EXTREMELY LOUD & INCREDIBLY CLOSE (17)

Ảnh

HẠNH PHÚC, HẠNH PHÚC (1)

PHÓNG VIÊN. Bà có thể kể lại những gì xảy ra vào buổi sáng hôm đó không?

TOMOYASU. Tôi rời nhà với con gái mình, con bé Masako. Nó đang trên đường đi làm. Còn tôi thì định đi thăm một người bạn. Có tiếng còi báo động vang lên. Tôi bảo với con bé Masako rằng tôi sẽ quay về nhà. Nó nói, “Còn con sẽ đến văn phòng.” Trở về nhà, tôi làm mấy việc lặt vặt và đợi tiếng còi báo động chấm dứt.

Tôi thay drap trải giường. Tôi dọn dẹp tủ quần áo. Tôi lau cửa sổ với một cái giẻ ướt. Rồi có một tia chớp lóe lên. Đầu tiên tôi cứ ngỡ đấy là ánh đèn chớp từ một chiếc máy ảnh nào đó. Giờ thì nó ra nghe thật lố bịch. Thứ ánh sáng ấy làm tôi chói hết cả mắt. Đầu óc tôi trống rỗng. Kính cửa sổ vỡ vụn và rơi xuống quanh tôi. Tiếng kính vỡ nghe giống như khi mẹ tôi quát tôi phải im lặng.

Khi tôi có ý thức trở lại, tôi nhận ra mình không còn đứng nữa. Tôi đã bị hất văng sang một căn phòng khác. Cái giẻ thì vẫn còn ở trong tay tôi, nhưng nó khô cong. Ý nghĩ duy nhất của tôi vào lúc ấy là phải đi tìm con gái. Tôi nhìn ra ngoài cửa sổ và thấy một người hàng xóm nom trần như nhộng. Da của ông ấy bị lột khỏi cơ thể. Và cứ treo lủng lẳng nơi đầu ngón tay ông ấy. Tôi hỏi ông ấy chuyện gì vừa xảy ra thế. Ông ấy chẳng còn sức để mà trả lời. Ông ấy nhìn khắp các hướng. Tôi chỉ có thể đoán rằng ông ấy đang mong gia đình mình. Tôi nghĩ, Mình phải đi. Mình phải đi tìm Masako.

Tôi xỏ giầy vào và mang theo mũ trùm đầu tránh máy bay. Tôi đi tới ga xe lửa. Rất nhiều người đi trên đường giống như tôi lúc ấy, đi ra khỏi thành phố. Tôi ngửi thấy trong không khí có một mùi giống như mùi mực nướng. Tôi hoảng loạn thật sự, bởi vì người người đều như những con cá mực bị sóng biển đánh vào bờ.

Tôi nhìn thấy một cô gái trẻ đi về phía tôi. Da của cô ấy tan chảy ra. Cứ như là sáp. Cô ấy thì thào, “Mẹ. Nước. Mẹ ơi. Nước.” Tôi nghĩ cô gái ấy có thể là Masako. Nhưng không phải. Tôi không cho cô gái uống nước được. Tôi cảm thấy thật day dứt. Nhưng tôi phải đi tìm Masako của tôi.

Tôi chạy tới tận Ga Hiroshima[1]. Nơi ấy chật cứng những người. Có những người đã chết. Nhiều người khác nằm la liệt trên mặt đất. Họ gọi mẹ và hỏi xin nước. Tôi chạy tới cây cầu Tokiwa. Tôi phải vượt qua cây cầu này mới tới được văn phòng làm việc của con gái tôi.

PHÓNG VIÊN. Bà có nhìn thấy đám mây hình nấm không?

TOMOYASU. Không, tôi không nhìn thấy đám mây.

PHÓNG VIÊN. Bà không nhìn thấy đám mây hình cây nấm à?

TOMOYASU. Tôi không nhìn thấy đám mây hình cây nấm. Khi ấy tôi đang cố gắng tìm Masako.

PHÓNG VIÊN. Nhưng đám mấy bao trùm cả thành phố chứ?

TOMOYASU. Khi ấy tôi còn đang cố tìm con bé. Họ nói với chúng tôi không thể đi qua cây cầu. Tôi nghĩ có thể con bé đã trở về nhà, nên tôi quay lại. Tôi đang ở đền Nikitsu khi trời bắt đầu đổ mưa đen. Tôi không biết đó là cái gì.

PHÓNG VIÊN. Bà có thể miêu tả lại trận mưa không?

TOMOYASU. Tôi đứng đợi con bé ở đó. Tôi mở hết các cửa sổ, dù không cái cửa sổ nào còn kính cả. Tôi thức trắng đêm để đợi con bé. Nhưng nó không trở về. Vào 6:30 sáng hôm sau, ông Ishido đến. Con gái ông ấy làm cùng chỗ với con gái tôi. Ông ấy gọi hỏi nhà Masako. Tôi chạy ra ngoài. “Ở đây, ở đây!” Ông Ishido tiến tới chỗ tôi. Ông ấy nói, “Nhanh lên! Nhanh lên! Hãy lấy một ít quần áo và đi gặp cô ấy. Cô ấy đang ở bờ sông Ota.”

Tôi gắng sức chạy thật nhanh. Nhanh hơn cả khả năng của mình. Khi tới cầu Tokiwa, tôi trông thấy những người lính nằm la liệt trên mặt đất. Ở nhà ga Hiroshima, tôi còn thấy nhiều người chết hơn nữa. Có nhiều người vào sáng ngày mùng bảy hơn ngày mùng sáu. Khi tôi tới được bờ sông, tôi không tài nào phân biệt được ai với ai. Tôi không ngừng tìm kiếm Masako. Tôi nghe có ai đó khóc, “Mẹ!” Tôi nhận ra giọng con bé. Tôi nhìn thấy con bé đang ở trong tình trạng khủng khiếp. Nó nói, “Con đợi mẹ lâu lắm.”

Tôi xin lỗi con bé. Tôi bảo với nó, “Mẹ cố gắng tới đây nhanh nhất có thể.”

Chỉ còn lại có hai chúng tôi. Tôi không biết phải làm gì. Tôi không phải là bác sĩ. Có những con giòi trong vết thương của con bé và nó chảy ra thứ nước nhờn màu vàng. Tôi cố gắng lau sạch đi. Nhưng khi ấy da của con bé bong ra. Lũ giòi bò ra từ khắp mọi nơi. Tôi không thể lau chúng đi được, nếu không tôi sẽ lột hết da và cơ của con bé mất. Tôi phải nhặt đám giòi ra. Con bé hỏi tôi đang làm gì thế. Tôi trả lời, “Ôi, Masako. Không có gì đâu con.” Con bé gật đầu. Chín tiếng sau, con bé qua đời.

PHÓNG VIÊN. Bà có ôm cô ấy trong suốt quãng thời gian đó không?

TOMOYASU. Vâng, tôi ôm con bé suốt. Con bé nói, “Con không muốn chết thế này.” Tôi bảo con bé, “Con sẽ không chết đâu.” Con bé nói, “Con hứa con sẽ không chết trước khi chúng ta về nhà đâu.” Nhưng con bé đau đớn tột độ và cứ liên tục gọi, “Mẹ ơi.”

PHÓNG VIÊN. Chắc là bà thấy rất khó khăn khi phải kể lại chuyện này.

TOMOYASU. Khi tôi nghe thấy rằng tổ chức của các vị ghi lại các lời nhân chứng, tôi biết rằng tôi phải gọi tới. Con gái tôi đã chết trong tay tôi, và nói rằng, “Con không muốn chết.” Cái chết là như thế đấy. Nó không có nghĩa lý gì về màu quân phục mà người lính ấy mặc. Nó không có nghĩa lý gì khi vũ khí được trang bị tối tân đến nhường nào. Tôi chỉ nghĩ rằng nếu như tất cả mọi người đều nhìn thấy những gì mà tôi đã từng thấy, thì trên đời này sẽ không bao giờ còn có một cuộc chiến nào nữa.

Tôi ấn vào nút Dừng trên máy cát sét, bởi vì buổi phỏng vấn đã kết thúc. Bọn con gái bật khóc, và bọn con trai làm những tiếng kêu buồn cười.

“À,” thầy Keegan lên tiếng, lau trán với một cái khăn tay khi thầy đứng dậy khỏi ghế, “Oskar chắc chắn đã cho chúng ta rất nhiều điều để suy nghĩ.” Tôi nói, “Em vẫn chưa xong ạ.” Thầy ấy bảo, “Với thầy thì cũng khá đủ rồi.” Tôi giải thích, “Bởi vì phản ứng nhiệt hạch đi theo những đường thẳng, các nhà khoa học có thể xác định được trung tâm vụ nổ  theo các điểm khác nhau, bằng cách quan sát bóng của các vật thể can thiệp vào. Các bóng này giúp xác định độ cao của vụ nổ, và đường kính của chùm khói ngay lúc đó mà sẽ dẫn tới tác động đốt cháy. Điều ấy có thú vị không ạ?”

Jimmy Snyder giơ tay. Tôi gọi tên nó. Nó hỏi, “Tại sao mày kỳ quặc thế?” Tôi hỏi liệu câu hỏi của nó có phải là câu hỏi tu từ không. Thầy Keegan bảo nó hãy đến văn phòng của thầy hiệu trưởng Bundy. Một vài đứa bật cười. Tôi biết là chúng có ý xấu, và đó là nhằm vào tôi, nhưng tôi vẫn cố tỏ ra bình tĩnh.

“Một điều thú vị khác về vụ nổ là mối quan hệ giữa nhiệt độ cháy và màu sắc, bởi vì màu tối dễ làm nổi bật ánh sáng, dĩ nhiên là vậy. Ví dụ như, một trận đấu cờ vua nổi tiếng giữa hai nhà đại kiện tướng diễn ra vào buổi sáng hôm đó trên một bàn cờ với các quân cờ có kích cỡ người thật ở một công viên trong một thành phố lớn. Trận bom phá hủy tất cả: những người xem trên ghế khán giả, những người đang ghi hình trận đấu, và những cái máy quay phim màu đen của họ, đồng hồ tính giờ, và cả hai nhà đại kiện tướng nữa. Những gì còn lại chỉ là những mảnh vụn màu trắng trên một ô đất vuông màu trắng.”

Khi thầy ấy bước ra khỏi lớp học, thằng Jimmy nói, “Ê, Oskar, Buckminster là ai?” Tôi bảo nó, “Richard Buckminster Fuller là một nhà khoa học, triết gia, và nhà sáng chế mà nổi tiếng với công trình thiết kế nhà vòm[2], mà phiên bản nổi tiếng nhất là quả bóng Bucky[3]. Ông ấy mất năm 1983, tao nhớ thế.” Thằng Jimmy nói, “Ý tao là Buckminster của mày cơ.”

Tôi không biết vì sao thằng đấy lại hỏi tôi thế, bởi vì tôi từng mang Buckminster tới trường để làm thí nghiệm vài tuần trước đó, và thả nó từ trên mái nhà xuống để chứng minh rằng làm sao mà bọn mèo có thể tiếp đất an toàn khi tự biến mình thành những chiếc dù nhỏ, và rằng thực sự có cơ hội sống sót sẽ cao hơn nếu rơi từ tầng hai mươi thay vì rơi xuống từ tầng tám, bởi vì bọn chúng mất đến tám tầng lầu để nhận biết được điều gì đang xảy ra, và bình tĩnh lại và điều chỉnh tư thế tiếp đất. Tôi trả lời, “Buckminster là con mèo cái[4] của tao.”

Thằng Jimmy chỉ vào tôi và la lên, “Ha ha!” Cả lũ chúng nói cùng cười theo một kiểu xấu xa. Tôi không hiểu có chuyện gì buồn cười thế. Thầy Keegan nổi giận và quát lên, “Jimmy!” Thằng Jimmy trả lời, “Gì ạ? Em có làm gì đâu ạ?” Tôi có thể đảm bảo rằng, trong thâm tâm, thầy Keegan cũng cười như điên ấy chứ.

“Điều mà tôi muốn nói là, họ đã tìm thấy một mẩu giấy, cách trung tâm vụ nổ khoảng nửa cây số, và những bức thư, mà họ gọi là các vật chứng, đã gần như cháy thành tro. Tôi đã rất tò mò về việc chúng trông như thế nào, nên tôi đã thử làm một bức thư hẳn hoi, nhưng tay tôi không được khỏe lắm để làm vậy, nên tôi đã tiến hành một vài tìm kiếm, và tôi tìm thấy một hàng in ở trên đường Spring Street mà chuyên về cắt-nhuộm, và ông chủ ở đó nói rằng ông có thể làm như tôi muốn với giá hai trăm năm mươi đô. Tôi hỏi ông ấy giá đó đã bao gồm thuế hay chưa. Ông ấy trả lời là chưa, nhưng tôi vẫn nghĩ rằng nó đáng tiền, nên tôi đã lấy thẻ tín dụng của mẹ, và dù sao thì, nó đây.” Tôi lấy ra một mẩu giấy, với trang đầu tiên là từ cuốn A Brief History of Time bằng tiếng Nhật, mà tôi có được từ trang Amazon.co.jp. Tôi nhìn thấy toàn bộ lớp học qua câu chuyện về loài rùa.

Hôm ấy là ngày thứ Tư.

Tôi dành cả ngày thứ Năm trong thư viện, đọc các bài viết mới của American Drummer, mà bác thủ thư Higgins đặc biệt đặt cho tôi. Mấy bài viết ấy chán kinh lên được. Tôi đến phòng thí nghiệm khoa học, để xem liệu thày Powers có thể làm vài thí nghiệm với tôi hay không. Thầy ấy bảo thực ra thầy đang định đi ăn trưa cùng với các giáo viên khác, và rằng thầy thật không an tâm khi để lại tôi một mình trong phòng thí nghiệm. Nên tôi làm một vài món trang sức trong phòng nghệ thuật, nơi mà người lớn cho phép ta được một mình ở đó.

Vào ngày thứ Sáu, Jimmy Snyder gọi tên tôi từ phía bên kia sân trường, và rồi nó chạy đến chỗ tôi với hàng đống bạn của nó. Nó nói, “Ê, Oskar, mày thích được bằng tay hay bằng miệng với Emma Watson hả?” Tôi bảo với nó rằng tôi không biết Emma Watson[5] là ai cả. Matt Colber giải thích, “Là Hermione, thằng thộn ạ.” Tôi hỏi lại, “Hermione là ai? Và tao không phải là thiểu năng trí tuệ.” Thằng Dave Mallon trả lời tôi, “Trong Harry Potter ấy, thằng ái ạ.” Thằng Steve Wicker thêm vào, “Giờ thì cô ả có ti đẹp lắm.” Thằng Jake Riley chốt hạ, “Bằng tay hay bằng mồm?” Tôi trả lời, “Tao còn chẳng bao giờ gặp cô ta.”

Tôi biết nhiều về các loài chim chóc và ong bướm, nhưng tôi không biết quá nhiều về các loài chim và các loài ong. Mọi điều tôi biết được đều là tự học từ trên mạng Internet cả, bởi vì tôi không có ai để hỏi hết. Ví dụ như, tôi biết được rằng thổi kèn có nghĩa là cho dương vật của mình vào miệng một ai đó. Tôi cũng biết rằng chim cũng có nghĩa là dương vật, và rằng cặc cũng có nghĩa như vậy. Và cặc to, đương nhiên. Tôi biết được rằng âm hộ sẽ trở nên ẩm ướt khi một người phụ nữ có quan hệ tình dục, cho dù tôi không biết được họ trở nên ướt với thứ gì. Tôi biết rằng âm hộ là bướm, và cả lỗ đít nữa. Tôi biết dương vật giả là gì, tôi nghĩ vậy, nhưng tôi không biết xuất là gì, một cách chính xác. Tôi biết quan hệ qua đường hậu môn là cho vào lỗ đít của người kia, nhưng tôi ước gì mình không biết đến điều này.

Thằng Jimmy Snyder đẩy vai tôi và nói, “Nói mẹ mày là con đĩ.” Tôi nói, “Mẹ mày là con đĩ.” Nó nói, “Nói mẹ của mày là một con đĩ.” Tôi nói, “Mẹ của mày là một con đĩ.” “Nói ‘Mẹ’ ‘tao’ là con đĩ.” “Mẹ mày là con đĩ.”  Thằng Matt và thằng Dave và thằng Steve và thằng Jake bắt đầu cười, nhưng thằng Jimmy thì nổi điên lên, điên thật sự. Nó giơ nắm đấm lên và dọa, “Chuẩn bị chết đi.” Tôi nhìn quanh để tìm bóng dáng một giáo viên gần nhất, nhưng tôi không thấy một ai quanh đấy cả. “Mẹ tao là con đĩ,” tôi nói. Tôi vào trong lớp học và đọc vài đoạn trong quyển A Brief History of Time. Và rồi tôi bẻ gãy một cái bút chì. Khi tôi về đến nhà, bác Stan thông báo, “Cháu có thư này!”

Oskar thân mến,

Xin cảm ơn cháu vì đã trả lại cho bác $76,50 mà cháu nợ. Nói thật với cháu, bác không bao giờ nghĩ rằng bác sẽ nhận lại được số tiền này. Và giờ đây bác sẽ bắt đầu tin tưởng vào tất cả mọi người.

(tài xế taxi) Marty Mahaltra

Tái bút: Không có tiền típ hả cháu?

Tôi đếm đủ bảy phút tối đó, và rồi mười bốn phút, và rồi ba mươi phút. Tôi biết rằng tôi sẽ chẳng bao giờ ngủ được, bởi vì tôi quá hào hứng về ngày hôm sau mà tôi có thể tiếp tục với việc tìm ra cái ổ khóa. Tôi bắt đầu sáng tạo như một con hải ly. Tôi nghĩ về việc làm sao trong khoảng trăm năm nữa mỗi cái tên trong quyển Niên giám điện thoại 2003 sẽ là một ai đó qua đời, và làm sao một lần tới nhà Minch tôi sẽ xem một chương trình truyền hình về việc có một ai đó đã xé đôi quyển danh bạ bằng tay. Tôi nghĩ đến việc làm sao mà tôi không muốn có ai đó xé cuốn Niên giám điện thoại 2003 ra làm đôi trong một trăm năm tới, bởi vì dù cho tất cả rồi cũng sẽ chết đi, thì nó cũng có vẻ như sẽ tạo ra một sự khuấy động nào đó. Nên tôi phát minh ra một cái Hộp đen Niên giám điện thoại, mà là một cuốn danh bạ được làm từ nguyên liệu mà người ta vẫn dùng để làm ra những chiếc hộp đen đặt trong các máy bay. Tôi vẫn không tài nào ngủ được.

Tôi sáng chế ra một cái tem thư mà mặt keo của nó có vị như crème brûlée[6].

Tôi vẫn không ngủ được.

Sẽ thế nào nếu như ta huấn luyện những chú chó Dẫn đường thành chó nghiệp vụ phát hiện bom mìn, và thế là chúng sẽ trở thành chó Dẫn đường đánh hơi bom? Theo cách đó, những người mù có thể được nhận lương mỗi khi đi lại, và có thể trở thành những công dân có nhiều cống hiến đối với xã hội của chúng ta, và tất cả chúng ta sẽ được an toàn hơn rất nhiều. Tôi mỗi lúc một xa khỏi giấc ngủ.

Khi tôi thức dậy đã sang ngày thứ Bảy.

Tôi lên tầng trên để đón ông Black, và ông đã đứng đợi tôi trước cửa nhà ông, vỗ vỗ ngón tay vào vành tai. “Gì thế?” ông hỏi khi tôi tặng ông một món quà do tự tay tôi làm. Tôi nhún vai, như Ba vẫn thường làm. “Ông làm gì được với nó?” Tôi bảo ông, “Ông mở nó ra đi ạ, dĩ nhiên rồi.” Nhưng tôi không thể kiên nhẫn hơn, và trước khi ông có thể bóc hết đống giấy gói tôi nói, “Đấy là một cái vòng cổ cháu làm cho ông với cái la bàn và thế là ông có thể biết được ông đang ở vị trí tương quan như thế nào so với cái giường của ông!” Ông tiếp tục mở nó ra và nói, “Cháu thật tử tế!” “Vâng,” tôi trả lời, lấy lại cái hộp từ tay ông bởi vì tôi có thể mở nó nhanh hơn. “Nó có thể sẽ không hoạt động bên ngoài nhà đâu ạ, bởi vì lực từ sẽ giảm đi khi khoảng cách gia tăng, nhưng nó vẫn khá chuẩn đấy.” Tôi trao lại cái vòng và ông đeo nó vào cổ. Cái vòng cho biết cái giường nằm ở hướng bắc.

“Vậy ta đi đâu?” ông hỏi. “Quận Bronx ạ,” tôi trả lời. “IRT[7] à?” “Cái gì cơ ạ?” “Tàu IRT.” “Không có tàu IRT đâu ạ, và cháu không thích các phương tiện giao thông công cộng.” “Sao không?” “Nó là một mục tiêu tấn công phổ biến.” “Thế cháu định đi tới đấy bằng gì?” “Mình sẽ đi bộ.” “Nơi đấy cách chỗ này những hai mươi dặm,” ông nói. “Và ông đã bao giờ thấy cháu đi bộ chưa?” “Đúng vậy.” “Hãy bắt tàu IRT.” “Làm gì có tàu IRT.” “Cái gì cũng được, ta sẽ bắt nó.”

Trên đường ra khỏi nhà, tôi nói, “Bác Stan, đây là ông Black. Ông Black, đây là bác Stan.” Ông Black chìa tay ra, và bác Stan lắc lắc nó. Tôi bảo với bác Stan, “Ông Black sống ở căn hộ 6A đấy.” Bác Stan lại lắc tay ông, nhưng tôi không cho rằng ông Black đang khó chịu.

Hầu hết toàn bộ chuyến đi tới Bronx là ở dưới mặt đất, mà khiến tôi vô cùng sợ hãi, nhưng chúng tôi đã vượt qua những đoạn đáng sợ nhất, rồi đoàn tàu trồi lên mặt đất, mà tôi thấy thoải mái hơn nhiều. Có rất nhiều những tòa nhà bị bỏ hoang ở quận Bronx, mà tôi có thể biết được bởi vì chúng không có cửa sổ, và ta có thể nhìn xuyên qua chúng, ngay cả khi ta đang di chuyển với tốc độ cao. Chúng tôi xuống tàu và đi xuống phố. Ông Black để tôi cầm tay ông khi chúng tôi tìm nhà. Tôi hỏi ông liệu ông có phải là người phân biệt chủng tộc hay không. Ông nói chính sự nghèo khổ mới làm ông bất an, không phải con người. Chỉ như một câu nói đùa tôi hỏi ông rằng ông có bệnh không. Ông trả lời, “Có lẽ vậy.” “Thật ạ?” tôi hỏi, nhưng tôi không hề rụt tay lại, bởi vì tôi không phải là người đồng bóng.

Chuông của tòa nhà bị hỏng, nên cửa được giữ cho mở ra bằng một hòn gạch. Căn hộ của Agnes Black nằm trên tầng ba, và không có cầu thang máy. Ông Black nói rằng ông sẽ đợi tôi, bởi vì các bậc thang ở trong đường tàu điện ngầm đã là quá đủ đối với ông trong ngày hôm ấy. Nên tôi đi lên gác một mình. Sàn hành lang nhơm nhớp dính, và vì một lý do nào đó mà các lỗ nhìn trên cửa đều được phủ một lớp sơn màu đen. Có ai đó đang hát phía sau một cánh cửa, và tôi nghe thấy có tiếng TV sau những cánh cửa khác. Tôi thử tra chiếc chìa khóa của mình vào căn hộ của Agnes, nhưng không xong, nên tôi đành gõ cửa.

Một người phụ nữ nhỏ bé ngồi trên xe lăn ra mở cửa. Bà là người gốc Mexico, tôi cho là vậy. Hoặc là Brazil, hay một quốc gia Nam Mỹ nào đó. “Xin lỗi, bà có phải là Agnes Black không ạ?” Bà ấy nói, “No espeaka Inglesh[8].” “Cái gì ạ?” “No espeaka Inglesh.” “Cháu xin lỗi,” tôi nói, “nhưng cháu không hiểu bà nói gì. Bà có thể nhắc lại và enunciate tốt hơn một chút.” “No espeaka Inglesh,” bà ấy trả lời. Tôi giơ một ngón tay lên không trung, mà là biểu tượng toàn cầu cho hẵng gượm đã nào, và rồi tôi gọi ông Black đang ở dưới nhà, “Cháu không nghĩ là bà ấy nói được tiếng Anh!” “Ô, thế bà ấy nói gì?” “Bà nói gì ạ?” tôi hỏi bà, và rồi tôi nhận thấy câu hỏi của mình mới thật ngu ngốc làm sao, nên tôi thử tiếp cận theo cách khác: “Parlez-vous français[9]?” “Español[10],” bà ấy nói. “Español,” tôi hét với dưới nhà. “Tuyệt!” ông ấy hét lại. “Ông mang một ít Español tới đây!” Nên tôi đẩy chiếc xe lăn của bà ấy ra đầu cầu thang, và họ hét lên với nhau, mà điều ấy nom thật lạ, bởi vì tiếng hét của họ cứ vang vọng trong không trung như thể họ không hề nhìn thấy mặt nhau. Họ cùng cười với nhau, và tiếng cười chạy lên và chạy xuống các bậc thang. Rồi ông Black hô lên, “Oskar!” Và tôi hét lên, “Đấy là tên của cháu, cháu không mang nó theo!” Và ông gọi, “Xuống đây nào!”

Khi tôi xuống dưới sảnh, ông Black giải thích rằng người mà tôi đang tìm là một nữ phục vụ bàn ở nhà hàng Windows trong Tòa tháp Thương mại Thế giới. “Gì thế?” “Người phụ nữ mà ông vừa nói chuyện, bà Feliz, không biết rõ cô ấy. Cô ấy có giới thiệu như thế khi chuyển tới đây.” “Thật ạ?” “Ông không bịa đâu.” Chúng tôi ra phố và bắt đầu bước đi. Một chiếc xe hơi phóng vụt qua và bật nhạc cực to, và tiếng nhạc làm tim tôi đập loạn xạ cả lên. Tôi nhìn lên, có rất nhiều những cái dây nối những khung cửa sổ lại với nhau mà có quần áo trên đó. Tôi hỏi ông Black liệu đó có phải là điều mà người ta muốn nói đến khi dùng từ “dây quần áo” hay không. Ông bảo, “Đúng vậy.” Tôi nói, “Cháu cũng nghĩ thế.” Chúng tôi tiếp tục bước đi. Bọn trẻ con đang đá những những viên sỏi trên đường và nô đùa vui vẻ. Ông Black nhặt một hòn đá lên và cất nó vào trong túi áo. Ông nhìn vào bảng tên đường, và rồi nhìn vào đồng hồ của mình. Một vài người già cả đang ngồi trên một dãy các chiếc ghế đặt trước một cửa hàng. Họ hút xì gà và nhìn vào thế giới như thể đó là một chiếc TV.

“Thật lạ khi nghĩ rằng,” tôi nói. “Cái gì?” “Rằng cô ấy làm việc ở đó. Có lẽ là cô ấy biết ba cháu. Hoặc cũng có thể là không, nhưng có thể cô ấy từng phục vụ ba buổi sáng đó. Và cháu biết ba có mặt ở đó, ở nhà hàng. Bởi ba có một cuộc hẹn. Có thể cô ấy đã rót thêm cà phê vào cốc cho ba hay gì đó.” “Cũng có thể.” “Có thể họ cùng chết bên nhau.” Tôi biết là ông không biết phải nói gì, bởi vì dĩ nhiên là họ chết cùng nhau. Câu hỏi thực sự là họ cùng chết như thế nào, như là liệu họ khi ấy có ở đầu này và đầu kia của nhà hàng, hay ở sát cạnh nhau, hay một nơi nào khác hay không. Có thể là cùng đi lên tầng trên cùng với nhau. Bởi ta có thể nhìn thấy có những người cùng nhảy xuống và cầm tay nhau trong một vài bức hình. Nên có lẽ là họ đã làm như vậy. Hoặc có thể họ chỉ nói chuyện với nhau cho tới khi tòa nhà sập xuống. Vậy họ đã nói với nhau những gì? Họ có lẽ là hoàn toàn khác biệt. Có lẽ Ba sẽ kể với cô ấy về tôi. Tôi không biết Ba kể những điều gì. Tôi không biết phải diễn tả thế nào về cảm giác của tôi khi nghĩ tới việc Ba nắm lấy bàn tay của một người nào đó.

“Cô ấy có con không ạ?” tôi hỏi. “Ông không biết.” “Ông hỏi bà ấy đi.” “Hỏi ai?” “Mình hãy quay trở lại và hỏi người phụ nữ hiện đang sống ở đó ấy. Cháu cá là bà ấy biết rõ liệu Agnes có con hay không.” Ông không hỏi tôi tại sao câu hỏi ấy đối với tôi lại quan trọng thế, hay nói với tôi rằng bà ấy đã kể với chúng tôi tất cả những mà mình biết. Chúng tôi đi ngược trở lại ba dãy nhà, và tôi đi lên lầu và đẩy cái xe lăn của bà ấy trở lại đầu cầu thang, và họ nói vọng lên và xuống cầu thang mất một lúc. Rồi ông Black nói vọng lên, “Cô ấy không có con!” Nhưng tôi không biết liệu ông có đang nói dối tôi hay không, bởi vì dù cho tôi không nói được tiếng Tây Ban Nha, tôi vẫn có có thể thấy được rằng bà ấy nói với nhiều hơn rất nhiều so với mỗi một từ không.

Khi chúng tôi bước trở lại ga tàu điện ngầm, tôi phát hiện ra một điều, và rồi tự nhiên tôi nổi giận. “Đợi một chút đã,” tôi nói. “Thế ông bà cười gì lúc trước thế?” “Lúc trước?” “Khi mà ông nói về người phụ nữ lần đầu ấy, ông bà cười còn gì. Cả hai người.” “Ông không biết,” ông trả lời. “Ông không biết?” “Ông không nhớ nữa.” “Ông cố nhớ lại đi.” Ông nghĩ trong một lúc. “Ông không nhớ.” Lời nói dối #77.

Chúng tôi mua một vài cái bánh ngô tamales[11] đang được hấp trong một cái nồi lớn tại một quầy rau quả của một người phụ nữ bán dưới ga tàu điện ngầm. Thông thường, tôi không thích các loại thức ăn mà không được gói riêng hoặc được chuẩn bị bởi Mẹ, nhưng tôi lại ngồi trên lề đường và ăn món tamales. Ông Black nói, “Ông như được tiếp sinh lực.” “‘tiếp sinh lực’ là gì ạ?” “Trau dồi năng lượng. Tỉnh táo lại.” “Cháu cũng được tiếp sinh lực.” Ông choàng tay lên người tôi vào nói, “Tốt.” “Đây là món chay, đúng không ạ?” Tôi lắc cái trống lục lạc khi chúng tôi đi lên cầu thang, và nín thở khi đoàn tàu đi vào lòng đất.


[1] Hiroshima: (広島県) là một tỉnh của Nhật Bản, nằm ở tiểu vùng Sanyo, vùng Chugoku trên đảo Honshu. Tỉnh lỵ là thành phố Hiroshima, Thành phố này nổi tiếng thế giới trong lịch sử vì Vụ ném bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki trong Thế chiến thứ hai.

[2] nhà vòm (geodesic dome): được cấu trúc giống hình cầu với một hệ thống tam giác phức tạp. Hệ thống tam giác này tạo nên khung nhà giúp tăng sự bền vững trong cấu trúc nhà trong khi chỉ dùng rất ít vật liệu. Hệ thống những tam giác này tạo nên khung nhà giúp tăng sự bền vững cho cấu trúc nhà trong khi chỉ dùng rất ít vật liệu. Công nghệ khéo léo này của nhà vòm Geodesic cho phép nó bao phủ một không gian rộng mà không cần trụ chống bên trong. Thuật ngữ Geodesic có nguồn gốc Latin, nghĩa là phân giới mặt đất. Đường Geodesic là khoảng cách ngắn nhất giữa 2 điểm trên một hình cầu.

Tiến sĩ kĩ sư người Đức Walther Bauersfel đã tiên phong về ý tưởng kết nối những tam giác thành vòm khi ông thiết kế dự án cung thiên văn đầu tiên của thế giới, được xây dựng tại Jena, Đức năm 1922. Tuy nhiên, Buckminster Fuller mới là người phát triển khái niệm về nhà mái vòm. Và Fuller được cấp bằng sáng chế đầu tiên về mái vòm trắc đạc năm 1954.

[3] quả bóng Bucky (Buckyball): là tên gọi cho các các fullerene (những phân tử cấu thành từ các nguyên tử cacbon, chúng có dạng rỗng như mặt cầu, ellipsoid, hay ống) hình cầu. Fullerene đầu tiên được khám phá ra, và trở thành tên gọi tương tự cho nhiều fullerene sau này, đó là buckminsterfullerene (C60), do các nhà khoa học Harold Kroto, James Heath, Sean O’Brien, Robert Curl và Richard Smalley tại đại học Rice công bố năm 1985. Tên gọi này để vinh danh Richard Buckminster Fuller, người đã thiết kế các mái vòm trắc đạc. Fullerene đã được tìm thấy trong tự nhiên mặc dù rất hiếm

[4] mèo cái: trong tiếng Anh, ‘pussy’ vừa có nghĩa là mèo cái, giống cái, và từ lóng để chỉ bộ phận sinh dục nữ.

[5] Emma Charlotte Duerre Watson (sinh ngày 15 tháng 4 năm 1990) là một diễn viên người Anh. Cô được biết tới nhiều nhất qua vai diễn Hermione Granger, một trong ba vai chính của loạt phim Harry Potter, chuyển thể điện ảnh từ bộ tiểu thuyết của nữ nhà văn J. K. Rowling.

[6] Crème brûlée – một món tráng miệng với phần đế là lớp bánh sữa mềm mịn và phần trên được phủ kem. Phần đế bánh thường có vị vani, nhưng cũng có thể thay thế bằng các hương vị khác như chanh, cam, lavender, chocolate, Amaretto, Grand Marnier, quế, cà phê, rượu mùi, trà xanh, dừa, quả óc chó, hay các loại quả khác.

[7] IRT (Interborrough Rapid Transit): được xem là hệ thống tàu điện đầu ngầm tiên của New York và được xây dựng từ năm 1904, hiện nay tên gọi này không còn nữa.

New York City Subway là hệ thống vận chuyển nhanh do thành phố New York làm chủ và được Cơ quan Thẩm quyền Trung chuyển Thành phố New York thuê mướn, đây là đơn vị trực thuộc của Metropolitan Transportation Authority và cũng được biết đến như là MTA New York City Transit. Nó là một trong những hệ thống giao thông lâu đời nhất và lớn nhất nào trên thế giới, với 468 trạm vào hoạt động (423 nếu trạm kết nối bằng cách chuyển tiền được tính là trạm duy nhất). Trong năm 2009, các tàu điện ngầm chuyển qua 1579000000 lượt người, trung bình hơn năm triệu (5.086.833 lượt) vào ngày thường, 2,9 triệu lượt vào thứ Bảy, và 2.2 triệu vào chủ nhật.

[8] No espeaka Inglesh: (tiếng TBN) Không nói tiếng Anh

[9] Parlez-vous français: (tiếng Pháp) Bà có nói được tiếng Pháp không?

[10] Español: tiếng Tây Ban Nha

[11] Tamales là một loại bánh ngô nổi tiếng của đất nước Mexico. Đây là món ăn không thể thiếu trong các bữa ăn của người Mexico, thế nên họ thường làm Tamales một lần rùi cất lên ngăn đá để ăn cho cả năm

//

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: