Extremely Loud & Incredibly Close (15)

Image

NẶNG LÒNG

NẶNG LÒNG HƠN (3)

 

Trước khi quay xuống dưới nhà, tôi có thám thính xung quanh một chút. Tôi bị ấn tượng bởi việc ông Black đã trải nghiệm cuộc đời nhiều đến nhường nào, và cả việc ông mong muốn sự hiện hữu của cuộc sống ở bên mình nhiều đến chừng nào nữa chứ. Tôi cố tra chiếc chìa khoá vào tất cả các cánh cửa, cho dù ông đã quả quyết rằng ông không nhận ra nó. Không phải là tôi không tin ông, bởi vì sự thật là tôi có tin lời ông nói. Mà chỉ là tôi mong rằng khi tất cả những công đoạn tìm kiếm này kết thúc tôi có thể tuyên bố rằng: tôi đã cố gắng hết mức có thể. Một cánh cửa là của tủ quần áo, và thực ra thì chẳng có gì hay ho trong đấy hết, ngoài một đống áo khoác. Đằng sau một cánh cửa khác là căn phòng với toàn những hộp và thùng. Tôi thử nhòm vào trong một số chúng, và chỉ thấy toàn là báo cũ. Giấy báo ở trong một số hộp đã ngả màu vàng, và một số khác thì mỏng tang như những chiếc lá ép khô.

Tôi dòm vào một căn phòng khác, mà hẳn phải là phòng ngủ của ông. Đó là chiếc giường tuyệt nhất mà tôi từng thấy, bởi vì nó được làm từ các phần của những cái cây. Chân giường được làm từ gốc cây, phần còn lại được kết từ các khúc gỗ đốn, và còn cả một cái trần được kết từ các cành cây nữa chứ. Ngoài ra còn có vô số những vật kim loại hay ho được gắn lên chiếc giường, như là đồng xu này, kim gút này, và cả một cái khuy có chữ ROOSEVELT nữa.

“Nó từng là một cái cây trong công viên!” ông Black cất tiếng từ sau lưng, làm tôi sợ chết khiếp đến nỗi run cả tay. Tôi hỏi ông, “Ông có bực mình vì cháu chạy lung tung trong nhà ông không ạ?” nhưng ông không nghe thấy lời tôi nói, vì ông vẫn đang thao thao bất tuyệt. “Ở bên hồ nước ấy! Bà ấy từng vấp chân vào đám rễ! Đó là sau khi ông đã tán tỉnh được bà! Bà ấy ngã xuống và bị đứt tay! Vết cắt nhỏ thôi, nhưng ông không bao giờ quên được chuyện ấy! Chuyện ấy xảy ra đã lâu lắm rồi!” “Nhưng chỉ như là ngày hôm qua trong đời ông đúng không ạ?” “Hôm qua! Hôm nay! Năm phút trước! Lúc này!” Ông nhìn vào nền nhà. “Bà luôn cầu xin ông hãy ngừng viết báo một thời gian! Bà muốn ông có mặt ở nhà!” Ông lắc đầu và nói, “Nhưng ông cũng còn muốn cả những thứ khác nữa!” Ông lại nhìn sàn nhà, rồi nhìn vào tôi. Tôi hỏi, “Vậy ông đã làm gì ạ?” “Hầu như trong suốt cuộc hôn nhân của bọn ông, ông đối xử với bà ấy như thể bà chẳng quan trọng gì! Ông chỉ trở về ở khoảng giữa các cuộc chiến, và để bà ở nhà một mình hàng tháng trời mỗi lần đi công tác! Với ông hồi ấy chỉ có chiến tranh mà thôi!” “Ông có biết là trong suốt 3.500 năm qua chỉ có đúng 230 năm hoà bình trong thế giới loài người văn minh không?” Ông nói, “Cháu kể ra cho ông nghe 230 năm nào và ông sẽ tin lời cháu!” “Cháu không biết chính xác là những năm nào, nhưng cháu biết đấy là thông tinh chính xác.” “Và thế giới văn minh mà cháu đề cập đến là thế giới nào?”

Tôi hỏi ông điều gì khiến ông thôi làm phóng viên chiến trường. Ông nói, “Ông nhận ra rằng những gì mà ông muốn là được ở một chỗ với một người!” “Nên ông về nhà mãi mãi?” “Ông chọn bà thay vì chiến tranh! Và việc đầu tiên mà ông làm khi trở về, trước cả khi ông về ấy chứ, là ông tới thẳng công viên và chặt cái cây đó! Lúc ấy đương là nửa đêm! Ông nghĩ là sẽ có người đến ngăn ông lại, nhưng chẳng có ai cả! Ông mang các miếng gỗ về nhà! Ông đóng thành cái giường này đây! Đây là cái giường mà ông bà cùng chia sẻ với nhau trong năm cuối cùng ở bên nhau! Ông cứ ước gì ông có thể hiểu chính mình sớm hơn thế!” Tôi hỏi, “Cuộc chiến tranh cuối cùng của ông là cái nào ạ?” Ông nói, “Chặt cái cây kia là cuộc chiến cuối cùng của ông!” Tôi hỏi ông rằng ai thắng, mà tôi nghĩ hẳn phải là một câu hỏi hay, bởi vì nó sẽ cho phép ông trả lời rằng ông là người chiến thắng, và lấy làm tự hào. Ông nói, “Cái cưa là kẻ chiến thắng! Luôn luôn là như thế!”

Ông bước tới bên chiếc giường và chạm ngón tay vào đầu một cái đinh. “Nhìn này!” Tôi cố gắng làm một người sâu sắc tuân thủ theo các nguyên tắc khoa học và là một nhà quan sát khách quan, nhưng tôi không nhận ra trước đó rằng cả chiếc giường này đã được đóng đầy đinh. “Ông đóng một chiếc đinh vào cái giường này vào mỗi buổi sáng kể từ khi bà mất! Đó là việc đầu tiên ông thực hiện mỗi khi thức dậy! Tám nghìn sáu trăm hai mươi chín cái đinh!” Tôi hỏi ông tại sao, mà tôi nghĩ là một câu hỏi hay, bởi vì nó sẽ khiến ông kể cho tôi nghe về việc ông yêu bà nhiều như thế nào. Ông nói, “Ông không biết!” Tôi nói, “Nhưng nếu như ông không biết, thì tại sao ông lại làm thế ạ?” “Ông nghĩ nó sẽ có ích! Giúp ông tiếp tục sống! Dù ông biết nó chẳng có nghĩa lý gì cả!” “Đống đinh ấy có trọng lượng không hề nhẹ một chút nào! Một cái thì đúng! Hay một nắm! Nhưng chúng ngày một nhiều hơn!” Tôi nói với ông, “Lượng sắt trong người ta đủ để đúc một cái đinh cỡ một inch đấy.” Ông nói, “Cái giường trở nên rất nặng! Ông có thể nghe thấy tiếng sàn nhà kêu kẽo ket, như bị đau! Đôi khi ông thức dậy lúc nửa đêm và lo lắng rằng mọi thứ sẽ sập xuống căn hộ tầng dưới!” “Thế ông không ngủ được là vì lo cho cháu!” “Nên ông xây thêm cái cột chống ở dưới nhà! Cháu có biết chuyện về thư viện ở Trường Đại học Indiana không!” “Không ạ,” tôi nói, nhưng tôi vẫn đang nghĩ về cái cây cột chống kia. “Mỗi năm nó lại lún hơn một inch, bởi vì khi xây dựng nó, người ta không tính đến trọng lượng của các cuốn sách! Ông từng viết một bài báo về chuyện này đấy! Khi ấy ông không có bất kì liên tưởng gì, nhưng giờ thì ông lại nghĩ tới bản nhạc Sunken Cathedral của Debussy[1], một trong những bản nhạc đẹp nhất trên đời! Nhiều năm rồi ông chưa nghe lại nó! Cháu có muốn cảm nhận cái gì đó không!” “Được ạ,” tôi nói, bởi vì dù không quen biết ông, nhưng tôi có cảm giác như thể tôi đã biết ông từ trước. “Xoè tay ra!” ông nói, và tôi làm đúng như lời ông. Ông thò tay vào túi và lấy ra một cái ghim giấy. Ông ấn nó vào tay tôi và dặn, “Cháu nắm tay lại đi!” Tôi làm theo lời ông. “Nào, giờ thì giơ tay ra!” Tôi giơ tay ra. “Giờ mở lòng bàn tay ra!” Cái ghim giấy bị hút về phía cái giường.

Chỉ đến lúc ấy tôi mới nhận ra rằng chiếc chìa khoá cũng đang bị hút về phía cái giường. Bởi vì nó khá nặng, nên lực hút rất nhỏ. Sợi dây hơi căng lên từ sau gáy tôi, trong khi chiếc chìa khoá bay là là khỏi ngực tôi. Tôi nghĩ về tất cả những vật kim loại bị chôn ở Central Park. Liệu chúng có bị hút, dù chỉ một tí ti, về phía chiếc giường này? Ông Black nắm lấy chiếc chìa khoá đang bay và nói, “Ông chưa từng rời khỏi ngôi nhà này trong suốt hai mươi tư năm qua!” “Ý ông là sao ạ?” “Thật đáng buồn, con trai ạ, ý ông đúng như những gì ông nói! Ông không hề bước chân ra khỏi nhà suốt hai mươi tư năm qua! Suốt quãng thời gian ấy bàn chân ông chưa từng chạm vào mặt đất!” “Sao lại không ạ?” “Chẳng có lý do nào cho việc ấy cả!” “Thế nếu ông cần thứ gì đó thì phải làm sao?” “Những gì mà một người như ông cần mà vẫn có thể lấy được!” “Thức ăn. Sách. Các thứ.” “Ông gọi đến nhà hàng để đặt món, và họ đưa tới tận nhà cho ông! Ông gọi đến hiệu sách để mua sách, đến hàng băng đĩa để thuê đĩa phim! Bút, đồ văn phòng phẩm, đồ lau dọn, thuốc! Ông còn mua cả quần áo qua điện thoại nữa! Đây này!” ông nói, và ông chỉ cho tôi thấy các bắp thịt của ông, giờ đã xẹp lép thay vì nổi lên. “Ông từng là nhà vô địch hạng ruồi trong chín ngày cơ đấy!” “Chín ngày nào ạ?” “Cháu không tin ông à!” Tôi nói, “Có chứ ạ.” “Thế giới này rộng lớn lắm,” ông nói, “kể cả trong cái căn hộ này! Và cả ở đây nữa!” ông nói tiếp, chỉ tay vào đầu mình. “Nhưng nếu như ông từng đi rất nhiều nơi. Ông đã trải qua rất nhiều điều. Ông không thấy nhớ thế giới này hay sao?” “Có chứ! Ông nhớ lắm!”

Tôi có cảm giác đôi bàn chân mình nặng trịch như đeo đá và tôi thấy vui làm sao khi ngay dưới chúng tôi kia có một cây cột chống. Làm sao mà một con người cô độc nhường ấy lại sống quá gần tôi như thế suốt cả cuộc đời? Nếu như tôi biết được, tôi sẽ lên đây để bầu bạn cùng ông. Hoặc là tôi sẽ làm tặng ông một món đồ trang sức nào đó. Hay tôi sẽ kể ông nghe những mẩu truyện cười. Hoặc chơi tặng riêng ông những bản nhạc bằng cái trống lục lạc.

Điều ấy khiến tôi băn khoăn rằng liệu còn có những người nào khác nữa mà cũng cô đơn và cũng thật gần với tôi đến thế. Tôi bỗng nghĩ về “Eleanor Rigby[2].” Đúng vậy, người ta đến từ đâu? Và tất cả bọn họ thuộc về nơi đâu?

Sẽ thế nào nếu như thứ nước mà ta vẫn dùng để tắm gội được xử lý bằng một loại hoá chất sẽ có phản ứng hoá học với một số yếu tố nhất định nào đó, chẳng hạn như nhịp tim ta đập, hoặc nhiệt độ cơ thể ta, hay sóng não của ta, và thế là làn da của ta sẽ thay đổi màu sắc tuỳ theo tâm trạng? Nếu như ta thật hào hứng, thì màu da sẽ chuyển thành sắc lục, và khi ta giận dữ thì ta sẽ thành người đỏ, dĩ nhiên, và vào những lúc ta cảm thấy cực kỳ tuyệt vọng thì ta sẽ biến thành màu nâu, và vào những lúc ta buồn thì ta sẽ mang một màu lam.

Và mọi người khi ấy có thể biết rõ được những người khác đang cảm thấy thế nào, và chúng ta có thể thận trọng hơn khi đối xử với nhau, bởi vì ta sẽ chẳng bao giờ muốn nói với một người đang có làn da màu tím rằng ta rất bực mình vì việc người ấy trễ hẹn, cũng giống như ta những muốn vỗ vai một người có màu hồng và nói, “Xin chúc mừng, nhé!”

Còn một lý do khác khiến điều này trở thành một ý tưởng hay là có rất nhiều thời điểm mà ta biết rằng ta có cảm giác về rất nhiều điều, nhưng thực ra ta không hiểu được như thế nghĩa là gì. Liệu tôi đang thất vọng? Hay thực ra tôi đang sợ hãi? Và sự bối rối ấy khiến cho tâm trạng ta thay đổi, nó bỗng trở thành tâm trạng của ta, và ta thành ra một kẻ bối rối, xám xịt. Nhưng với thứ nước đặc biệt này, ta những có thể nhìn vào lòng bàn tay có màu cam của mình và nghĩ, Tôi hạnh phúc ! Suốt quãng thời gian ấy tôi hoàn toàn hạnh phúc! Thật mới khuây khoả làm sao!

Ông Black nói, “Ông từng tác nghiệp tại một ngôi làng ở nước Nga, một cộng đồng các nghệ sĩ bị ép buộc phải rời bỏ thành phố! Ông nghe nói các bức tranh được treo ở khắp mọi nơi! Ông nghe nói tranh được treo kín những bức tường! Họ vẽ cả lên trần nhà, xà ngang, các ô cửa sổ, các chao đèn! Liệu đó có phải là một hành động nổi loạn không! Một động thái của sự diễn đạt! Liệu bản thân những bức tranh ấy có giá trị nghệ thuật, hay cái đáng nói ở đây là quan điểm được trình bày bên trong đó! Ông cần phải tự mình kiểm chứng, và ông cần phải kể với thế giới này về chúng nữa! Ông từng sống để viết về những điều như thế! Stalin[3] phát hiện ra cộng đồng này và gửi lũ môn đồ của mình tới đó, chỉ vài ngày trước khi ông đến được đấy, để bẻ gãy những cánh tay của họ! Điều ấy còn tệ hại hơn nhiều so với việc ra tay giết chết họ! Đấy là một cảnh tượng khủng khiếp, Oskar ạ: những cánh tay ấy như là những con lắc, cứ đung đưa trước thân thể họ như là những xác chết đội mồ! Họ không thể tự ăn uống, bởi họ không thể đưa tay lên mồm mình được nữa! Nên cháu biết họ làm thế nào không!” “Họ nhịn đói hay sao ạ?” “Họ ăn thịt lẫn nhau! Đấy là sự khác biệt giữa thiên đường và địa ngục đấy! Trong địa ngục chúng ta chết đói! Ở thiên đường ta ăn thịt lẫn nhau!” “Cháu không tin vào cõi vĩnh hằng đâu.” “Cả ông cũng vậy, nhưng ông tin vào câu chuyện ấy!”

Và rồi, bỗng nhiên, tôi nghĩ về một điều gì đó. Một điều vĩ đại. Một chuyện tuyệt vời. “Ông có muốn giúp cháu không ạ?” “Cái gì!” “Với cái chìa khoá ấy.” “Giúp cháu!” “Ông có thể cùng đi với cháu.” “Cháu cần ta giúp à!” “Vâng.” “Ồ, ông không cần ai phải thương tiếc cả!” “Jose,” tôi bảo ông. “Ông rõ ràng là rất thông minh và hiểu biết, và ống biết đến hàng tỉ thứ mà cháu không biết, và dĩ nhiên là có bạn đồng hành thì thật tốt, nên ông hãy đồng ý đi mà.” Ông nhắm mắt lại và lặng im. Tôi không rõ là ông đang suy nghĩ về những gì chúng tôi đang nói, hay là ông lại nghĩ đến chuyện nào đó khác, hoặc là có lẽ ông đang ngủ gật cũng nên, bởi tôi biết rằng những người già, như Bà nội chẳng hạn, thỉnh thoảng vẫn vậy, bởi họ không kiểm soát được điều đó. “Ông không cần phải quyết định ngay đâu,” tôi nói, bởi vì tôi không muốn ông cảm thấy bị thúc ép gì cả. Tôi kể ông nghe về 162 triệu ổ khoá, và vì sao mà việc tìm kiếm có thể phải tiến hành rất lâu, nó thể kéo dài tới một năm rưỡi cũng nên, nên nếu như ông muốn suy nghĩ về việc một lúc thì cũng không sao cả, bất kì lúc nào ông cũng có thể xuống dưới nhà và nói cho tôi quyết định của ông. Ông vẫn tiếp tục suy nghĩ. “Ông cứ suy nghĩ bao lâu tuỳ ý,” tôi nói. Ông vẫn suy nghĩ. Tôi hỏi ông, “Ông đã có quyết định gì chưa ạ?”

Ông không nói gì cả.

“Ông Black này, ông đang nghĩ gì thế ạ?”

Lặng thinh.

“ Ông Black ơi?”

Tôi vỗ vào vai ông và ông đột ngột ngước lên.

“Xin chào?”

Ông mỉm cười, giống như tôi vẫn thường làm mỗi khi Mẹ phát hiện ra những việc tôi làm mà đáng lý ra tôi không được phép làm.

“Ông đang đọc môi cháu!” “Cái gì ạ?” Ông chỉ vào cái máy trợ thính, mà tôi không nhận ra từ trước, cho dù tôi vẫn cố để ý tới tất cả mọi thứ. “Ông tắt chúng đi từ lâu lắm rồi!” “Ông tắt đi á?” “Từ lâu, lâu lắm rồi!” “Ông cố tình à?” “Ông nghĩ như thế sẽ tiết kiệm được pin!” “Để làm gì ạ?” Ông nhún vai. “Nhưng chẳng lẽ ông không muốn nghe thấy các âm thanh hay sao?” Ông lại nhún vai, theo cái cách mà tôi không biết được rằng ông có muốn hay là không. Và rồi tôi nghĩ về điều khác nữa. Một điều đẹp đẽ. Một điều rất thật. “Ông có muốn cháu bật nó lên cho ông không?”

Ông nhìn tôi và như thể xuyên qua tôi trong cùng lúc, như thể tôi là một ô cửa sổ kính mờ. Tôi hỏi lại, cử động miệng thật chậm và cẩn thận để chắc rằng ông có thể hiểu được lời tôi nói. “Ông. Có. Muốn. Cháu. Bật. Nó. Lên. Cho. Ông. Không?” Ông vẫn nhìn tôi chăm chú. Tôi hỏi lại ông lần nữa. Ông trả lời, “Ông không biết phải nói đồng ý như thế nào!” Tôi bảo ông, “Không cần đâu ông ạ.”

Tôi bước ra phía sau ông và nhìn thấy một cái nút nhỏ xíu đằng sau mỗi cái tai nghe.

“Từ từ thôi nhé!” ông nói, như đang cầu xin tôi. “Đã lâu, lâu lắm rồi!”

Tôi vòng lại trước mặt ông, để ông có thể đọc được miệng tôi, và tôi hứa với ông rằng tôi sẽ nhẹ nhàng nhất có thể. Và rồi tôi lại vòng ra sau lưng ông và dịch chuyển cái nút thật chậm, vài mm mỗi lần. Chẳng có gì xảy ra cả. Tôi vặn chúng thêm vài mm nữa. Và rồi thêm một chút xíu nữa. Tôi bước ra trước mặt ông. Ông nhún vai, và tôi cũng vậy. Tôi lại vòng ra sau và kéo cái nút thêm một chút xíu, đến hết cỡ. Tôi lại trở ra phía trước. Ông nhún vai. Có thể máy trợ thính không còn hoạt động nữa, hoặc pin đã chết từ lâu, hoặc là ông đã điếc hoàn toàn vì ông tắt nó đã lâu, mà điều này chắc chắn là có khả năng. Chúng tôi nhìn nhau.

Rồi, không biết từ đâu, một đàn chim bay ngang ô cửa sổ, rất nhanh và thật gần. Khoảng chừng hai chục con. Cũng có thể nhiều hơn. Nhưng chúng cũng giống như một thực thể duy nhất, bởi vì theo một cách nào đó chúng đều biết chính xác phải làm gì. Ông Black ôm lấy tai và kêu lên nhiều tiếng kì lạ. Ông bắt đầu khóc – không phải vì hạnh phúc, tôi biết chắc, mà cũng chẳng bởi muộn phiền.

“Ông ổn chứ?” tôi thì thào.

Tiếng tôi làm ông khóc thêm, và ông gật đầu rằng có.

Tôi hỏi ông rằng ông có muốn tôi tạo các tiếng động khác hay không.

Ông gật đầu có, làm nước mắt lăn dài hai gò má.

Tôi bước đến bên chiếc giường và thử rung nó, khiến cả đống kim gút và ghim cài giấy rơi xuống đất.

Ông tiếp tục khóc.

“Ông có muốn cháu tắt cái máy trợ thính đi không?” tôi hỏi, nhưng ông không còn để ý đến tôi nữa. Ông đi vòng quanh căn phòng, áp tai vào bất kỳ thứ gì có thể tạo ra tiếng động, kể cả những thứ vẫn yên lặng, như cái tẩu thuốc.

Tôi những muốn ở lại đó và nhìn ông lắng nghe thế giới, nhưng giờ đã muộn rồi, và tôi có buổi tập kịch Hamlet vào lúc 4:30, và đó là một buổi tập cực kỳ quan trọng, bởi vì đó là buổi tập đầu tiên có kết hợp hiệu ứng ánh sáng. Tôi bảo với ông Black rằng tôi sẽ đón ông vào thứ Bảy tới lúc 7:00, và chúng tôi sẽ bắt đầu công việc. Tôi bảo ông, “Cháu còn chưa đi hết vần A.” Ông nói, “Được rồi,” và tiếng nói của ông làm ông khóc nhiều nhất.

Tin nhắn thoại thứ ba. 9:31 sáng. Xin chào? Xin chào? Xin chào?

Khi Mẹ ôm tôi vào lòng tối đó, Mẹ có thể đoán được đầu óc tôi đang bận rộn, và hỏi tôi rằng tôi có muốn nói chuyện không Tôi có, nhưng không phải là với Mẹ, nên tôi nói, “Con không có ý gì đâu, nhưng không ạ.” “Con chắc chứ?” “Tresfatigué[4],” tôi nói, xua tay. “Con có muốn mẹ đọc cho con nghe không?” “Được ạ.” “Mình có thể tìm lỗi chính tả trên tờ New York Times?” “Không ạ.” “Được rồi,” Mẹ nói, “được rồi.” Mẹ hôn tôi và tắt đèn, và rồi, khi Mẹ gần bước ra khỏi phòng, tôi gọi, “Mẹ?” và Mẹ trả lời, “Ơi?” và tôi nói, “Mẹ hứa là sẽ không chôn con khi con chết nhé?”

Mẹ quay lại và đặt tay lên má tôi và nói, “Con sẽ không chết đâu.” Tôi bảo Mẹ, “Con sẽ.” Mẹ nói, “Con sẽ không sớm chết đâu. Con vẫn còn cả một cuộc đời dài, rất dài trước mắt cơ mà.” Tôi bảo Mẹ, “Mẹ biết đấy, con rất dũng cảm, nhưng con không thể mãi mãi nằm trong cái hố bé xíu dưới đất ấy được đâu. Con chỉ là không thể thôi. Mẹ có yêu con không ạ?” “Dĩ nhiên là mẹ có yêu con chứ.” “Thế thì mẹ hãy đặt con vào một cái lăng tẩm ấy.” “Lăng tẩm?” “Con vẫn đọc thấy thế mà.” “Liệu chúng ta có bắt buộc phải nói đến chuyện này không cón?” “Có ạ.” “Ngay bây giờ?” “Vâng.” “Tại sao chứ?” “Bởi vì nếu như con chết ngay ngày mai thì sao ạ?” “Con không thể chết vào ngày mai được.” “Ba cũng có nghĩ là ba sẽ chết vào ngày hôm sau đâu.” “Nhưng điều ấy sẽ không xảy ra với con.” “Nó dường như cũng đâu có xảy ra với ba.” “Oskar.” “Con xin lỗi, nhưng con không muốn bị chôn xuống đất tí nào cả.” “Con có muốn cùng với ba và mẹ không?” “Nhưng ba có thực sự ở đó đâu!” “Xin lỗi?” “Thi thể của ba bị phá huỷ rồi còn gì.” “Con đừng nói thế chứ.” “Nói thế nào ạ? Đấy chính là sự thật. Con không hiểu sao mọi người lại cố giả vờ như ba nằm trong mộ mình vậy.” “Hãy quên chuyện ấy đi, Oskar.” “Đấy chỉ là một cái hộp rỗng.” “Nó chắc chắn không chỉ là một cái hộp rỗng.” “Thế tại sao con lại muốn mãi mãi nằm bên một cái hộp rỗng cơ chứ?”

Mẹ nói, “Linh hồn của ba con ở đó,” và điều ấy khiến tôi thực sự giận dữ. Tôi bảo Mẹ, “Ba không có linh hồn! Ba chỉ có các tế bào thôi!” “Những kỷ niệm về ba con vẫn còn ở đó.” “Kỷ niệm của ba ở đây cơ,” tôi nói, chỉ vào đầu mình. “Ba con có linh hồn đấy,” Mẹ nói, như thể Mẹ đang tua lại một đoạn băng thu âm cuộc nói chuyện của chúng tôi. Tôi bảo Mẹ, “Ba có tế bào, và giờ thì chúng ở trên các nóc nhà, và trong dòng sông, và trong lá phổi của hàng triệu người sinh sống quanh New York này, những người mà hít ba vào mỗi khi họ nói!” “Con không nên nói những điều như thế.” “Nhưng đó là sự thật! Tại sao con lại không được nói ra sự thật cơ chứ?” “Con đang mất tự chủ đấy.” “Chỉ bởi vì ba mất đi, thì cũng không có nghĩa là mẹ trở nên phi logic được.” “Ừ, có đấy.” “Không, không được.” “Con hãy tự kiềm chế lại đi, Oskar ạ.” “Mẹ kiếp!” “Cái gì cơ?” “Xin lỗi. Ý con là, chết tiệt.” “Con sẽ bị phạt!” “Con cần một cái lăng tẩm!” “Oskar!” “Mẹ đừng có dối con!” “Ai nói dối?” “Mẹ đã ở đâu?” “Mẹ đã ở đâu khi nào?” “Hôm ấy!” “Hôm ấy nào?” “Ngày hôm ấy í!” “Con muốn nói gì?” “Mẹ đã ở đâu?” “Mẹ ở công ty.” “Tại sao mẹ không ở nhà chứ?” “Bởi vì mẹ phải đi làm.” “Tại sao mẹ lại không tới đón con như những bà mẹ khác?” “Oskar, mẹ đã cố về nhà nhanh nhất có thể được. Nếu đi đón con thì cả hai ta sẽ không thể về nhà ngay được. Mẹ nghĩ rằng sẽ tốt hơn nếu gặp con ở nhà thay vì để con đợi mẹ tới đón con.” “Nhưng đáng lý ra mẹ phải có mặt ở nhà khi con về.” “Mẹ cũng ước gì được như vậy, nhưng điều ấy là không thể.” “Mẹ đáng lẽ phải làm cho nó trở thành có thể.” “Mẹ không thể biến những điều không thể thành có thể được đâu con ạ.” “Mẹ nên làm vậy.” Mẹ nói, “Mẹ dã cố về nhà nhanh nhất có thể.” Và rồi Mẹ khóc.

Cái máy cưa là kẻ chiến thắng.

Tôi áp má mình vào má Mẹ. “Con không cần những thứ ảo diệu, mẹ ạ. Thứ con cần là những điều có thực mà thôi.” Mẹ hít vào một hơi thật sâu, vòng tay ôm lấy tôi, và nói, “Điều ấy là có thể.” Tôi cố gắng nghĩ ra một điều gì đó thật hài hước, bởi vì tôi nghĩ rằng có thể nếu như tôi hài hước, thì Mẹ sẽ không giận tôi nữa và tôi sẽ lại yên ổn. “Với một căn phòng có ống khói nhỏ.” “Hả?” “Con chỉ cần một căn phòng nhỏ có ống khói thôi.” Mẹ cười và nói, “Được rồi.” Tôi khịt mũi một cái nữa, bởi vì tôi không biết là nó có hiệu quả không. “Và một cái chậu để rửa ráy.” “Dĩ nhiên rồi. Một cái chậu sẽ có ngay.” “Và lưới điện nữa.” “Lưới điện á?” “Như thế thì mới không bị bọn trộm lấy đi trang sức khỏi mộ con.” Trang sức á?” “Vâng ạ,” tôi trả lời, “con cũng cần cả trang sức nữa.”

Chúng tôi cùng cười khúc khích, mà là điều cần thiết, bởi vì Mẹ lại yêu tôi. Tôi lôi quyển sổ cảm xúc của mình ra từ dưới gối, lật tới trang gần nhất, và giảm mức độ từ TUYỆT VỌNG xuống TẦM THƯỜNG. “Ô, hay đấy!” Mẹ nói, nhìn qua vai tôi. “Không,” tôi nói, “nó rất thường. Và mẹ làm ơn đừng có nhìn trộm.” Mẹ xoa ngực tôi, thật là tốt, dù tôi phải xoay người một chút để Mẹ không thể nhận ra tôi vẫn còn đeo chiếc chìa khoá, và rằng có đến hai chiếc chìa khoá tất cả.

“Mẹ ơi?” “Ừ.” “Không có gì ạ.”

“Sao thế, bé con?” “À, không phải là thật tuyệt hay sao nếu như những tấm đệm có các chỗ hõm vừa với tay của mình, và thế là khi mà mình nằm nghiêng, mình không bị đau vai nữa mẹ nhỉ?” “Ừ.” “Và còn tốt cho cả lưng nữa, có thể, bởi vì nó sẽ giúp mẹ duỗi thẳng lưng, mà con biết là rất quan trọng.” “Đúng là rất quan trọng.” “Ngoài ra, nó còn giúp ôm nhau dễ hơn. Mẹ biết làm sao mà tay luôn ở trong tình trạng ấy rồi đấy?” “Mẹ biết.” “Và việc ôm nhau là rất quan trọng.” “Rất quan trọng.”

BÌNH THƯỜNG

LẠC QUAN, NHƯNG THỰC TẾ

“Con nhớ ba.” “Mẹ cũng vậy.” “Thật không?” “Có mà.” “Nhưng mà mẹ có thật sự nhớ ba không?” “Làm sao mà con có thể hỏi một câu như thế?” “Bởi vì mẹ không có vẻ như thể mẹ rất nhớ ba.” “Con đang nói linh tinh gì thế?” “Con nghĩ là mẹ biết con đang nói về cái gì.” “Không hề.” “Con nghe thấy mẹ cười.” “Con nghe thấy mẹ cười à?” “Trong phòng khách. Với chú Ron.” “Thế con nghĩ là bởi vì mẹ cười lúc này hay lúc khác thì có nghĩa là mẹ không biết nhớ ba hay sao?” Tôi lăn về hướng khác, tránh xa mẹ.

LẠC QUAN, NHƯNG THỰC TẾ

VÔ CÙNG TUYỆT VỌNG

Mẹ nói, “Mẹ cũng khóc rất nhiều, con biết không.” “Con không nhìn thấy mẹ khóc rất nhiều.” “Có thể đấy là vì mẹ không muốn con nhìn thấy mẹ khóc thật nhiều.” “Tại sao lại không?” “Bởi vì như thế là không công bằng đối với cả mẹ và con.” “Có chứ.” “Mẹ muốn chúng ta phải tiếp tục hướng về phía trước.” “Thế mẹ khóc nhiều thế nào?” “Nhiều thế nào ư?” “Một thìa? Một bát? Một bồn tắm? Nếu như mẹ muốn khoa trương.” “Chuyện không thể giải quyết theo cách ấy?” “Theo cách nào?”

Mẹ nói, “Mẹ đang cố gắng tìm cách để hạnh phúc. Cười làm cho mẹ cảm thấy được hạnh phúc.” Tôi nói, “Con không cố tìm cách để hạn phúc, và con sẽ không bao giờ làm vậy.” Mẹ nói, “Ôi, con nên làm như vậy.” “Tại sao?” “Bởi vì ba muốn con được hạnh phúc.” “Ba sẽ muốn con nhớ đến ba.” “Tại sao con không thể vừa nhớ đến ba vừa hạnh phúc cơ chứ?” “Tại sao mẹ lại yêu chú Ron?” “Cái gì?” “Rõ ràng là mẹ và chú ấy đang yêu nhau, nên điều con muốn biết là, tại sao? Chú ấy thì có gì hay cơ chứ?” “Oskar, có bao giờ con có suy nghĩ rằng sự việc thường phức tạp hơn nhiều so với vẻ bề ngoài của nó hay không?” “Con vẫn luôn nghĩ như vậy.” “Chú Ron là bạn của mẹ.” “Thế thì mẹ hãy hứa với con là mẹ sẽ không bao giờ yêu nữa đi.” “Tại sao con lại yêu cầu mẹ hứa những điều như thế.” “Mẹ phải hứa với con là sẽ không bao giờ yêu nữa, nếu không thì con sẽ không yêu mẹ nữa.” “Con đang bất công với mẹ đấy.” “Con không cần phải công bằng! Con là con trai mẹ!” Mẹ thở dài thườn thượt và nói, “Con làm mẹ nhớ đến ba.” Và rồi tôi nói điều gì đó mà tôi không định nói, và cũng không muốn nói. Nó buột ra khỏi miệng tôi, tôi thấy xấu hổ rằng nó được hoà hợp với bất kỳ một tế bào nào của Ba mà tôi đã hít vào khi tôi đến thăm Ground Zero[5]. “Nếu mà con được chọn, thì con sẽ chọn đấy là mẹ!”

Mẹ nhìn tôi thật lâu, rồi đứng dậy và rời đi. Tôi ước gì Mẹ sẽ đóng sầm cánh cửa lại, nhưng không. Mẹ đóng cửa thật nhẹ nhàng, như Mẹ vẫn thường làm. Tôi có thể nghe thấy tiếng bước chân Mẹ xa dần.

VÔ CÙNG TUYỆT VỌNG

CÔ ĐƠN CÙNG CỰC

 “Mẹ?”

Yên lặng.

Tôi xuống giường và bước ra cửa.

“Con xin rút lại những lời vừa rồi.”

Mẹ không nói gì cả, nhưng tôi có thể nghe được tiếng Mẹ thở. Tôi đặt tay lên tay nắm cửa, bởi vì tôi nghĩ rằng có thể tay của Mẹ cũng đang đặt ở tay nắm cửa phía bên kia.

“Con nói là con xin rút lại những lời vừa rồi.”

“Con không lấy lại những thứ như vậy được.”

“Con có thể xin lỗi vì những điều như vậy không?”

Im lặng.

“Mẹ có chấp nhận lời xin lỗi của con không?”

“Mẹ không biết.”

“Sao mẹ lại không biết?”

“Oskar, mẹ không biết.”

“Mẹ có giận con không?”

Im lặng.

“Mẹ?”

“Vâng?”

“Mẹ vẫn còn giận con à?”

“Không.”

“Mẹ có chắc không?”

“Mẹ chưa bao giờ giận con cả.”

“Thế mẹ sao thế?”

“Mẹ thấy đau lòng lắm.”

CÔ ĐƠN CÙNG CỰC

TÔI ĐOÁN RẰNG TÔI ĐÃ NGỦ THIẾP ĐI TRÊN SÀN NHÀ. KHI TÔI THỨC DẬY, MẸ ĐANG CỞI ÁO SƠ MI CHO TÔI ĐỂ THAY BẰNG BỘ ĐỒ NGỦ. ĐIỀU ẤY CÓ NGHĨA LÀ MẸ ĐÃ NHÌN THẤY HẾT CÁC VẾT BẦM CỦA TÔI. TÔI ĐÃ ĐẾM CHÚNG VÀO TỐI QUA TRƯỚC GƯƠNG VÀ CÓ CẢ THẢY BỐN MƯƠI MỐT VẾT. MỘT VÀI VẾT RẤT LỚN NHƯNG HẦU NHƯ SỐ CÒN LẠI ĐỀU NHỎ. TÔI KHÔNG CHƯNG CHÚNG RA TRƯỚC MẶT MẸ. NHƯNG TÔI VẪN MUỐN MẸ HỎI TÔI RẰNG TẠI SAO TÔI LẠI CÓ NHỮNG VẾT BẦM NÀY (DÙ CÓ THỂ LÀ MẸ ĐÃ BIẾT TỪ TRƯỚC), VÀ THẤY THƯƠNG TÔI HƠN (BỞI VÌ MẸ NÊN NHẬN THẤY RẰNG CUỘC SỐNG ĐỐI VỚI TÔI KHÓ KHĂN ĐẾN NHƯỜNG NÀO), VÀ CẢM THẤY ĐAU KHỔ (BỞI VÌ ÍT NHẤT LÀ MỘT VÀI VẾT TRONG ĐÓ LÀ DO LỖI CỦA MẸ), VÀ ĐỂ HỨA VỚI TÔI RẰNG MẸ SẼ KHÔNG BAO GIỜ CHẾT VÀ ĐỂ LẠI TÔI MỘT MÌNH. NHƯNG MẸ KHÔNG HỀ NÓI GÌ CẢ. TÔI CÒN KHÔNG THỂ NHÌN THẤY ÁNH MẮT MẸ KHI MẸ TRÔNG THẤY NHỮNG VẾT BẦM ẤY, BỞI VÌ CÁI ÁO CỦA TÔI ĐÃ TRÙM MẤT TOÀN BỘ MẶT TÔI, NHƯ MỘT CÁI BAO, HAY MỘT CÁI MẶT NẠ ĐẦU LÂU.


[1] Achille-Claude Debussy (22/8/1862 – 25/3/1918) là một nhà soạn nhạc người Pháp nổi tiếng. Cùng với Maurice Ravel, ông được coi như nhà sáng tác nổi bật nhất trong trường phái âm nhạc ấn tượng. Ông là tên tuổi lướn trong nền âm nhạc châu Âu vào cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20. Ông đã để lại nhiều tác phẩm kinh điển cho âm nhạc Pháp thời kỳ này, chủ yếu là các bản giao hưởng, nhạc thính phòng và các bản solo piano. Đặc biệt là bản giao hưởng “Biển”

[2] Eleanor Rigby: một ca khúc của ban nhạc Beatles, nằm trong album Revolver phát hành năm 1966. Ca khúc đuợc viết bởi Paul McCartney song vẫn được ghi chung cho Lemon-McCartney.

Phần ca từ nói về sự cô đơn, ca khúc tiếp tục là một bước chuyển hướng từ nhạc pop sang những trải nghiệm mang đậm tính phòng thu của ban nhạc. “Elenor Rigby” thực tế đã từ bỏ mọi quy chuẩn của thứ âm nhạc bình dân, từ phần nhạc cho tới phần lời. Richie Unterberger của Allmusic đã nhận xét rằng “những gì ban nhạc hát về những lo lắng thờ ơ và cuộc đời của những người già” qua ca khúc “là một ví dụ điển hình minh chứng vì sao quan điểm của The Beatles ngày một xa rời khỏi tầng lớp nghe nhạc rock truyền thống.”

[3] Josif Vissarionovich Stalin (18/12/1879 – 2/3/1953) là Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô từ năm 1922 đến năm mất 1953; từ 1941 là Chủ tịch Đại biểu Nhân dân Xô Viết và Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng. Stalin còn là Tổng tư lệnh quân đội, hàm Đại nguyên soái Liên Xô. Ông là nhà lãnh đạo tối cao của Liên bang Xô viết từ giữa thập niên 1920 cho đến khi qua đời. Ông có công lãnh đạo Liên Xô giành thắng lợi trong cuộc Chiến tranh Xô-Đức, cũng như đưa Liên Xô trở thành một siêu cường thế giới. Tuy nhiên, ông cũng bị phê phán vì những chính sách sai lầm và tệ sùng bái cá nhân, và bị phương Tây xem là một nhà lãnh đạo độc tài. Có tài liệu còn gọi ông là “Nga hoàng Đỏ”.

Để đạt được những mục tiêu của mình, Stalin sử dụng các phương pháp điều hành cứng rắn, bao gồm cả khủng bố nhà nước trong thời kỳ đại thanh trừng, theo ước tính từ tháng 08/1937 đến tháng 10/1938, chỉ riêng trong nhà tù tại Ủy ban an ninh quốc gia, chế độ Stalin đã bắn bỏ 20.760 người, trong đó có khoảng 1.000 người lãnh đạo tôn giáo. Giáo chủ giáo phận St. Petersburg Serafin là cũng bị giết vào thời gian này. Các nhà sử học được các báo chí quốc tế trích dẫn lời cho rằng dưới thời cầm quyền của Stalin, nhiều triệu người đã bị Stalin và bộ máy thanh trừng của ông cưỡng bức di cư, thẩm vấn hoặc giam giữ trong các trại tập trung và các nhà tù dưới chế độ Xô-Viết trước đây[cần dẫn nguồn]. Trong thời cải cách “Perestroika” của Michail Gorbachev, đã giải mật đa số trong 1,7 triệu hồ sơ “những tên phản cách mạng” trong giai đoạn 1937-1938. Trong đó hơn 700 ngàn người bị giết. Những người bị thảm sát đã được Tổng thống Nga Putin cho rằng: “Những người bị thảm sát, khủng bố là những con người ưu tú nhất, có trí tuệ cao nhất và là những người can đảm nhất của nước Nga và Liên Xô thời đó.”

[4] Tres fatigué: (tiếng Pháp) Con mệt lắm

[5] Hiện trường, nơi trước kia tọa lạc Tháp đôi tại New York nay được gọi là Ground Zero (Khu vực số không), nơi đây hiện đang xây cất tòa nhà One World Trade Center cao 541 m và 3 tòa nhà chọc trời được xây trên một hình bán nguyệt xung quanh khu tưởng niệm các nạn nhân trong vụ khủng bố, dự định hoàn thành trong năm 2012.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: