Extremely Loud & Incredibly Close (19)

Ảnh

VÌ SAO TA KHÔNG Ở BÊN CON

Gửi đứa trẻ của ta: Ta viết những dòng này trên mảnh đất của ông ngoại con, ngôi nhà giờ không còn nữa, không còn nữa cả những tấm thảm trải sàn, không còn nữa những khung cửa sổ quanh bốn bức tường, mọi thứ đều đã bị thay thế. Giờ nơi này đã trở thành một thư viện, điều đó hẳn sẽ khiến ông của con hạnh phúc, vì tất cả những cuốn sách bị chôn vùi của ông hẳn đã trở thành hạt giống, và mỗi một cuốn sách nảy nở thành con số hàng trăm. Ta đang ngồi ở phía đầu một cái bàn dài mà bao quanh là những cuốn bách khoa thư, đôi khi ta lấy xuống một cuốn sách và đọc về cuộc đời của những người khác, các ông vua, các nữ diễn vin, những kẻ ám sát, các vị thẩm phán, những nhà nhân loại học, những quán quân môn tennis, các ông trùm, các chính trị gia, chỉ bởi vì con không nhận được thư của ta mà đừng cho rằng ta chưa chắp bút viết một lá thư nào cả. Mỗi ngày ta đều viết thư cho con. Đôi khi ta cứ nghĩ nếu như ta có thể kể cho con nghe về điều đã xảy ra vào đêm đó, thì ta hẳn có thể bỏ lại cái đêm ấy phía sau ta, có thể ta sẽ trở về nhà với con, nhưng cái đêm ấy chẳng có khởi đầu nên cũng sẽ không bao giờ kết thúc, nó bắt đầu từ trước khi ta được sinh ra và nó vẫn còn tiếp diễn. Ta đang viết cho con từ Dresden, và mẹ của con thì đang viết trong căn phòng khách Không gì cả, ta đoán là vậy, ta cũng hi vọng như vậy, đôi khi bàn tay ta bắt đầu đau buốt và ta tự thuyết phục mình rằng chúng ta đang viết cùng một từ trong cùng một thời điểm. Anna từng tặng ta chiếc máy đánh chữ mà mẹ con đã dùng nó để viết ra câu chuyện đời mình. Cô ấy tặng nó cho ta chỉ một vài tuần trước khi trận bom nổ ra, ta cảm ơn cô ấy, và cô ấy nói, “Tại sao anh lại cảm ơn em? Đối với em đấy là một món quà.” “Quà dành cho em á?” “Anh chưa bao giờ viết cho em cái gì cả.” “Nhưng mà anh luôn ở bên em.” “Thì sao?” “Em chỉ viết cho người mà em không thể ở bên thôi.” “Anh cũng chẳng bao giờ tạc tượng em, nhưng ít nhất thì anh có thể viết cho em.” Đó chính là bi kịch của tình yêu, con chẳng bao giờ có thể yêu thứ gì được hơn nỗi nhớ mà con dành cho nó. Ta bảo cô ấy, “Em cũng có bao giờ viết cho anh đâu.” Cô ấy trả lời, “Thì anh chẳng bao giờ tặng cho em một cái máy đánh chữ cả.” Ta bắt đầu sáng tác ngôi nhà trong tương lai của bọn ta, ta đánh máy trọn một đêm và đưa bản thảo cho cô ấy vào sáng hôm sau. Ta đã tưởng tượng ra hàng tá những ngôi nhà, một số thì màu nhiệm (một tháp đồng hồ với một cái dừng đồng hồ ở trong thành phố nơi mà thời gian có thể ngừng lại), một số thì trần tục (một điền trang trưởng giả ở nông thôn với vườn hồng và cánh cổng vòm), mà mỗi khả năng đều có tính khả thi và hoàn hảo cả, và ta không biết liệu mẹ con có bao giờ nhìn thấy chúng hay chưa. “Anna yêu dấu, Chúng mình sẽ sống trong một ngôi nhà được xây dựng trên nóc của chiếc thang cao nhất thế giới.” “Anna yêu dấu, Chúng mình sẽ sống trong một cái hang bên sườn đồi ở Thổ Nhĩ Kỳ.” “Anna yêu dấu, Chúng mình sẽ sống trong một ngôi nhà không có tường, và bất kỳ nơi nào mà ta đặt chân tới cũng là nhà của ta.” Ta không cố tạo ra những ngôi nhà tốt hơn và tốt hơn, mà cố để cho cô ấy biết rằng nhà cửa không phải là vấn đề quan trọng, bọn ta có thể sống trong bất kỳ ngôi nhà nào, ở bất kỳ thành phố nào, tại bất kỳ quốc gia nào, vào bất kỳ kỷ nguyên nào, và có thể hạnh phúc, cứ như thể thế giới này là của bọn ta. Vào đêm trước cái ngày mà ta mất đi tất cả, ta sáng tác ngôi nhà tương lai cuối cùng của bọn ta: “Anna yêu dấu, Chúng mình sẽ sống ở nhiều ngôi nhà khác nhau, mà sẽ nằm trên đỉnh núi alp, và ta sẽ không bao giờ ngủ ở nơi nào quá hai đêm. Sau mỗi bữa sáng, chúng mình sẽ chuyển sang một căn nhà mới. Và khi mình mở cửa trước, ngôi nhà cũ sẽ biến mất và trở thành căn nhà mới. Khi ta xuống tới mặt đất, ta sẽ đi thang máy lên đỉnh núi và bắt đầu lại từ đầu.” Ta mang bức thư tới cho cô ấy ngày hôm sau, trên đường từ nhà của ta tới nhà của mẹ con, ta nghe thấy có tiếng từ khu đất, từ nơi mà ta đang viết bức thư này cho con, ta nghi ngờ đấy là tiếng của Simon Goldberg. Ta biết rằng cha của Anna đang che giấu ông ấy, ta đã nghe thấy tiếng họ thì thầm trong mấy tối mà Anna và ta lẻn ra cánh đồng, hai người bọn họ luôn thì thào với nhau, ta đã trông thấy cái áo sơ mi ố bẩn trên dây phơi quần áo. Ta không muốn mình bị phát hiện, nên ta nhẹ nhàng dịch một quyển sách khỏi bức tường. Cha của Anna, tức là ông ngoại con, đang ngồi trên ghế và khuôn mặt vùi trên lòng bàn tay, ông ấy là người hùng trong lòng ta. Khi ta nghĩ lại về thời điểm ấy, ta chưa từng bao giờ nhìn thấy ông ấy vùi mặt vào lòng bàn tay như thế, và ta sẽ không để cho mình nhìn thấy ông theo cách ấy, ta nhìn xuống quyển sách đang cầm trong tay, đó là một bản minh họa cho cuốn Metamorphosis của Ovid. Ta đã từng tìm kiếm bản này ở nước Mỹ, như thể nếu tìm ra được cuốn sách thì ta có thể trả nó lại vào bức tường sách của ngôi nhà, và xóa bỏ hình ảnh người hùng của ta vùi mặt vào trong lòng bàn tay, dừng lại cuộc đời ta và cả lịch sử ngay tại thời khắc đó, ta tìm kiếm nó trong mọi hiệu sách ở New York, nhưng ta chẳng bao giờ tìm ra, ánh sáng tràn vào căn phòng qua lỗ hổng trên tường, ông ngoại con ngẩng mặt lên, ông ấy đi đến chỗ giá sách và chúng ta nhìn thấy nhau qua vị trí của cuốn Metamorphosis bị khuất dạng, ta hỏi ông có ổn không, và ông không nói gì cả, ta chỉ có thể nhìn thấy một phần khuôn mặt ông ấy, cái gáy của quyển sách khuôn mặt ông ấy, chúng ta nhìn nhau cho tới khi mọi thứ gần như bùng cháy tới nơi, đó là thời khắc yên lặng nhất cuộc đời ta. Ta tìm thấy Anna ở trong phòng, “Chào em.” “Chào anh.” “Anh vừa trông thấy cha em.” “Trong nhà à?” “Ông ấy có vẻ không vui.” “Ông ấy không muốn dính dáng vào chuyện này thêm nữa.” Ta nói với cô ấy, “Mọi chuyện rồi sẽ sớm kết thúc thôi.” “Làm sao anh biết được?” “Ai cũng nói thế cả.” “Mọi người sai hết rồi.” “Tất cả rồi sẽ kết thúc, và cuộc sống sẽ trở lại bình thường.” Cô ấy nói, “Không nên ngây thơ như thế.” “Em đừng quay mặt đi.” Cô ấy không thèm nhìn ta. Ta hỏi, “Có chuyện gì thế?” Ta chưa từng thấy cô ấy khóc. Ta bảo cô ấy, “Em đừng khóc.” Cô ấy trả lời, “Đừng đụng vào em.” Ta hỏi, “Sao thế em?” Cô ấy bảo, “Anh im đi được không!” Chúng ta ngồi im lặng bên giường của cô ấy. Sự im lặng dồn xuống chúng ta như sức ép từ một bàn tay. Ta nói, “Dù có chuyện gì –” Cô ấy trả lời, “Em đã có thai.” Ta không thể viết ra những gì mà bọn ta nói với nhau sau đó. Trước khi ta rời đi, cô ấy nói, “Làm ơn hãy tỏ ra vui sướng.” Ta bảo với cô ấy ta đang rất vui sướng, và đó là sự thật, ta hôn cô ấy, ta hôn vào bụng cô ấy, và đó là lần cuối cùng ta nhìn thấy cô ấy. Vào 9:30 tối đêm đó, tiếng còi tầm báo hiệu cuộc không kích vang lên, mọi người đều chạy xuống hầm trú ẩm, nhưng không một ai vội vàng cả, chúng ta đã quá quen thuộc với tiếng còi, và chúng ta cho rằng lần này cũng chỉ là một báo hiệu giả, tại sao người ta lại muốn đánh bom Dresden cơ chứ? Các gia đình trên khu phố ta ở tắt đèn trong nhà của họ và chạy về hầm trú ẩn, ta lưỡng lự trên bậc tam cấp, ta nghĩ đến Anna. Xung quanh tĩnh lặng như tờ và ta không còn nhìn thấy tay mình trong bóng tối. Hàng trăm chiếc máy bay đang quần thảo trên bầu trời, những chiếc máy bay khổng lồ, nặng nề ập đến trong đêm tối như hàng trăm con cá voi cùng một lúc xuất hiện trong dòng nước, bọn họ thả hàng cụm pháo sáng màu đỏ vào trong bóng đêm cho bất cứ thứ gì diễn ra tiếp đó, ta còn có một mình trên phố, pháo sáng rơi xung quanh ta, hàng ngàn quả pháo, ta biết sẽ có điều không tưởng tượng nổi xảy ra, ta nghĩ đến Anna, ta cảm thấy vui sướng. Ta chạy xuống cầu thang với bốn bước một, họ nhìn thấy cảm xúc trên khuôn mặt của ta, trước khi ta có thời gian để nói bất cứ điều gì – mà liệu ta sẽ nói gì đây? – chúng ta nghe thấy một tiếng nổ khủng khiếp, xé tai, như thể một khối đông đúc khán giả đang chạy về phía chúng ta, rồi bọn họ ở trên đầu chúng ta, chúng ta bị hất vào các góc, căn hầm đầy những lửa và khói, ngày càng nhiều những tiếng nổ hơn, bức tường bị nâng lên khỏi mặt đất và tách ra đủ lâu để ánh sáng tràn vào trước khi rơi xuống lại mặt đất, những cột khói màu cam và xanh, cả màu tím và trắng, sau đó ta đọc được rằng trận bom đầu tiên kéo dài ít hơn nửa tiếng đầu hồ, nhưng nó dường như kéo dài hàng ngày và hàng tuần, như thể thế giới này sẽ đến hồi tận thế, trận bom cuối cùng cũng kết thúc. “Mọi người có sao không?” “Mọi người có sao không?” “Mọi người có sao không?” Chúng ta chạy ra khỏi hầm trú ẩm, nơi ngập lụt những khói màu vàng và xám, chúng ta không nhìn thấy gì cả, chỉ trước đó có nửa giờ ta còn phải cúi khom người, và giờ thì không còn khom người trước ngôi nhà nào hay con phố nào nữa, chỉ còn có khói lửa khắp mọi nơi, tất cả những gì còn lại của ngôi nhà của ta là một mảng tường ngoan cố bên khung cửa trước, một con ngựa bị thiêu cháy phóng vút qua, những chiếc xe và xe hàng bốc cháy chở những hành khách cùng chung số phận, người người la hét, ta nói với cha mẹ mình rằng ta phải đi tìm Anna, mẹ ta bảo ta hãy ở lại, ta trả lời ta sẽ gặp lại họ ở trước cửa nhà, cha ta cầu xin ta ở lại, ta vặn tay nắm cửa và nó lột phần da trên tay ta ra, ta nhìn thấy các thớ thịt trong lòng bàn tay, đỏ lòm và rung rung theo từng nhịp đập, tại sao ta lại cầm nó với bàn tay kia? Cha ta hét lên, đó là lần đầu tiên trong đời ông quát mắng ta, ta không thể viết ra những lời ông nói, ta nói rằng ta sẽ gặp họ ở nơi này, ông vả vào mặt ta, đó là lần đầu tiên trong đời cha đánh ta, và đó là lần cuối cùng ta nhìn thấy cha mẹ mình. Trên đường tới nhà Anna, cuộc oanh kích thứ hai diễn ra, ta chạy vào nơi trú ẩn gần nhất, căn hầm đã bị hỏng, nó lấp đầy bởi khói màu hồng và lửa vàng, nên ta chạy sang căn hầm tiếp theo, và nó đang bốc cháy, ta cứ thế chạy từ căn hầm này sang căn hầm khác vì căn hầm trước đó đã bị phá hủy, những con khỉ bị thiêu cháy la hét trong những lùm cây, những con chim với đôi cánh bốc chay đang cất tiếng hót trên các đường dây điện thoại mà có thể sẽ làm cản trở những cuộc điện thoại, ta tìm thấy một căn hầm tú ẩm khác, nó đầy chật đến chân tường, khói nâu đổ xuống từ trần nhà như một bàn tay, càng lúc càng khó hít thở hơn, phổi ta như muốn xé toang cả căn phòng bằng hơi thở của mình, có một tiếng nổ lớn, tất cả bọn ta đều cố gắng chạy ra ngoài cùng lúc, những người đã chết và vừa chết bị giày xéo, ta đi qua một ông già, ta bước qua những đứa trẻ, ai ai cũng mất mát một ai đó, những quả bom ấy giống như một thác nước vậy, trôi qua những con phố, từ nơi trú ẩm này sang nơi trú ẩm khác, và chứng kiến những điều khủng khiếp: chân và cổ, ta nhìn thấy một người phụ nữ có mái tóc vàng và chiếc váy màu xanh đang bị thiêu cháy, hoảng loạn chạy trốn với một đứa trẻ im lìm trong vòng tay, ta nhìn thấy con người tan chảy ra thành thứ chất lỏng như trong một cái hồ, sâu chừng ba đến bốn feet, ta nhìn thấy những thân thể cháy xèo xèo như đống than hồng, bật cười, và phần còn lại của rất nhiều người đang cố thoát khỏi đám cháy bằng cách lao đầu vào các hồ và ao, phần còn lại của cơ thể họ mà chìm trong nước hoàn toàn nguyên vẹn, trong khi phần trồi lên khỏi mặt nước đã hóa thành than và không thể nhận ra, bom vẫn nổ trên đầu, tím, da cam và trắng, ta cắm cúi chạy, tay ta tiếp tục rỉ máu, qua tiếng sập đổ của các tòa nhà ta thấy tiếng gào thét của trẻ con giờ đã tắt lịm. Ta chạy qua sở thú, các cửa chuồng đã bị phá hỏng, các con thú lang thang khắp mọi nơi, những con thú đờ đẫn gào thét trong đau đớn và hoang mang, một người quản thú kêu lên cần giúp đỡ, đó là một người đàn ông vạm vỡ, đôi mắt của ông đã bị mù, ông túm lấy tay ta và hỏi ta có biết bắn súng không, ta bảo rằng ta phải đi tìm người, ông ấy trao cho ta khẩu súng trường và dặn, “Cậu phải tìm những con thú ăn thịt,” ta trả lời rằng ta không phải là tay súng cừ, ta trả lời rằng ta không biết con nào là thú ăn thịt và con nào thì không, ông ấy nói, “Thế thì cứ bắn tất cả những con mà cậu trông thấy,” ta không biết được ta đã giết bao nhiêu con thú, ta giết một con voi, nó bị hất ra khỏi chuồng hai mươi yard, ta nhắm vào đằng sau cái đầu của nó và phân vân, khi ta bóp cò, Có cần phải giết nó không nhỉ? Ta giết một con vượn đang núp vào dưới gốc của một cái cây đổ, tự bứt lông mình như thể nó đang nghiên cứu nguyên nhân suy vi, ta giết hai con sư tử, chúng đang đứng bên nhau và hướng mặt về phía tây, liệu chúng có phải là họ hàng không, liệu chúng có phải là bạn bè, hay bạn đời, và liệu loài sư tử có thể yêu không? Ta giết chết một con thú con đang bò lên người một con gấu khổng lồ đã chết, có phải nó đang trèo lên người của mẹ nó? Ta giết chết một con lạc đà với mười hai viên đạn, ta nghi ngờ nó không phải là một con thú ăn thịt, nhưng ta giết hết mọi con thú, mọi con thú cần phải bị giết, một con tê giác đang đập đầu vào tảng đá, lập đi lập lại, như thể mong muốn đưa nó ra khỏi sự chịu đựng này, hoặc để tự hành hạ mình, ta bắn nó, nó tiếp tục đập đầu vào đá, ta bắn thêm phát nữa, nó đập đầu vào đá mạnh hơn, ta tiến đến gần con vật và đặt họng súng vào khoảng giữa của hai mắt nó, và ta giết nó, ta cũng giết cả một con ngựa vằn, ta giết cả một con hươu cao cổ, ta biến nước trong hồ dành cho sư tử biển thành một màu đỏ lòm, một con vượn tiến đến chỗ ta, đó là con vật mà ta đã bắn trước đó, ta cứ nghĩ rằng ta đã giết nó, nó lê bước tới chỗ ta đứng, đôi bàn tay của nó che lấy tai, nó muốn gì ở ta kia chứ, ta thét lên, “Mày muốn gì?” Ta lại bắn, vào nơi mà ta đoán là vị trí của trái tim, nó ngước lên nhìn ta, trong đôi mắt ấy ta thề rằng ta nhìn thấy một cảm xúc dường như là sự thấu hiểu, nhưng ta không thấy được sự tha thứ, ta cố bắn lũ chim kền kền, nhưng ta bắn không giỏi đến mức ấy, rồi sau đó ta nhìn thấy lũ chim kền kền bu quanh những xác người, và ta nguyền rủa mình vì tất cả mọi thứ. Trận bom thứ hai diễn ra đột ngột và toàn vẹn như trận đầu tiên, với mái tóc cháy xém, với cánh tay và những ngón tay đen đúa, ta bước đi, thẫn thờ, đến chân cầu Loschwitz Bridge, ta nhúng bàn tay xạm đen của mình vào dòng nước màu đen, và nhìn thấy bóng mình trong đó, ta hoảng sợ với hình ảnh của chính mình, tóc ta bết máu, môi ta nứt toác và chảy máu, bàn tay đỏ lòm và run rẩy mạch đập, mà, ngay cả khi ta viết những dòng này, ba nhăm năm sau đó, có vẻ như đó không thể là kết cục cho bàn tay ta. Ta nhớ rằng khi ấy ta đã mất cân bằng, ta nhớ rằng khi ấy có một ý nghĩ diễn ra trong đầu ta: Hãy tiếp tục suy nghĩ. Chỉ cần ta còn suy nghĩ, thì ta vẫn còn sống, nhưng có lúc ta đã ngừng suy nghĩ, và điều tiếp theo ta nhớ được là cảm thấy lạnh lẽo khủng khiếp, ta nhận ra ta đang nằm trên mặt đất, đau đớn, khiến ta hiểu ra rằng ta vẫn chưa chết, ta bắt đầu chuyển động chân và tay, sự chuyển động của ta khiến một người lính bị điều động tham gia chiến dịch nhận thấy, đang tìm kiếm những kẻ sống sót, sau này ta mới biết có 220 thi thể được phát hiện dưới chân cầu, và chỉ có 4 là sống sót. Trong đó có ta. Họ tống chúng ta lên một chiếc xe tải và đưa ra khỏi Dresden, ta nhìn ra bên ngoài tấm vải bạt trùm lên chiếc xe tải, những ngôi nhà bị lửa liếm trụi, cây cối chìm trong biển lửa, trên mặt đường trải nhựa, ta nhìn và nghe thấy tiếng những người bị mắc kẹt, ta ngửi thấy cả mùi của họ, đứng trên những con đường bốc cháy, tan chảy như những ngọn đuốc sống, gào thét sự cứu giúp mà không thể ban phát vào lúc này, ngay cả không khí cũng gần như bốc cháy, chiếc xe phải vật lộn mất một lúc lâu mới thoát ra khỏi cảnh vây khốn đó, những máy bay xà xuống chỗ chúng ta thêm một lần nữa, chúng ta bị lôi ra khỏi chiếc xe và đặt nằm dưới gầm xe, máy bay lao xuống, tiếp tục là pháo kích, là bom đạn, vàng, đỏ, xanh lá, xanh lam, nâu, ta lại mất ý thức, khi thức giấc ta thấy mình nằm trên một cái giường bệnh màu trắng, ta không thể cử động được chân tay, ta lo sợ chúng đã bị cắt bỏ, nhưng ta không đủ sức lực để tự mình kiểm tra, hàng giờ trôi qua, hoặc là hàng ngày, khi mà ta nhìn xuống, ta thấy mình bị trói chặt trên giường, một cô y tá đứng ngay bên cạnh ta, ta hỏi “Tại sao cô lại làm thế với tôi?” Cô ta bảo ta rằng ta đã cố tự hủy hoại mình, ta xin cô ấy thả ta ra, cô ta trả lời rằng không thể, cô ta nói rằng ta sẽ lại tự làm đau mình, ta cầu xin được thả ra, ta hứa sẽ không tự làm mình bị thương, ta hứa danh dự, cô ta xin lỗi và chạm vào người ta, rồi bác sĩ đến mổ cho ta, họ tiêm thuốc và băng bó khắp người ta, nhưng chính cái chạm của cô y tá mới cứu rỗi đời ta. Sau nhiều ngày và nhiều tuần khi ta được thả ra, ta không ngừng tìm kiếm cha mẹ mình và Anna và con. Tất cả mọi người đều tìm kiếm ai đó trong đống đổ nát của mỗi căn nhà, nhưng tất cả những cuộc tìm kiếm đều hóa ra vô vọng, ta tìm lại ngôi nhà cũ, khung cửa vẫn đứng đó một cách ngoan cố, một số ít ỏi những đồ đạc vẫn còn sót lại, cả cái máy đánh chữ nữa, ta ôm nó vào lòng như ôm một đứa trẻ, trước khi rời đi ta viết lên cánh cửa rằng ta vẫn còn sống, và cả địa chỉ của trại tị nạn ở Oschatz, ta chờ đợi một bức thư được chuyển đến, nhưng chẳng có gì đến được với ta. Bởi vì có quá nhiều xác chết, và bởi vì có quá nhiều cái xác đã bị hủy hoại, nên chẳng bao giờ có nổi một danh sách những người đã chết, và hàng ngàn người phải chịu đựng sự hành hạ của việc hi vọng. Khi ta nghĩ rằng ta đã chết dưới chân cầu Loschwitz, chỉ có một ý nghĩ duy nhất hiện lên trong đầu ta: Hãy tiếp tục suy nghĩ. Suy nghĩ là thứ đã giúp ta duy trì sự sống. Nhưng giờ đây khi ta vẫn sống, thì suy nghĩ lại giết dần giết mòn ta. Ta nghĩ và nghĩ và nghĩ. Ta không thể ngừng suy nghĩ về cái đêm đó, về đám pháo sáng màu đỏ, về bầu trời giống như mặt nước màu đen, và cái việc chỉ một giờ trước khi ta đánh mất tất cả, ta vẫn còn tất cả. Bác của con đã nói với ta rằng cô ấy đang mang thai, ta đã vô cùng vui sướng, đáng lý ra ta không nên có cảm xúc ấy, khi mà niềm vui sướng trăm năm có thể bị hủy diệt chỉ trong một khoảnh khắc, ta đã hôn vào bụng cô ấy, dù cho lúc đó thứ trong bụng cô ấy vẫn chưa thành hình hài, ta đã nói với cô ấy rằng, “Anh yêu con của tụi mình.” Và lời ấy làm cô ấy bật cười, ta chưa từng thấy cô ấy cười như thế kể từ ngày chúng ta gặp nhau khi đi được nửa đường về phía nhà nhau, cô ấy nói “Em thích ý ấy của anh.” Ta bảo cô ấy, “Anh thích ý ấy của bọn mình.” Thế đó, bọn ta đã có chung một ý tưởng. Cô ấy hỏi, “Anh có sợ không?” “Sợ cái gì?” Cô ấy trả lời, “Cuộc sống thì luôn đáng sợ hơn là cái chết.” Ta lấy ngôi nhà tương lai của chúng ta ra khỏi túi và đưa nó cho cô ấy, ta hôn cô ấy, rồi ta hôn vào bụng cô ấy, đó là lần cuối cùng chúng ta nhìn thấy nhau. Ta đã đi đến gần cuối đường khi nghe thấy tiếng của cha cô ấy. Ông ấy đi ra từ ngôi nhà. “Ta quên khuấy mất!” ông ấy gọi ta lại. “Có bức thư này cho cậu. Nó được gửi đến ngày hôm qua. Ta quên béng mất.” Ông ấy chạy vội vào nhà và trở ra với một bức thư ở trong tay. “Ta quên mất,” ông ấy nói, đôi mắt đỏ hoe, các khớp ở đốt ngón tay trắng bệch, sau này ta mới biết ông vẫn sống sót sau trận tấn công và rồi tự sát. Mẹ con có kể điều ấy với con không? Mà bà ấy có biết điều này không nhỉ? Ông ấy trao bức thư cho ta. Bức thư của Simon Goldberg. Bức thư được gửi đi từ trại trung chuyển Westerbork ở Hà Lan, đó là nơi mà những người Do Thái ở khu vực chúng ta bị chuyển tới, ở đó họ sẽ bị gửi đi lao động hoặc tới cái chết. “Thomas Schell thân mến, Thật vui khi được khi được gặp cậu dù là trong thời gian ngắn, Cậu đã gây trong ta một ấn tượng sâu sắc mà không tài nào giải thích nổi. Và ta hi vọng rằng chúng ta sẽ còn gặp lại nhau dù con đường chúng ta đang đi thật gập ghềnh và gian khó. Cho tới khi đó, ta cầu chúc cho cậu những điều tốt đẹp nhất. Thân ái, Simon Goldberg.” Ta cất bức thư vào lại trong phong bì, và nhét nó vào trong túi, nơi cất giấu ý tưởng về căn nhà tương lai, ta nghe thấy giọng của ông ngoại con khi ra đi, ông ấy vẫn còn đứng bên khung cửa, “Ta quên béng mất.” Khi mẹ con gặp lại ta trong một tiệm bánh ở Broadway, ta những muốn kể cho bà ấy nghe mọi chuyện, có thể nếu ta làm được điều đó, chúng ta có thể đã sống khác đi, và có lẽ lúc này ta đang ở bên con thay vì ở đây. Có thể nếu ta nói rằng, “Anh đã từng mất một đứa con,” nếu như ta thú nhận rằng, “anh rất sợ sẽ đánh mất những điều mà anh yêu thương nên anh lựa chọn cách cự tuyệt yêu thương,” thì có lẽ những điều không thể đã trở thành có thể. Có lẽ, nhưng ta đã không thể làm nổi điều ấy, ta đã chôn vùi quá nhiều thứ vào nơi chốn quá sâu thẳm của lòng mình. Và giờ thì ta ở đây, thay vì ở đó. Ta đang ngồi trong cái thư viện này, hàng ngàn dặm cách xa khỏi cuộc sống của ta, viết một bức thư khác mà ta biết ta chẳng thể nào gửi đi được, dù cho ta có cố gắng và mong mỏi đến nhường nào. Tại sao một thằng con trai từng làm liều lĩnh tình phía sau những kệ sách ấy lại có thể trở thành con người đang ngồi bên bàn này?

Ta yêu con,

Cha của con

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: