùng hợp. Ba cháu mất rồi.” Ở trang tiếp theo ông ấy viết, “Ta xin lỗi.” Tôi bảo với ông ấy, “Ông đâu có giết ba cháu.” Trang tiếp theo có hình của một cái tay nắm cửa, vì một lý do nào đó, nên ông ấy lật sang trang kế tiếp và viết, “Ta vẫn xin lỗi.” Tôi bảo với ông, “Cảm ơn ông.” Ông ấy lật lại vài trang giấy và chỉ vào “Ta rất tiếc.”

Chúng tôi đứng đó. Ông ấy ở trong căn phòng. Tôi ở ngoài hành lang. Cánh cửa được mở ra, nhưng tôi cảm thấy như thể có một cánh cửa vô hình khác đang ngăn cách giữa hai chúng tôi, bởi vì tôi không biết phải nói gì với ông nữa, và ông ấy cũng không biết phải viết gì cho tôi. Tôi bảo ông, “Cháu là Oskar,” và tôi trao cho ông danh thiếp của mình. “Ông có biết bà cháu đi đâu không ạ?” Ông ấy viết, “Bà ấy ra ngoài rồi.” “Đi đâu ạ?” Ông nhún vai, hệt như cái cách mà Ba vẫn thường làm. “Ông có biết khi nào thì bà về không ạ?” Ông ấy nhún vai. “Cháu đang cần gặp bà.”

Ông ấy đang đứng trên một tấm thảm, tôi thì đứng trên một tấm thảm khác. Đường tiếp giáp của hai tấm thảm ấy gợi cho tôi nhớ tới một nơi chốn mà không thuộc về bất kỳ một nơi nào cả.

“Nếu con muốn vào,” ông ấy viết, “thì chúng ta có thể cùng ngồi đợi bà của con.” Tôi hỏi ông ấy rằng liệu ông ấy có phải là người lạ không. Ông ấy hỏi lại tôi rằng ý của tôi là sao. Tôi bảo với ông, “Cháu không ở cùng người lạ đâu ạ.” Ông ấy không viết gì cả, như thể chính ông ấy cũng không biết được liệu mình có phải là một người lạ hay không. “Ông có lớn hơn bảy mươi tuổi không ạ?” Ông ấy cho tôi xem bàn tay trái của mình, mà có hình xăm chữ CÓ trên đấy. “Ông có tiền sử phạm tội nào không ạ?” Ông ấy giơ lên bàn tay phải, mà có chữ KHÔNG. “Ông còn nói được những ngôn ngữ nào nữa ạ?” Ông ấy viết ra, “Tiếng Đức. Tiếng Hy Lạp. La Tinh.” “Parlez-vous français[1]?” Ông ấy xòe ra và gập lại bàn tay trái, mà tôi nghĩ rằng điều ấy có nghĩa là un peu[2].

Tôi bước vào trong căn phòng.

Có chữ viết trên tường, chữ viết ở khắp mọi nơi, như là, “Tôi rất muốn có một cuộc đời thực thụ,” và “Dù chỉ một lần, dù chỉ một giây.” Tôi hi vọng, vì ông ấy, rằng Bà nội sẽ chẳng bao giờ trông thấy những thứ này. Ông ấy đặt cuốn sổ xuống và nhặt lên một cuốn khác, vì một nguyên cớ nào đó.

“Ông sống ở đây bao lâu rồi ạ?” tôi hỏi. Ông ấy viết, “Bà kể cho con biết ta sống ở đây bao lâu rồi?” “Ôi,” tôi nói, “từ khi ba cháu mất, cháu đoán thế, nên chắc khoảng hai năm.” Ông ấy xòe ra lòng bàn tay trái. “Thế trước đó ông ở đâu ạ?” “Bà bảo với con trước đó ta sống ở đâu?” “Bà không nói gì hết ạ.” “Ta không ở đây.” Tôi nghĩ đấy hẳn là một câu trả lời kì lạ, nhưng tôi đã quá quen với những câu trả lời kì lạ mất rồi.

Rồi ông ấy viết, “Cháu có muốn ăn cái gì đó không?” Tôi nói không. Tôi không thích cái cách ông nhìn chằm chằm vào tôi, bởi vì điều ấy khiến tôi thấy sợ hãi, nhưng tôi chẳng thể nói được gì. “Cháu có muốn uống gì đó không?”

“Câu chuyện của ông là gì ạ?” tôi hỏi. “Câu chuyện nào của ông?” “Vâng, câu chuyện của ông là gì ạ?” Ông ấy viết, “Ta không biết câu chuyện của ta là gì.” “Làm sao mà ông lại không biết câu chuyện của mình là gì được?” Ông ấy nhún vai, giống hệt như Ba. “Ông sinh ra ở đâu ạ?” Ông ấy nhún vai. “Làm sao mà ông lại không biết nơi mình đã sinh ra được!” Ông ấy nhún vai. “Thế ông lớn lên ở đâu ạ?” Ông ấy nhún vai. “Được rồi. Thế ông có anh hay chị em gì không?” Ông ấy lại nhún vai. “Công việc của ông là gì? Và nếu như ông đã nghỉ hưu, thì trước đây ông từng làm gì?” Ông ấy nhún vai. Tôi cố vặn óc để nghĩ ra thứ gì đó để hỏi ông ấy mà ông ấy không thể không biết câu trả lời được. “Ông có phải là con người không ạ?” Ông ấy lật lại các trang giấy trong cuốn sổ và chỉ vào, “Ta xin lỗi.”

Tôi chưa bao giờ cần Bà nội như lúc này.

Tôi hỏi người thuê nhà, “Cháu kể cho ông nghe chuyện của cháu có được không?”

Ông ấy xòe ra lòng bàn tay trái.

Nên tôi đặt câu chuyện của mình vào đó.

Tôi giả vờ ông là Bà nội, và tôi bắt đầu từ điểm khởi đầu.

Tôi kể cho ông ấy nghe về bộ lễ phục trên chiếc ghế, và làm sao mà tôi lại làm vỡ cái lọ hoa, và tìm thấy chiếc chìa khóa, và bác thợ khóa, và cái phong bì, và cửa hàng bán đồ họa phẩm. Tôi kể cho ông ấy nghe về giọng nói của Aaron Black, và về việc tôi gần như đã hôn Abby Black. Cô ấy không hề nói cô không muốn, chỉ là đấy không hẳn là một ý hay. Tôi kể cho ông ấy nghe về Abe Black ở Đảo Coney, và về Ada Black cùng với hai bức tranh của Picasso, và về những con chim bay qua khung cửa sổ nhà ông Black. Tiếng đập cánh của chúng là thứ đầu tiên mà ông ấy nghe được trong suốt hơn hai mươi năm qua. Rồi sau đó là Bernie Black, người có thể nhìn ra toàn cảnh Gramercy Park, mà không có được chìa khóa vào đó, mà ông ấy cho rằng như thế còn tệ hơn cả việc nhìn vào mấy bức tường gạch. Chelsea Black có vệt da trắng ở phần ngón tay đeo nhẫn, bởi vì cô ấy ly dị ngay sau khi trở về từ tuần trăng mật, và Don Black cũng là một nhà hoạt động vì động vật, và Eugene Black cũng có một bộ sưu tập tiền xu giống như tôi. Fo Black sống ở Canal Street, mà khi xưa từng là một con kênh. Ông ấy chỉ nói được bập bẹ vài từ tiếng Anh, bởi vì ông ấy chưa từng rời khỏi Chinatown kể từ khi ông ấy rời Đài Loan tới Mỹ, bởi vì ông ấy chẳng có lý do nào để làm thế. Suốt cả thời gian tôi nói chuyện với ông ấy tôi tưởng tượng rằng nước đang chảy ở phía bên kia của khung cửa sổ, như là trong một cái thủy cung ấy. Ông ấy rót cho tôi một tách trà, nhưng tôi không thích nó, dù vậy tôi vẫn uống, vì phép lịch sự. Tôi hỏi ông ấy rằng ông ấy có thật thích New York hay không, hay là ông chỉ mặc cái áo như thế mà thôi. Ông ấy mỉm cười, như thể ông ấy đang hồi hộp lắm. Tôi đoan chắc rằng ông ấy không hiểu cho lắm điều tôi nói, và điều ấy làm cho tôi thấy day dứt vì đã nói tiếng Anh, vì một lý do nào đó. Tôi chỉ tay vào cái áo phông của ông ấy. “Bác? Có? Thật? Thích? New York?” Ông ấy nói, “New York?” Tôi nói, “Áo. Của bác.” Ông ấy nhìn vào cái áo của mình. Tôi chỉ vào chữ N và nói “New,” và vào chữ Y và nói “York.” Ông ấy đâm ra bối rối, hoặc xấu hổ, hoặc ngạc nhiên, hoặc có thể là cả giận dữ nữa. Tôi không thể đoán được là ông ấy cảm thấy những gì, bởi vì tôi không thể đọc được thứ ngôn ngữ cảm xúc của ông ấy. “Bác không biết đấy là New York. Trong tiếng Trung, ny có nghĩa là ‘bạn.’ Bác cứ nghĩ rằng đấy là ‘Tôi yêu bạn.’” Chỉ đến lúc ấy tôi mới nhận ra tấm áp phích đề “I ❤NY” được dán trên tường, và lá cờ “I❤NY” được treo trên cánh cửa, và khăn lau bát có hình “I❤NY”, và hộp cơm in hình “I❤NY” nằm trên kệ bếp. Tôi hỏi ông ấy, “Ôi, thế tại sao bác lại yêu mọi người nhiều đến thế?”

Georgia Black, sống ở Staten Island, đã biến đổi căn phòng khách của mình trở thành một bảo tàng về cuộc đời của chồng bà. Bà ấy trưng bày những bức hình của chồng mình từ khi ông vẫn còn bé, và đôi giày đầu tiên của ông ấy, và những bảng điểm cũ kỹ của ông ấy, mà rõ ràng là không được sáng sủa như của tôi, nhưng dù sao thì chúng vẫn chỉ là bảng điểm mà thôi. “Các vị là những khách tham quan đầu tiên trong hơn một năm qua,” bà ấy nói, và bà ấy chỉ cho chúng tôi xem một cái mề đay nhỏ bằng vàng được đựng trong một cái hộp nhung. “Ông ấy từng là một sĩ quan hải quân, và bà thích được trở thành vợ của sĩ quan hải quân. Cứ một vài năm ông bà lại tới một vùng đất mới. Bà chưa bao giờ có cơ hội đặt chân xuống nhiều vùng đất mới, và điều ấy đôi khi khá đáng sợ. Ông bà từng sống hai năm ở Philippines.” “Tuyệt,” tôi nói, và ông Black bắt đầu hát một ca khúc bằng thứ ngôn ngữ kỳ lạ nào đó, mà tôi đoán hẳn phải là tiếng Philippines. Bà ấy cho chúng tôi xem album ảnh cưới, mỗi lần một bức hình, và nói, “Hồi xưa tôi có xinh đẹp và nhỏ nhắn không nào?” Tôi bảo với bà ấy, “Đúng ạ.” Ông Black nói, “Và bây giờ vẫn vậy.” Bà ấy bảo, “Hai người mới dễ thương làm sao.” Và tôi trả lời, “Vâng.”

“Đây là lỗ golf 3 gậy mà ông ấy đánh bóng vào lỗ chỉ với một gậy. Ông ấy rất tự hào về điều đó. Trong mấy tuần liền tôi chỉ toàn nghe thấy ông ấy kể chuyện này. Còn đây là chiếc vé máy bay của chúng tôi tới đảo Maui, Hawaii. Tôi không quá ngạo mạn để nói với hai người rằng đó là lễ kỉ niệm thứ ba mươi của chúng tôi. Ba mươi năm. Chúng tôi sẽ làm mới lời nguyện của mình. Chỉ giống như các tiểu thuyết ái tình ấy mà. Ông ấy xách theo một cái túi toàn hoa là hoa, cùng với một trái tim ấm áp. Ông ấy muốn làm cho tôi ngạc nhiên trên máy bay, nhưng tôi lại nhìn vào màn hình hải quan khi cái túi của ông ấy chạy trên băng truyền, và làm sao mà lại không thấy được có một bó hoa màu đen trong ấy cơ chứ. Nó giống như là bóng của những bông hoa vậy. Tôi mới là một cô nàng may mắn làm sao.” Bà ấy dùng một miếng vải để chùi đi dấu vân tay của chúng tôi.

Chúng tôi mất đến bốn tiếng mới tới được nhà của bà ấy. Hai tiếng trong số đó là bởi vì ông Black phải thuyết phục tôi bắt phà đi Đảo Staten. Bên cạnh yếu tố đó thực sự là một mục tiêu tấn công tiềm năng, gần đây cũng có khá nhiều những tai nạn tàu biển xảy ra, và trong cuốn sổ Những Điều Xảy Ra Quanh Tôi tôi có hẳn những bức hình về những người mất cả tay lẫn chân vì đi phà. Ngoài ra, tôi cũng không thích thú gì sông nước cả. Hoặc là các con tàu, một cách cụ thể. Ông Black hỏi tôi rằng tôi sẽ cảm thấy thế nào ở trên giường tối nay nếu như tôi không chịu bắt phà. Tôi bảo với ông ấy, “Rất khó chịu, có thể là thế ạ.” “Và cháu sẽ thấy thế nào nếu cháu làm thế này?” “Rất xứng đáng ạ.” “Thế thì sao?” “Thế sẽ thế nào nếu cháu đặt chân lên phà? Nhỡ may mà nó chìm mất thì phải làm sao? Nếu có ai đấy đẩy cháu xuống biển thì sao? Nếu như nó bị tập kích bằng một cái tên lửa tầm trung thì sao? Thế thì sẽ chẳng có cái tối nay nào cả.” Ông trả lời, “Đối với tất cả các khả năng đó cháu sẽ không còn cảm thấy gì hết cả.” Và tôi nghĩ về điều đó.

“Đây là lời đánh giá từ sĩ quan chỉ huy của ông ấy,” Georgia nói, chỉ vào lời chú thích. “Nó được dùng làm mẫu. Đây là cái cà vạt ông ấy đeo trong đám tang của bà cụ nhà mình, cầu cho bà ấy yên nghỉ nơi thiên đàng. Bà ấy là một người vô cùng dịu dàng. Hơn hẳn những người khác. Và đây là hình chụp ngôi nhà thời thơ ấu của ông ấy. Từ trước khi tôi được gặp ông ấy, hẳn nhiên rồi.” Bà ấy chỉ vào mọi lời chú thích và lau đi dấu vân tay của mình, giống như là dải băng dính Möbius. “Còn đây là thư nhận vào trường đại học của ông ấy. Còn đây là hộp thuốc lá mà ông ông ấy từng hút. Đây là Huân chương Purple Heart[3] của ông ấy.”

Tôi bắt đầu cảm thấy khó chịu, vì những lí do hiển nhiên, như là thế những vật kỉ niệm của bà ấy thì nằm ở đâu? Những đôi giày của bà và các bằng cấp của bà ở đâu? Bóng của những bông hoa của bà ở đâu? Tôi đưa ra quyết định rằng tôi sẽ không hỏi bà về chiếc chìa khóa, bởi vì tôi muốn bà tin rằng chúng tôi tới thăm viện bảo tàng của bà, và tôi cho rằng ông Black cũng cùng chung ý kiến. Tôi quyết định với chính mình rằng nếu như chúng tôi đi hết danh sách mà vẫn chẳng có thu hoạch gì, rằng rất có thể là như vậy, nếu như chúng tôi không còn lựa chọn nào khác, thì chúng tôi có thể quay lại đây và hỏi bà ấy. “Đây là đôi giày mà ông ấy từng đi hồi bé tí ti.”

Nhưng rồi tôi bắt đầu lo lắng: bà ấy nói rằng chúng tôi là những vị khách đầu tiên trong hơn một năm qua. Ba thì đã mất hơn một năm về trước. Vậy có phải Ba đã tới đây trước chúng tôi hay không?

“Chào mọi người,” có tiếng người vang lên bên khung cửa. Ông ấy đang cầm hai cái ly, mà có khói bốc lên từ đó, và tóc ông ấy thì ướt nhẹp. “Ô, ông dậy rồi à!” bà Georgia nói, đón lấy cái tác có chữ “Georgia” trên đó. Bà hôn ông ấy một cái thật kêu, và tôi giống như, Cái gì thế trong cái gì thế? “Ông ấy đây rồi,” bà nói. “Ông ấy là ai?” ông Black hỏi. “Chồng tôi,” bà ấy trả lời, như thể ông ấy là một vật trưng bày khác trong viện bảo tàng của cuộc đời mình. Bốn chúng tôi đứng đó và mỉm cười với nhau, và rồi người đàn ông đó nói, “À, tôi đoán là các vị cũng sẽ thích thú khi thăm quan viện bảo tàng của tôi thôi.” Tôi bảo ông ấy, “Chúng cháu vừa xem xong ạ. Phải nói là rất tuyệt.” Ông nói, “Không đâu, Oskar ạ, đây là bào tàng của bà ấy. Phòng trưng bày của ông ở một căn phòng khác cơ.”

Cảm ơn về bức thư của cháu. Do bác nhận được rất nhiều tư, mà bác không thể viết thư trả lời riêng cho cháu được. Tuy nhiên, cháu cần biết rằng bác đọc và giữ lại tất cả các lá thư, với hi vọng rằng sẽ hồi âm vào một ngày thích hợp nào đó. Hẹn gặp lại vào này đó.

Thân mến,

Stephen Hawking

Tuần đó trôi qua nhanh chóng. Iris Black. Jeremy Black. Kyle Black. Lori Black … Mark Black bật khóc khi ông ấy mở cửa nhà và nhìn thấy chúng tôi, bởi vì ông ấy đang đợi chờ một ai đó đến với ông ấy, nên mỗi khi có một ai đó gõ cửa nhà, ông ấy không thể ngăn lại việc hi vọng rằng người đang đứng bên ngưỡng cửa kia là người ấy, dù cho ông biết rằng đáng lý ra ông đừng nên hi vọng.

Bạn cùng nhà của Nancy Black cho chúng tôi biết rằng Nancy đang làm việc ở quán café nằm trên phố Mười Chín, nên chúng tôi tới đó, và tôi nói với cô ấy rằng cà phê của cô ấy thực sự là có nhiều caffeine trong đó hơn hẳn một tách espresso[4], cho dù có nhiều người không nghĩ như vậy, bởi vì nước gắn kết với mặt đất lâu hơn rất nhiều so với cà phê. Cô ấy bảo tôi rằng cô ấy không hề biết tới điều đó. “Nếu thằng bé nói thế, thì đúng như vậy đấy,” ông Black nói, xoa đầu tôi. Tôi bảo với cô, “Ngoài ra, cô có biết rằng nếu như cô hét suốt chín năm liền, cô sẽ sản sinh ra đủ năng lượng để pha một tách cà phê không?” Cô ấy nói, “Cô không.” Tôi nói, “Đấy là lý do vì sao mà họ nên đặt một tiệm cà phê ngay cạnh đường trượt Cyclone[5] ở Coney Island! Cô hiểu không?” Điều ấy khiến tôi bật cười, nhưng chỉ có mình tôi làm như vậy. Cô ấy hỏi tôi rằng tôi có muốn gọi món gì không. Tôi bảo với cô ấy, “Làm ơn cho cháu một ly cà phê đá.” Cô ấy hỏi, “Cháu muốn cỡ nào?” Tôi nói, “Vente, và cô có thể dùng đá được làm từ cà phê để cho ly cà phê của cháu không bị loãng khi đá tan không ạ?” Cô ấy bảo tôi rằng quán không có đá làm từ cà phê. Tôi nói, “Chính xác.” Ông Black nói, “Tôi sẽ đi thẳng vào vấn đề,” và ông ấy đã làm như vậy. Tôi đi vào nhà vệ sinh và tự véo cho mình một cái.

Ray Black đang ở tù, nên chúng tôi không thể nói chuyện với ông ấy. Tôi làm một vài động tác tìm kiếm trên Internet và tìm ra rằng ông ta phải ngồi tù vì đã giết chết hai đứa trẻ sau khi cưỡng dâm chúng. Còn có cả hình của những đứa trẻ bị sát hại đó nữa, và cho dù tôi biết nhìn hình của chúng chỉ khiến tôi thêm đau lòng, tôi vẫn cứ nhìn vào những bức hình. Và tôi in chúng ra và dán vào cuốn sổ Những Điều Xảy Ra Quanh Tôi, ngay bên cạnh bức hình Jean-Pierre Haignerè, một phi hành gia người Pháp mà được đưa về trên con tàu vũ trụ của ông sau khi trở về từ trạm không gian Mir, bởi vì trọng lực không chỉ là thứ duy nhất khiến cho ta bị ngã, mà đó còn là thứ khiến cho cơ bắp của ta trở nên cứng cáp hơn. Tôi viết một bức thư cho Ray Black ở trong tù, nhưng tôi chẳng bao giờ nhận được hồi âm. Trong thâm tâm, tôi hi vọng rằng ông ta chẳng liên quan gì tới chiếc chìa khóa, cho dù tôi không thể ngăn nổi việc tưởng tượng ra rằng chiếc chìa khóa được dùng để mở cửa buồng giam của ông ta.


[1] Parlez-vous français: (tiếng Pháp) Ông có nói tiếng Pháp không?

[2] un peu: (tiếng Pháp) một chút

[3] Huân chương Purple Heart: Huân chương cao quý do tổng thống Hoa Kỳ trao tặng cho những người bị thương hay hi sinh trong lúc phục vụ trong Quân đội Hoa Kỳ.

[4] Cà phê espresso được pha chế bằng cách dùng nước nóng nén dưới áp suất cao (khoảng 9 đến 10 bar) qua bột cà phê được xay rất nhuyễn. Pha chế bằng phương pháp này cà phê sẽ rất đậm và trên mặt có một lớp bọt màu nâu (crema) đóng phần quan trọng trong việc tạo hương thơm cho cà phê. Cà phê espresso thường được uống bằng tách dày có hâm nóng trước, dung tích vào khoảng 40 ml và có hoặc không pha đường tùy theo khẩu vị. Cà phê espresso thường được phục vụ kèm theo một ly nước.

Cà phê espresso là loại cà phê thường được uống ở Ý và Tây Ban Nha, là những nơi mà người ta gọi nó đơn giản là cà phê. Cà phê espresso có nguồn gốc ở Ý, nơi xuất hiện cách pha cà phê này vào khoảng năm 1930. Espresso bắt nguồn từ tiếng Ý espressivo, từ diễn tả một thức ăn uống được pha chế đặc biệt dành cho thực khách, bắt nguồn từ lúc đầu tiên khi chỉ có cà phê espresso trong các quán bar.

[5] Cyclone

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: