Extremely Loud & Incredibly Close (14)

Image

NẶNG LÒNG

NẶNG LÒNG HƠN (2)

Oskar Schell thân mến,

Xin cảm ơn sự đóng góp của cháu tới Quỹ Bệnh Nhân Tiểu Đường Hoa Kỳ. Mọi đồng đô la – hay như trong trường hợp của cháu, năm mươi xen – cũng đều đáng quý.

Cô đã gửi kèm theo bức thư này một vài thông tin thêm về Quỹ, bao gồm cả bản tuyên bố sứ mệnh của tổ chức, một quyển sách bướm với các thông tin về các hoạt động và các thành tựu trong quá khứ, cũng như một vài thông tin về các mục tiêu đặt ra trong tương lai, bao gồm cả mục tiêu ngắn hạn và dài hạn.

Một lần nữa, xin chân thành cám ơn cháu, vì những đóng góp của cháu dành cho Quỹ. Cháu đang chung tay cứu giúp rất nhiều mạng người.

Trân trọng,

Patricia Roxbury

Chủ tịch Quỹ, Cơ sở New York

Điều này có thể khó tin, nhưng người tên Black tiếp theo sống trong cùng toà nhà với tôi, mà chỉ cách nhà tôi có mỗi một tầng lầu. Nếu đây không phải là cuộc đời tôi, thì tôi tuyệt đối không tin vào chuyện này. Tôi xuống dưới sảnh và Stan xem bác ấy có biết gì về người hiện đang sống trong căn hộ 6A hay không. Bác ấy nói, “Bác chẳng bao giờ thấy có ai đi ra đi vào căn hộ ấy hết cả. Chỉ có rất nhiều giao hàng và rất nhiều rác thôi.” “Hay vậy.” Bác ghé người xuống và thì thà thì thầm vào tai tôi, “Ngôi nhà ấy bị ma ám đấy.” Tôi thì thầm lại, “Cháu không tin vào mấy cái chuyện siêu nhiên ấy đâu.” Bác ấy nói, “Bọn ma đâu thèm quan tâm xem cháu có tin vào chúng hay không,” và cho dù tôi là người vô thần đi chăng nữa, thì tôi vẫn biết tỏng là bác ấy sai bét.

Tôi bước lên cầu thang, lần này tôi vượt qua tầng của nhà tôi và lên tầng sáu. Có một tấm thảm kê trước cửa in chữ Xin mời vào bằng mười hai thứ ngôn ngữ khác nhau. Rõ ràng là một con ma không thể tự sắp đặt như thế trước cửa nhà mình. Tôi thử tra khoá vào ổ, nhưng không được, nên tôi nhấn chuông, đúng vị trí mà cái chuông ở nhà tôi được gắn vào tường. Tôi nghe thấy có tiếng động ở bên trong, và có thể là cả tiếng nhạc ghê ghê nữa, nhưng tôi thì rất dũng cảm và tôi kiên trì đứng đợi.

Sau một lúc rất lâu cánh cửa được mở ra. “Tôi giúp gì được nào!” một ông già hỏi, nhưng ông hỏi rõ to, gần như là hét lên đến nơi. “Vâng ạ, chào ông,” tôi nói. “Cháu sống ở tầng dưới, số nhà 5A ạ. Cháu có thể hỏi ông một tí được không?” “Xin chào, anh bạn trẻ!” ông ấy nói, và ông ấy có vẻ ngoài kì dị sao đó, bởi vì ông ấy đội một cái mũ bê rê màu đỏ, như một ông người Pháp, và có một cái che mắt, như một tên cướp biển. Ông ấy nói, “Ông là Ông Black!” Tôi nói, “Cháu biết ạ.” Ông ấy quay người và đi vào trong nhà. Tôi đoán như thế có nghĩa là tôi có thể đi theo ông, nên tôi đã làm như vậy.

Còn một điều lạ lùng khác là căn hộ của ông chẳng khác tí nào so với nhà tôi. Cũng sàn nhà ấy, cũng những bậu cửa sổ ấy, và ngay cả những hoa văn trang trí trên bệ lò sưởi cũng có một màu xanh lục như thế. Nhưng căn hộ của ông cũng khác hẳn, bởi vì nó được trang trí với những đồ vật hoàn toàn khác. Hàng tấn đồ vật. Những món đồ con con hiện diện khắp mọi nơi. Ngoài ra còn có một cái cột rất lớn nằm ngay giữa phòng ăn. Nó to bằng hai cái tủ lạnh gộp lại, và làm cho căn phòng chật chội đến mức không thể kê thêm bất cứ thứ gì khác vào, khắc hẳn so với nhà tôi. “Cái này để làm gì ạ?” tôi hỏi, nhưng ông ấy không nghe thấy tôi. Có hàng đống búp bê và các thứ khác được bày trên mặt lò sưởi, và sàn nhà thì trải hàng đống những tấm thảm nhỏ. “Ông mang chúng về từ Iceland đấy!” ông giới thiệu, chỉ tay vào những chiếc vỏ sò được đặt trên bậu cửa sổ. Ông chỉ vào một cây kiếm được treo trên vách tường và nói, “Ông mang nó từ Nhật về!” Tôi hỏi ông đấy có phải là một thanh gươm võ sĩ đạo không. Ông nói, “Nó là một bản sao!” Tôi trầm trồ, “Hay thật!

Ông dẫn tôi tới bên quầy bếp, nơi mà ở nhà chúng tôi sẽ là cái bàn ăn, và ông ngồi xuống và vỗ vỗ đôi bàn tay vào đầu gối. “Ô!” ông nói, to đến mức tôi phải bịt tai lại. “Ông có một cuộc đời hoành tráng lắm nhé!” Tôi nghĩ ông nói thế thì thật lạ, bởi vì tôi đâu có hỏi ông về cuộc đời ông cơ chứ. Tôi còn chưa nói cho ông nghe lý do mà tôi ở đây nữa cơ mà. “Ông sinh vào ngày 1 tháng 1 năm 1900 này! Ông đã sống qua tất cả các ngày của thế kỷ hai mươi đấy!” “Ối thật ạ?” “Bà mẹ của ông đã sửa lại giấy khai sinh của ông nên ông có thể tham gia Thế Chiến I! Đấy là lời nói dối duy nhất của bà đấy! Ông đã đính hôn với em gái của Fitzgerald!” “Fitzgerald là ai ạ?” “Francis Scott Key Fitzgerald[1], cậu bé ạ! Ông ấy là một nhà văn vĩ đại! Đại văn hào!” “Úi!” “Ông từng ngồi bên hiên nhà cô ấy và nói chuyện với bố nàng trong khi nàng dặm phấn lên chiếc mũi xinh đẹp ở trên lầu! Cha của nàng và ông có những cuộc nói chuyện thật là hay! Ông ấy là một Người Vĩ đại, như Winston Churchill là một Người Vĩ đại vậy!” Tôi quyết định rằng tốt hơn hết là tôi nên Google Winston Churchill ngay khi tôi về đến nhà, thay vì để lộ ra rằng tôi không biết ông ấy là ai cả. “Một hôm nọ, nàng đi xuống gác và đã sẵn sàng đâu vào đấy! Ông bảo với nàng rằng hẵng đợi ông một phút đã, bởi vì bố nàng và ông đang ở giữa chừng một câu chuyện thú vị, và mình không thể phá ngang một cuộc nói chuyện tuyệt vời, đúng không!” “Cháu chẳng biết đâu.” “Một lúc sau trong tối đó, khi ông thả nàng xuống trước hiên nhà, nàng nói, ‘Đôi lúc em thấy hình như anh thích bố em hơn là em đấy!’ Ông thì thừa hưởng cái tính thật thà quái quỷ của bà mẹ ông, và lần này ông cũng không thoát khỏi nó, ‘Ừ, đúng!’ Ôi, đấy là cái lần cuối cùng mà ông được nói ‘Đồng ý!’ với nàng, nếu cháu hiểu ý ông là gì!” “Cháu hiểu ạ.” “Ông làm hỏng tất cả! Con trai ạ, ông làm cho mọi chuyện be bét hết!” Ông bắt đầu phá lên cười ồn ã, và  ông lại vỗ vỗ bàn tay vào đùi. Tôi nói, “Buồn cười thật,” bởi vì có thế thì ông mới cười nhiều đến vậy. “Quá buồn cười ấy chứ!” ông nói. “Đúng vậy! Ông không bao giờ nghe thấy tin tức gì về nàng nữa! Ôi! Có biết bao nhiêu là người đã đến và đi trong đời ta! Hàng trăm nghìn ấy chứ! Và cháu sẽ phải luôn giữ cho cánh cửa trái tim mở rộng để mọi người có thể bước vào! Nhưng điều ấy cũng đồng nghĩa với việc cháu sẵn lòng nhìn họ ra đi!”

Ông đặt siêu nước lên bếp.

“Ông thật là thông thái,” tôi bảo ông. “Ông có khối thời gian để trở nên thông thái! Nhìn này!” ông la lên, và lật cái miếng che mắt ra. “Cái này là từ mảnh đạn của bọn Nazi[2]! Khi ấy ông là phóng viên chiến trường và theo xe tăng của quân Anh đi lên Rhine[3]! Bọn ông bị đột kích vào buổi chiều, khoảng cuối năm ’44! Mắt ông chảy máu ướt cả trang giấy mà ông đang viết, nhưng lũ khốn kia đâu có ngăn ông được! Ông vẫn hoàn thành bài viết ngon lành!” “Bài viết về cái gì ạ?” “À, ai mà nhớ được! Vấn đề là ông đã không để cho cái lũ Kraut[4] khốn nạn ấy làm ông dừng bút! Cháu biết không, ngòi bút còn có sức mạnh vĩ đại hơn cả những lưỡi đao đấy! Và cả MG34[5]!” “Ông có thể che mắt lại được không?” “Nhìn đây!” ông nói, chỉ vào sàn bếp, nhưng tôi không thể ngừng nghĩ tới con mắt của ông. “Dưới những tấm thảm này là gỗ sồi đấy! Sồi tứ xẻ! Ông biết thế bởi vì tự tay ông lát nền nhà mà!” “Jose,” tôi nói, và tôi không nói rằng như thế là hay. Tôi lập hẳn một danh sách trong đầu về những việc tôi có thể làm để được giống như ông. “Vợ ông và ông đã tự thiết kế lại căn bếp! Tự tay đấy!” Ông xoè bàn tay của ông ra cho tôi xem. Chúng giống như bàn tay của bộ xương trong cuốn Rainier Scientific mà chú Ron đề nghị mua cho tôi, trừ việc chúng được bọc da, một lớp da đồi mồi, mà tôi thì không muốn phải nhận quà của chú ấy. “Thế vợ ông đâu rồi ạ? ” Ấm nước réo lên khi bắt đầu sôi

“Ô,” ông nói, “bà ấy mất cách đây hai mươi tư năm trước! Đã lâu lắm rồi! Nhưng với ông thì chỉ như mới ngày hôm qua vậy! ” “Ôi.” “Không sao đâu!” “Ông có buồn không nếu cháu hỏi ông về bà ấy? Ông có thể nói ra nếu ông cảm thấy thế.” “Không đâu!” ông nói. “Nghĩ về bà ấy là điều tốt đẹp nhất tiếp theo!” Ông rót trà ra hai cái cốc. “Ông có cà phê không ạ?” tôi hỏi. “Cà phê!” “Nó làm giảm sự phát triển của cháu, và cháu thì rất sợ chết.” Ông gõ vào mặt bàn và nói, “Con trai ơi, ta có một ít cà phê từ Honduras mà có tên con trên ấy đấy!” “Ủa nhưng mà ông còn chưa biết cháu tên gì mà.”

Chúng tôi ngồi bên nhau một lúc nữa và ông kể tôi nghe nhiều hơn về cuộc đời ngoạn mục của ông. Như ông vẫn còn nhớ được, mà là khá nhiều, ông là người duy nhất còn sống mà đã tham gia cả hai cuộc thế chiến. Ông đã đặt chân tới nước Úc, và Kenya, và Pakistan, và Panama. Tôi hỏi ông, “Nếu như ông phải đoán, thì ông đoán là ông đã đi đến bao nhiêu nước rồi ạ?” Ông nói, “Ông không cần phải đoán! Một trăm mười hai!” “Có nhiều quốc gia đến thế cơ ạ?” Ông bảo tôi, “Số nơi cháu chưa từng nghe tên nhiều hơn hẳn số nơi mà cháu biết đấy!” Tôi thấy thích điều ấy. Ông đã viết bài về hầu hết các cuộc chiến trong thế kỷ hai mươi, như là cuộc Nội chiến Tây Ban Nha, và cuộc diệt chủng ở Đông Timor, và những điều tồi tệ ở châu Phi. Tôi chưa từng nghe thấy những câu chuyện như thế trước đây, nên tôi cố gắng ghi nhớ và tôi có thể Google khi về nhà. Cái danh sách trong đầu tôi đâm ra dài dằng dặc: Francis Scott Key Fitzgerald, dặm phấn lên mũi nàng, Churchill, xe Mustang cải tiến, Walter Cronkite[6], nốc rượu, Vịnh Con Lợn[7], LP, Datsun[8], Sự kiện Kent State[9], mở heo, Ayatollah Khomeini[10], Polaroid, Apacthai[11], quán lái xe vào, favela[12], Trotsky[13], Bức tường Berlin[14], Tito[15]Cuốn Theo Chiều Gió[16], Frank Lloyd Wright[17], lắc vòng, nghệ thuật phim màu, Cuộc Nội chiến Tây Ban Nha[18], Grace Kelly[19], Đông Timor[20], thước trượt[21], rất nhiều nơi ở châu Phi mà tôi đã cố gắng nhưng vẫn không nhớ được tên. Thật khó để giữ lại tất cả những điều mà tôi không biết ở trong đầu.

Căn hộ của ông chứa đầy những thứ đồ mà ông sưu tầm được trong suốt quãng thời gian tham gia chiến sự trong đời, và tôi chụp lại chúng bằng cái máy ảnh của Ông nội. Có những quyển sách bằng tiếng nước ngoài, và những bức tượng nho nhỏ, và những cuộn giấy với những bức tranh khá đẹp, và các vỏ lon Coca từ khắp mọi nơi trên thế giới, và một đống đá sỏi bày trên bệ lò sưởi, dù tất cả những thứ này trông rất bình thường. Một điều đặc biệt là mỗi một hòn sỏi đều có một miếng giấy nhỏ đặt bên cạnh giải thích xuất xứ của nó, và khi ấy ta có thể biết được nó đến từ đâu, như là “Normandy, 6/19/44[22],” “Hwach’on Dam, 4/09/51[23],” và “Dallas, 11/22/63[24].” Thật là tuyệt, nhưng cũng thật lạ lùng khi trên lò sưởi xuất hiện rất nhiều những viên đạn, và chúng thì không có các tờ giấy nhỏ bầy bên cạnh. Tôi hỏi ông làm sao mà ông biết được viên đạn nào với viên đạn nào. “Một viên đạn là một viên đạn của một viên đạn!” ông trả lời. “Nhưng chẳng phải một hòn đá là một hòn đá sao ạ?” tôi hỏi. Ông nói, “Dĩ nhiên là không rồi!” Tôi nghĩ là tôi hiểu được ý ông, nhưng tôi không phải là loại người lạc quan gì cho lắm, nên tôi chỉ vào mấy bông hồng được cắm trong cái lọ đặt trên bàn. “Thế một bông hoa hồng thì có phải là hoa hồng không ông?” “Không! Một bông hồng không phải là hoa hồng không phải là hồng!” Và rồi vì lý do nào đó mà tôi bắt đầu nghĩ về câu “Dường như là có điều gì dó trong mỗi bước nàng đi[25],” nên tôi hỏi, “Thế một bài tình ca thì có phải là bài tình ca không ạ?” Ông trả lời, “Có chứ!” Tôi suy nghĩ mất một giây. “Thế tình yêu thì có phải là tình yêu không?” Ông nói, “Không!” Ông có hẳn một bức tường treo đầy những chiếc mặt nạ từ các quốc gia mà ông từng đặt chân tới, chẳng hạn như Armenia và Chile và Ethiopia. “Đấy không hẳn là một thế giới khủng khiếp đâu,” ông bảo tôi, đeo chiếc mặt nạ Campuchia lên mặt, “nhưng ở đấy có rất nhiều kẻ kinh khủng!”

Tôi làm thêm một ly cà phê nữa, và rồi tôi biết đã đến lúc vào đề, nên tôi lôi chiếc chìa khoá đang đeo trên cổ ra và đưa nó cho ông. “Ông có biết cái này dùng để mở thứ gì không ạ?” “Ông không nghĩ vậy đâu!” ông hét lên. “Có thể là ông biết ba cháu thì sao?” “Ba cháu là người nào!” “Ông ấy tên là Thomas Schell. Ông ấy sống trong căn hộ 5A cho tới khi chết.” “Không,” ông trả lời, “ông không có ấn tượng gì với cái tên ấy cả!” Tôi hỏi ông có chắc chắn một trăm phần trăm hay không. Ông nói, “Ông đã sống đủ lâu để biết rằng chẳng có thứ gì trên đời này mà mình có thể có thể chắc chắn một trăm phần trăm cả cả!” và rồi ông đứng dậy, đi tới chỗ cây cột chống trong căn bếp, và đến chỗ cái tủ treo áo khoác, mà nằm ngay dưới gầm cầu thang. Đó là khi mà tôi phát hiện ra rằng căn hộ của ông có điểm không giống như ở nhà tôi, bởi vì nhà ông còn có cả một gian gác bên trên nữa. Ông mở tủ, và bên trong có cả một thư viện những chiếc thẻ bài. “Tuyệt.”

Ông bảo, “Đây là danh mục tiểu sử của ông!” “Cái gì của ông cơ ạ?” “Ông làm nó từ khi ông mới bắt đầu cầm bút! Có thẻ tên của tất cả những người mà ông đã viết bài về họ! Và cả tên của những người mà ông từng nói chuyện trong lần lấy tư liệu viết báo! Và tên của những người mà ông đã đọc sách về họ! Và tên của những người xuất hiện trong phần chú tích của các cuốn sách! Vào buổi sáng, khi đọc báo, ông sẽ làm thẻ tên của những người hứa hẹn sẽ làm nên tên tuổi! Giờ ông vẫn duy trì thói quen ấy đấy!” “Tại sao ông không dùng mạng ấy?” “Ông không có máy vi tính!” Chuyện ấy khiến đầu tôi ong ong hết cả lên.

“Ông có cả thảy bao nhiêu tấm thẻ tất cả ạ?” “Ông chưa đếm nữa! Có khi là hàng chục nghìn! Mà cũng có thể là hàng trăm nghìn cũng nên!” “Ông viết gì lên mỗi cái thẻ ạ?” “Ông ghi lại tên của người đó và tiểu-sử-một-từ!” “Chỉ có một từ thôi ấy ạ?” “Tất cả mọi người đều được tóm gọn trong một từ!” “Thế chuyện ấy thì có ích gì không?” “Quá tốt ấy chứ! Này nhé, nếu như ông đọc một bài báo về đồng tiền của các nước Mỹ La Tinh vào sáng nay chẳng hạn! Và nó nhắc tới một nghiên cứu của cái ông nào đó tên là Manuel Escobar! Và thế là ông sẽ bước tới chỗ cái tủ này và tra từ Escobar! Chắc chắn là có cái tên ấy ở đây! Manuel Escobar: người ủng hộ thuyết Hợp nhất!” “Nhưng mà ông ấy cũng có thể là chồng, hoặc là cha, hoặc là fan hâm mộ Beatles thì sao, hay là một người đi bộ, hay là ai mà biết được là cái gì.” “Đúng! Cháu còn có thể viết cả một cuốn sách về Manuel Escobar nữa kìa! Và như thế thì chỉ tổ làm cho mọi thứ phức tạp hơn thôi! Vì cháu có thể viết thêm cả mười cuốn sách như vậy nữa! Và cái chuyện viết lách thì không khi nào có giới hạn gì cả!”

Ông kéo một cái ngăn kéo ra khỏi tủ và cầm lên những tấm thẻ, cái này tiếp theo cái kia.

“Henry Kissinger[26]: chiến tranh!

“Ornette Coleman[27]: âm nhạc!

“Che Guevara[28]: chiến tranh!

“Jeff Bezos[29]: tiền!

“Philip Guston[30]: nghệ thuật!

“Mahatma Gandhi[31]: chiến tranh!”

“Nhưng mà ông ấy là một người theo đuổi chủ nghĩa hoà bình mà,” tôi phản đối.

“Đúng thế! Chiến tranh!”

“Arthur Ashe[32]: tennis!

“Tom Cruise[33]: tiền!

“Elie Wiesel[34]: chiến tranh!

“Arnold Schwarzenegger[35]: chiến tranh!

“Martha Stewart[36]: tiền!

“Rem Koolhaas[37]: kiến trúc!

“Ariel Sharon[38]: chiến tranh!

“Mick Jagger[39]: tiền!

“Yasir Arafat[40]: chiến tranh!

“Susan Sontag[41]: tư tưởng!

“Wolfgang Puck[42]: tiền!

“Giáo hoàng John Paul II[43]: chiến tranh!”

Tôi hỏi ông có thẻ tên của Stephen Hawking không.

“Dĩ nhiên là có rồi!” ông trả lời, lôi ra một ngăn kéo, và lấy ra một tấm thẻ

STEPHEN HAWKING: VẬT LÝ HỌC THIÊN THỂ

“Ông có thẻ tên của chính ông không ạ?”

Ông lấy ra tấm thẻ từ một ngăn kéo.

A.R. BLACK: CHIẾN TRANH

                         NGƯỜI CHỒNG

“Thế ông có thể tên của cha cháu không?” “Thomas Schell, đúng không!” “Vâng ạ.” Ông đi tới vị trí của ngăn kéo được đánh dấu S và lôi nó ra độ một nửa. Ngón tay ông lướt trên các tấm thẻ giống như ngón tay của một của người ít hơn cái tuổi 103 rất nhiều. “Xin lỗi cháu! Chẳng có gì cả!” “Ông có thể kiểm tra lại không ạ?” các ngón tay ông lại lướt qua các tấm thẻ lần nữa. Ông lắc đầu. “Ông rất tiếc!” “Ôi, thế nếu như nó bị xếp nhầm vào ngăn kéo khác thì sao ạ?” “Thế thì sẽ là một rắc rối lớn!” “Chuyện ấy có bao giờ xảy ra không ạ?” “À, thỉnh thoảng thì cũng có! Marilyn Monroe[44] từng bị mất tích khỏi ngăn kéo vần M hơn một thập kỷ cơ đấy! Ông cứ tìm mãi theo cái tên Norma Jean Baker, cho là ông phải thông thái lắm cơ, nhưng mà ông quên béng mất tên cúng cơm của bà ấy Norma Jean Mortenson mới đúng!” “Ai là Norma Jean Mortenson ạ?” “Marilyn Monroe!” “Nhưng mà Marilyn Monroe là ai ạ?” “Tình dục!”

“Thế ông có thẻ tên của Mohammed Atta[45] không ông?” “Atta! Cái tên đó thật ấn tượng! Để ông xem nào!” Ông mở ngăn kéo chữ A ra. Tôi nói với ông, “Mohammed là một cái tên rất phổ biến trên thế giới.” Ông lấy ra một tấm tẻ và reo lên, “Đây rồi!”

MOHAMMED ATTA: CHIẾN TRANH

Tôi ngồi xuống sàn nhà. Ông hỏi tôi có chuyện gì thế. “Chỉ là tại sao ông lại có một tấm thẻ tên của hắn trong khi của ba cháu thì không?” “Ý cháu là sao!” “Thật không công bằng!” “Cái gì không công bằng!” “Ba cháu là người tốt. Còn tên Mohammed Atta kia là một con quỷ.” “Nên!” “Nên ba cháu xứng đáng phải có một cái thẻ tên!” “Bởi điều ấy có nghĩa cháu là người được biết tới!” “Và tại sao điều ấy lại tốt!” “Cháu muốn ba cháu được biết tới.” “Chín trong số mười người khác biệt là có liên quan đến tiền bạc hoặc chiến tranh!”

Nhưng dầu vậy, nó vẫn khiến tôi cảm thấy vô cùng, vô cùng nặng nề. Ba không phải là một người Vĩ Đại, không giống như Winston Churchill nào đó, dù ông ta có là ai đi nữa. Ba chỉ là một ai đó kế thừa cơ nghiệp kinh doanh đồ trang sức của gia đình. Chỉ là một ông bố bình thường. Nhưng tôi ước sao, rằng, Ba trở thành Vĩ Đại. Tôi ước gì Ba thật nổi tiếng, nổi tiếng như một ngôi sao điện ảnh, mà đáng lý ra Ba xứng đáng được như vậy. Tôi ước gì ông Black viết về Ba, và mạo hiểm cả tính mạng của mình để kể cho cả thế giới này được biết về Ba, và lưu giữ lại những kỷ vật về Ba trong căn hộ này.

Tôi bắt đầu suy nghĩ: nếu như Ba có thể tóm gọn thành một từ, thì từ ấy sẽ là gì? Người chế tác trang sức? Người vô thần? Liệu người-chữa-lỗi-chính-tả có phải là một từ không nhỉ?

“Cháu đang tìm kiếm gì à!” ông Black hỏi. “Chiếc chìa khoá này là của Ba cháu,” tôi trả lời, và lôi nó ra từ bên trong áo, “và cháu muốn biết nó dùng để làm gì.” Ông nhún vai và rống lên, “Ông cũng muốn biết nữa!” Và rồi im lặng mất một lúc.

Tôi nghĩ là tôi sắp khóc đến nơi, nhưng tôi lại không muốn mít ướt trước mặt ông, nên tôi hỏi ông buồng tắm ở đâu. Ông chỉ vào cầu thang dẫn lên lầu. Và khi tôi bước lên lầu, tôi nắm thật chặt lấy tay vịn cầu thang và bắt đầu sáng chế ra các thứ ở trong đầu mình : túi khí an toàn cho các toà nhà chọc trời, những chiếc limousine chạy bằng năng lượng mặt trời và không bao giờ phải dừng lại để nạp nhiên liệu, một cái yo-yo không có ma xát và có thể quay liên tục. Phòng tắm có mùi của người già, và vài viên đá lát đáng lý ra phải ở trên tường thì lại nằm dưới nền nhà. Có một bức ảnh của một người đàn bà được gài vào góc của chiếc gương ngay phía trên bồn rửa tay. Bà ấy đang ngồi bên cái quầy bếp mà chúng tôi vừa mới ngồi khi nãy, và bà đội một chiếc mũ rất đẹp, dù bà gần như chìm nghỉm trong cái mũ ấy, dĩ nhiên là vậy. Một tay bà cầm tách trà. Nụ cười của bà thật cuốn hút. Tôi thắc mắc không biết lòng bàn tay bà có vã mồ hôi không khi bức hình được chụp. Và có phải ông Black là người đã chụp bức hình này không nhỉ.


[1] Francis Scott Key Fitzgerald (24/9/1896 – 21/12/1940) là một nhà văn Mỹ, nổi tiếng với các tác phẩm về “thời đại nhạc Jazz”. Ông có một đời sống riêng với người vợ Zelda Fitzgerald nhiều đau khổ và bất hạnh. Các tác phẩm của ông: This Side of Paradise (Phía bên ni địa đàng, 1920); Flappers and Philosophers (Những cô nàng và những triết gia, 1920); The Beautiful and Damned (Đẹp và đáng nguyền rủa, 1922); Vegatable (Rau cỏ, 1923); The Great Gasby (Đại gia Gatsby, 1925); Tender is the Night (Đêm dịu dàng, 1934); Top at Reveille (Tín hiệu thức tỉnh, 1935); The Last Tycoon (Trùm tư bản cuối cùng, 1941); The Crack-Up (Sụp đổ, 1945)

[2] Nazi: Đảng quốc xã Đức. Với huyền thoại Adolf Hitler.

[3] Sông Rhine, thường được phiên âm sang tiếng Việt thành sông Ranh, là một trong những con sông lớn và quan trọng nhất châu Âu, dài 1233 km, có lưu lượng nước trung bình 2000m3/giây. Con sông này bắt nguồn từ hồ Tomasee trên dãy Alps – Thụy Sĩ, rồi chảy qua các nước Pháp, Đức, Hà Lan rồi đổ ra biển Bắc gần Rotterdam.

[4] Kraut: từ có mặt trong hệ thống ngôn ngữ tiếng Anh từ năm 1918 dùng để miệt thị người Đức, đặc biệt là lính Đức trong Thế Chiến I và Thế Chiến II. Trước đó, đây là từ viết tắt của từ tiếng Đức “sauerkraut” (bắp cải muối) – một món ăn truyền thống của Đức và Trung Âu.

[5] MG34 (Maschinengewehr 34): một loại súng máy của Đức Quốc Xã. Súng sử dụng loại đạn 7,92x57mm Mauser, được sản xuất năm 1934, có hệ thống làm mát bằng không khí đầu tiên trên thế giới và đưa vào sử dụng trong quân đội vào năm 1935.

[6] Walter Leland Cronkite, Jr. (4/11/1916 – 17/7/2009) là một phóng viên truyền hình người Mỹ, được biết đến như là nhân vật chủ chốt của chương trình Bản tin tối của đài CBS trong 19 năm (1962–1981). Trong thời hoàng kim của Chương trình Thời sự CBS vào giao đoạn 1960 – 1970, ông thường được giới thiệu như là “người đáng tin cậy nhất nước Mỹ” sau khi được nêu tên trong một cuộc trưng cầu ý kiến. Ông đã đưa tin nhiều sự kiện suốt từ năm 1937 đến năm 1981, bao gồm cả các cuộc đánh bom trong Thế Chiến II; phiên tòa Nuremberg; đấu tranh chống lại Cuộc chiến tranh Việt Nam; vụ Watergate; cuộc Khủng hoảng Con tin ở Iran; và vụ ám sát Tổng thống John F. Kennedy, nhà tiên phong về quyền con người Martin Luther King, Jr., và thành viên John Lennon của nhóm Beatles. Ông cũng được biết đến về sự thông báo rộng khắp của ông về chương trình không gian Mỹ, từ Chương trình Mercury tới sự kiện đặt chân lên Mặt trăng tới Tàu con thoi. Ông là người nhận giải thưởng Hòn đá Mặt trăng duy nhất mà không phải là thành viên của NASA.

[7] Sự kiện Vịnh Con Lợn (The Bay of Pigs) còn có tên là La Batalla de Girón, hoặc Playa Girón ở Cuba), là một nỗ lực bất thành của lực lượng những người Cuba lưu vong do CIA huấn luyện để xâm chiếm miền nam Cuba với sự hỗ trợ của quân đội chính phủ Hoa Kỳ, nhằm lật đổ chính phủ của Fidel Castro ở Cuba.

Kế hoạch được tiến hành vào tháng 4 năm 1961, chưa đầy ba tháng kể từ khi John F. Kendedy lên nhậm chức tổng thống Hoa Kỳ. Quân đội cuba, được sự huấn luyện và trang bị từ các quốc gia Khối phí Đông, đã đánh bại đội quân lưu vong trong vòng ba ngày.

Sự kiện này được đặt tên theo Vịnh Con Lợn, một cách dịch từ tiếng Tây Ban Nha Bahía de Cochinos. Cuộc đổ bộ chính trong sự kiện xâm lược này diễn ra tại bờ biển Playa Girón, nằm ở cửa vịnh.

[8] Datsun là một nhãn hiệu ô tô. Tên này được tạo ra vào năm 1931 bởi DAT Motorcar Co. cho một mẫu xe mới, được đọc là “Datson” để chỉ ra kích thước của nó nhỏ hơn khi so sánh với loại xe DAT đã có mặt trên thị trường vào thời điểm đó. Năm 1934, khi khi Nissan Motor Co, Ltd nắm quyền kiểm soát DAT Motorcar Co. thì âm tiết của của Datson được đổi thành “sun”, bởi vì “son” cũng có nghĩa là “mất mát” (损) trong tiếng Nhật, và cũng để tôn vinh hình ảnh mặt trời được mô tả trong lá cờ của nước Nhật, do đó xe có tên mới là “Datsun”. Nissan loại bỏ các thương hiệu Datsun vào tháng 3 năm 1986. Thương hiệu Datsun được biết đến với cá dòng xe 519, xe du lịch Fairlady và sau đó là xe hơi hai chỗ ngồi Fairlady (240Z). Vào ngày 20 tháng 3 năm 2012, Nissan tuyên bố rằng sẽ tái tạo lại thương hiệu này tại các thị trường Indonesia, Nam Phi, Ấn Độ và Nga.

[9] Thảm sát Đại học Tiểu bang Kent, cũng được gọi là Vụ xả súng Kent State hay Thảm sát ngày 4 tháng 5, xảy ra tại trường Đại học Tiểu bang Kent (Kent State University) ở thành phố Kent, Ohio, Hoa Kỳ, khi một số sinh viên bị bắn bởi đoàn Vệ binh Quốc gia Ohio vào thứ Haim ngày 4/5/1970. Bốn sinh viên thiệt mạng và chín sinh viên nữa bị thương, một trong số đó bị chứng liệt kinh niên.

Vài người trong số sinh viên bị bắn đang biểu tình chống Chiến dịch Campuchia của Hoa Kỳ trong Chiến tranh Việt Nam; Tổng thống Richard Nixon đã tuyên bố chiến dịch này trê TV ngày 30/4. Tuy nhiên, những sinh viên khác bị bắn chỉ đi bộ gần đấy hay quan sát cuộc biểu tình từ xa.

Cả nước Mỹ đã phản ứng về sự kiện này ở mức độ đáng kể: Hàng trăm trường đại học, cao đẳng, và trung học khắp nước đóng cửa vì 4 triệu sinh viên và học sinh tiến hành bãi khóa trong cuộc Bãi khóa năm 1970 và sự kiện này càng tác động mạnh vào ý kiến của công chúng về vai trò của Hoa Kỳ trong Chiến tranh Việt Nam.

[10] Sayyid Ruhollah Musavi Khomeini (tiếng Ba Tư: روح الله موسوی خمینی) (24/9/1902 – 3/6/1989) là một nhà lãnh đạo tôn giáo và chính trị gia người Iran, người lãnh đạo cuộc Cách mạng Iran năm 1979 trong đó chứng kiến sự lật đổ của Mohammad Reza Pahlavi, vị Shah cuối cùng của Iran. Sau cuộc cách mạng và một cuộc trưng cầu dân ý toàn quốc, Khomeini trở thành Lãnh đạo Tối cao của Iran – một vị trí có quyền lực tối cao cả về chính trị lẫn tôn giáo của quốc gia được hiến pháp đặt ra, cho tới khi ông qua đời.

Là người được hàng triệu người dân Iran yêu mến, cả lần trở về của ông từ cuộc lưu đày hay đám tang của ông đều là những sự kiện lớn của quốc gia với hàng triệu người tham dự. Ở nước ngoài, ông được biết đến nhiều vì sự ủng hộ những người bắt cóc con tin trong suốt cuộc Khủng hoảng Con tin Iran và lời kêu gọi fatwa (bản án) cho cái chết của công dân Anh Salman Rushdie. Khomeini được tạp chí Time bầu là nhân vật của năm 1979.

[11] Apacthai (tiếng Hà Lan: Apartheid): chính sách phân biệt chủng tộc trước đây đã được tiến hành ở Nam Phi. Đảng Quốc gia Nam Phi dã tiến hành chính sách Apacthai như một phần trong chiến dịch tranh cử của họ cho cuộc bầu cử năm 1948. Với sự tháng cử của Đảng Quốc gia Nam Phi, Apacthai đã trở thành chính sách chính trị tại Nam Phi cho tới đầu những năm 1990. Mặc dù, cơ sở pháp lý cho chủ nghĩa Apacthai không còn nhưng sự bất bình đẳng về chính trị, kinh tế và xã hội giữa những người da trắng và người da đen ở Nam Phi vẫn tiếp tục tồn tại.

[12] favela là những khu dân cư nghèo, có kinh tế yếu kém và dịch vụ công thì tồi tệ ở Brazil. Hay còn được biết đến với các khu ổ chuột.

[13] Lev Davidovich Trotsky (7/11/1879 – 21/8/1940), tên khai sinh Lev Davidovich Bronstein, là một nhà lý luận cách mạng Bolshevik và Mác xít. Ông là một trong những lãnh đạo của cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, chỉ sau Lenin. Trong những ngày đầu lịch sử Liên Xô, ông làm dân ủy ngoại giao và sau này là người thành lập và chỉ huy Hồng quân và dân ủy chiến tranh. Ông cũng là một trong những thành viên đầu tiên của Bộ chính trị. Sau khi lãnh đạo cuộc đấu tranh thất bại của Cánh Tả Đối lập chống lại các chính sách và sự thăng tiến của Joseph Stalin trong thập niên 1920 và sự tăng cường quan liêu tại Liên Xô, Trotsky bị đưa ra khỏi Đảng Cộng sản và trục xuất khỏi Liên Xô. Ông là một trong số ít nhân việt chính trị không bao giờ được chính phủ Liên Xô (cũ) phục hồi trong lịch sử Liên Xô.

[14] Bức tường Berlin, từng được chính phủ Cộng hòa Dân chủ Đức gọi là “Tường thành bảo vệ chống phát xít” và bị người dân Cộng hòa Liên bang Đức gọi là “Bức tường ô nhục” là một phần của biên giới Đông Đức và Tây Bức từ ngày 13/8/1961 đến ngày 9/11/1989. Bức tường này là một trong những biểu tượng nổi tiếng nhất của cuộc Chiến tranh Lạnh và của việc chia cắt nước Đức. Khoảng 5000 người dã tìm cách vượt qua bức tường để sang Tây Berlin. Số người bị thiệt mạng khi vượt tường nằm trong khoảng từ 86 đến 200 người.

[15] Josip Broz Tito (5/1892 – 4/5/1980) là nhà cách mạng và chính khách người Nam Tư. Ông là tổng thư ký và sau đó là chủ tịch của Đảng Cộng sản Nam Tư (1939 – 1980), tham gia và lãnh đạo kháng chiến nhân dân Nam Tư trong Thế Chiến 2. Sau cuộc chiến ông lên giữ quyền thủ tướng (1945 – 1963) và sau đó lên chức tổng thống (1953 – 1980) của nước CHXHCN Liên bang Nam Tư.

Tito là người sáng lập quốc gia Nam Tư thứ nhì, một liên hiệp XHCN, từ Chiến tranh Thế giới 2 đến năm 1991. Mặc dù là một trong những thành viên ban đầu của Cominform, Tito là người đầu tiên và duy nhất có khả năng chống lại điều khiển của Liên Xô. Nam Tư do đó thuộc Phong trào không liên kết, không chống nhưng cũng không ngả theo phe nào trong hai phe đối đầu của Chiến tranh Lạnh.

[16] Cuốn Theo Chiều Gió: một tác phẩm của nhà văn Margaret Mitchell. Câu chuyện được đặt bối cảnh tại Georgia và Atlanta, miền Nam Hoa Kì trong suốt thời kì nội chiến và thời tái thiết. Tác phẩm xoay quanh Scarlett O’Hara, một cô gái miền Nam đầy sức mạnh, phải tìm mọi cách để sống sót qua chiến tranh và vượt lên cuộc sống khó khăn trong thời hậu chiến. Tác phẩm xuất bản lần đầu năm 1936, đến năm 1937 nhà văn Mitchell đạt giửi Pulitzer cho tác phẩm này.

[17] Frank Lloyd Wright (8/6/1867 – 9/4/1959) là một trong những kiến trúc sư nổi tiếng có nhiều ảnh hưởng nhất trong nửa đầu thế kỷ 20. Ông không chỉ phát triển phong cách kiến trúc rất độc đáo trong đời hoạt động rất dài của ông (1887 – 1959), mà ông cũng ảnh hưởng đến cả nền kiến trúc và xây dựng Mỹ sau này. Đến ngày nay, ông chắc vẫn còn là một kiến trúc sư nổi tiếng nhất của Hoa Kỳ.

[18] Nội chiến Tây Ban Nha là cuộc xung đột lớn ở Tây Ban Nha khởi đầu từ nỗ lực đảo chính thực hiện bởi một bộ phận của Quân đội Tây Ban Nha chống lại chính phủ Đệ nhị Cộng hòa TBN. Cuộc Nội chiến đã tàn phá TBN, kéo dài từ 17/6/1936 cho tới 1/4/1939, kết thúc với thắng lợi của phe nổi dậy và việc thiết lập chế độ độc tài của thủ lĩnh phe Quốc gia là Tướng Francisco Franco. Những người ủng hộ nền cộng hòa nhận được sự hỗ trợ của Liên Xô và Mexico, trong khi phe nổi dậy, còn được gọi là phe Quốc gia, nhận được trợ lực từ nước láng giềng Bồ Đào Nha và các cường quốc phát xít Châu Âu là Ý và Đức.

Cuộc chiến làm tăng thêm sự căng thẳng dẫn đến Thế Chiến 2, và trong một chừng mực nào đó, trở thành đấu trường cho cuộc xung đột thế giới, đặc biệt với Đức sử dụng cuộc chiến để diễn tập chiến thuật chiến tranh chớp nhoáng được sử dụng sau này trong cuộc chiến ở châu Âu. Cuộc chiến trở nên nổi tiếng vì nó gây ra sự chia rẽ sâu sắc về mặt chính trị, vì những cảm xúc mạnh mẽ, cũng như vì những tội ác chiến tranh mà cả hai phe tham chiến gây ra.

[19] Grace Kelly (12/11/1929 – 14/9/1982): nữ diễn viên điện ảnh nổi tiếng người Mỹ. Tháng 4/1956, bà kết hôn với ông hoàng Monaco Rainier III, trở thành Công nương của Công quốc Monaco, thường được gọi là Bà hoàng Grace.

[20] Đông Timor, cũng được gọi là Timor-Leste (từ tiếng Malaysia timor và tiếng Bồ Đào Nha leste, đều có nghĩa là “phía đông”), tên đầy đủ: Cộng hòa Dân chủ Đông Timor, là quốc gia ở khu vực châu Đại Dương, bao gồm nửa phía đông của đảo Timor, những đảo lân cận của Atauro và Jaco và Oecussi-Ambeno, một phần nằm ở phía tây bắc của đảo, trong Tây Timor của Indonesia. Đông Timor là một đất nước nhỏ bé với 15.410 km2 cách thành phố Darwin, Úc khoảng 640 km về phía tây bắc.

[21] thước trượt được phát minh vào năm 1622 bởi William Oughtred (1575 – 1660), một nhà toán học người Anh. Ông cũng là người đưa ra kí hiệu “x” và cách viết tắt “sin”, “cos” cho các từ như “sine”, “cosine”. Ông còn có mối đam mê dành cho thuật chiêm tinh và giả kim.

[22] Trận Normandie. Cuộc đổ bộ của quân đội khối Đồng minh vào các bãi biển vùng Normandie ngày 6/6/1944, còn gọi là Trận chiến vì nước Pháp, là một trong những mốc lịch sử quan trọng của Thế chiến 2. Đây là cuộc tấn công từ biển vào đất liền lớn nhất trogn lịch sử, với hơn 150000 quân Hoa Kỳ, Anh, Canada cùng với quân kháng chiến Pháp, Tiệp Khắc, Ba Lan, Bỉ, Hà Lan, Na Uy, theo các chiến hạm lớn nhỏ từ miền nam Anh Quốc kéo vào đất Pháp lúc bấy giờ đang nằm dưới sự kiểm soát của quân Đức Quốc Xã. Ngay từ ngày đầu tiên, họ đã phá hủy các cầu và cắt đường liên lạc của quân Đức, và gặt hái thành công vang dội. Sau nhiều ngày chiến đấu, quân lực Đồng Minh giành được lợi thế vào tháng 7 năm ấy, đẩy được quân Đức Quốc Xã ra khỏi các căn cứ quân sự tại Normandie và trên đà thắng lợi đã tiến hành cuộc giải phóng Paris nói riêng, và cuộc tiến chiếm giải phóng châu Âu.

[23] Đập Hwacheon là một con đập trọng lực bê tông trên sông Bắc Hàn (Pukhan) tại huyện Hwacheon, tỉnh Gangwon-do, Hà Quốc. Con đập được hoàn thành vào năm 1944 như là nguồn cung cấp thủy điện chính cho Nam Hàn. Đây là tâm điểm của một cuộc tấn công trong suốt cuộc Chiến tranh Triều Tiên và cũng là điểm bảo vệ đất nước này khỏi lũ lụt gây ra từ con con đập Imnam ở thượng nguồn.

Vào đêm 8/4/1951, quân đội Triều Tiên và Trung Quốc xả nước từ con đập tràn nhằm vô hiệu hóa 5 chiếc cầu nổi do quân đội Liên hiệp Quốc dựng lên ở hạ lưu. Con đập trước đó đã bị đánh giá là có vấn đề và tính chất quan trọng của hoạt động thủy điện và nguy cơ gây lũ cho vùng hạ lưu. Vào ngày 9/4, Trung đoàn Không quân 7, đã thực hiện Chiến dịch Hủy diệt trong khu vực, chịu trách nhiệm chiếm đóng con đập nhưng đã không thành công sau khi đối mặt với sự chống cự quyết liệt.

[24] Tổng thống thứ 35 của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, John F. Kenedy bị ám sát vào ngày 11/22/63 ở Dallas. Sự kiện này là một bước ngoặt trong dòng lịch sử Hoa Kỳ vào thập niên 1960, khi khắp thế giới thương tiếc ông và các nhà lãnh đạo của nhiều quốc gia đã đi theo quan tài đưa tiễn ông về nơi an nghỉ cuối cùng.

[25] Nguyên văn: “Something in the way she moves” – câu mở đầu trong ca khúc “Something” của The Beatles

[26] Henry Alfred Kissinger (tên khai sinh: Heinz Alfred Kissinger; 27/5/1923 – ) là một nhà ngoại giao người Mỹ gốc Đức và Đức gốc Do Thái, người giành giải Nobel Hòa bình năm 1973. Ông từng giữ chức cố vấn an ninh quốc gia Hoa Kỳ và sau đó kiêm luôn chức Bộ trưởng Ngoại giao dưới thời tổng thống Richard Nixon. Kissinger là người đã thoát khỏi vụ bê bối Watergate và sau đó vẫn đảm bảo được vị trí quyền lực của mình khi Gerald Ford trở thành tổng thống.

Trong suốt quãng thời gian cầm quyền của Nixon và Ford ông được biết đến là một kiểu người khoa trương, xuất hiện những buổi gặp mặt công chúng với nhiều người nổi tiếng. Những phương pháp về chính sách đối ngoại của Kissinger đã khiến ông trở thành kẻ thù giữa phe cánh tả chống chiến tranh cũng như phe cánh hữu chống cộng sản.

[27] Randolph Denard Ornette Coleman (9/3/1930) là một nghệ sĩ saxophone, vĩ cầm, kèn trompet và nhà soạn nhạc. Ông là một trong những người tiên phong của phong trào nhạc jazz tự do vào những năm 1960.

Âm nhạc của Coleman rất dễ nhận biết: đó là những giai điệu mạnh mẽ, buồn bã thường rất nổi bật trong các bản nhạc blues. Album Sound Grammar của ông được nhận giải thưởng Pulitzer dành cho âm nhạc vào năm 2007.

[28] Ernesto Guevara de la Serna (1928 – 1967), thường được biết đến với cái tên Che Guevara, El Che hay đơn giản là Che, là một nhà cách mạng Marxist nổi tiếng người Argentina, là thầy thuốc, người tạo ra học thuyết quân đội, nhà lãnh đạo quân du kích và phong trào cách mạng Cuba. Kiểu anh của ông chụp sau này đã trở thành biểu tương văn hóa ở khắp mọi nơi trên thế giới.

[29] Jeff Bezos: Nhà sáng lập kiêm CEO của Amazon.com – công ty thương mại đa quốc gia đóng tại Hoa Kỳ được thành lập vào năm 1994.

[30] Philip Guston (27/6/1913 –7/6/1980) là họa sĩ người Mỹ. Vào cuối thập niên 60 Guston đã có công lớn trong việc tạo ra sự chuyển đổi khuynh hướng từ trường phái trừu tượng sang trường phái hội họa tân thời.

[31] Mahatma Gandhi (2/10/1869 – 30/1/1948), nguyên tên đầy đủ là Mohandas Karamchand Gandhi (Devanagari: मोहनदास करमचन्द गांधी; Gujarati: મોહનદાસ કરમચંદ ગાંધી), là anh hùng dân tộc Ấn Độ, đã chỉ đạo cuộc kháng chiến chống chế độ thực dân của Đế quốc Anh và giành độc lập dân tộc cho Ấn Độ với sự ủng hộ nhiệt liệt của hàng triệu người dân. Trong suốt cuộc đời, ông phản đối tất cả các hình thức khủng bố bạo lực và thay vào đó, chỉ áp dụng những tiêu chuẩn đạo đức tối cao. Nguyên lí bất bạo lực được ông đề xướng với tên Chấp trì chân lí đã ảnh hưởng đến các phong trào đấu tranh bất bạo động trong và ngoài nước cho đến ngày nay, bao gồm phong trào Vận động quyền công dân tại Hoa Kỳ (American Civil Rights Movement) được dẫn đầu bởi Martin Luther King, Jr..

Từ lúc lãnh đạo cuộc đấu tranh giành tự do và đứng đầu đảng Quốc dân Đại hội Ấn Độ năm 1918, ông được hàng triệu dân Ấn Độ gọi một cách tôn kính là Mahatma, nghĩ là “Linh hồn lớn”, “Vĩ nhân” hoặc “Đại nhân”. Mặc dù Gandhi không hài lòng với cách gọi tôn vinh nhưng đến ngày nay, danh hiệu Mahatma Gandhi vẫn thường được dùng hơn tên Mohandas Gandhi trên toàn thế giới. Ngoài việc được xem là một trong những môn đồ Ấn Độ giáo và những nhà lãnh đạo Ấn Độ vĩ đại nhất, ông còn được nhiều người dân Ấn tôn kinh như một Quốc phụ. Ngày sinh của ông, 2/10, là ngày lễ quốc gia của Ấn Độ; và được Liên Hiệp Quốc lấy làm Ngày Quốc tế Bất bạo động từ năm 2007.

Ngày 30/1/1948, trên đường đến một nơi thờ tụng, Gandhi bị bắn chết bởi Nathuram Godse tại tòa nhà Birla ở New Delhi. Godse là một môn đồ Ấn giáo cực đoan được người đương thời cho là có mối quan hệ với cánh cực hữu của các tổ chức Ấn Độ giáo như Hindu Mahasabha. Tương truyền câu nói trước khi chết của Gandhi là “Ô kìa Râm!” và nó được xem là câu tôn kính hướng đến thần Rama, là một dấu hiệu gợi cảm tâm linh Gandhi cũng như lí tưởng đạt sự thống nhất với hòa bình vĩnh hằng của ông.

[32] Arthur Robert Ashe (5/7/1943 – 6/2/1993) là một cựu vận động viên quần vợt chuyên nghiệp người Mỹ, sinh ra và lớn lên ở Richmond, Virginia. Trong sự nghiệp của mình, Ashe đã giành được 3 danh hiệu Grand Slam, trở thành một trong số những vận động viên quần vợt xuất sắc nhất của Mỹ. Ông, một người Mỹ gốc Phi, còn được nhớ đến với những nỗ lực trong hoạt động xã hội của mình thời gian sau này.

Năm 1988, Ashe phát hiện ra mình bị nhiễm virus HIV từ một lần truyền máu tại một trong hai cuộc phẫu thuật tim. Ông và vợ giấu kín tình trạng bệnh tật của mình cho tới ngày 8/4/1992 khi tờ báo USA Today đề cập đến tình hình sức khỏe của ông, buộc ông phải công bố tình trạng nhiễm bệnh của mình. Trong năm cuối của cuộc đời, Ashe đã làm nhiều việc kêu gọi sự chú ý của những bệnh nhân bị AIDS trên toàn thế giới. Hai tháng trước khi mất ông thành lập Học viên Arthur Ashe vì sức khỏe thành thị để giúp đỡ những nơi có tình trạng chăm sóc sức khỏe không tốt.

[33] Tom Cruise: ngôi sao điện ảnh nổi tiếng của Mỹ.

[34] Elie Wiesel (30/9/1928), sinh tại Romania, là một nhà triết học, nhà văn, nhà hoạt động chính trị, nhân đạo người gốc Do Thái và là tác giả của nhiều sách. Những cuốn hồi ký của Elie Wiesel viết về cuộc sống của chính ông trong trại tập trung của Đức Quốc xã. Ông đạt giải Nobel Hòa Bình năm 1986 và Huy chương Wallenberg năm 1990. Ông hiện sinh sống tại Hoa Kỳ và giảng dạy tại Đại học Boston.

[35] Arnold Schwarzenegger: sinh ngày 30/7/1947, là vận động viên thẻ dục thể hình, diễn viên điện ảnh và cũng là chính khách Cộng hòa người Mỹ gốc Áo làm Thống đốc bang California thứ 38.

[36] Martha Stewart (tên thật Martha Helen Kostyra; 3/8/1941) là một doanh nhân người Mỹ, tác giả viết sách, chủ báo, và ngôi sao truyền hình. Bà là người sáng lập nên tổ chức Martha Stewart Living Omnimedia, bà dành được thành công từ nhiều hoạt động đầu tư khác nhau, từ việc xuất bản, làm chương trình truyền hình, buôn bán và thương mại điện tử. Bà viết rất nhiều sách bán chạy và là chủ bút của tạp chí Martha Stewart Living, trong khi chương trình talk show của bà có tên, Martha, được biết đến trên toàn thế giới.

[37] Rem Koolhaas (17/11/1944) sinh ra ở Rotterdam, Hà Lan, nguyên là một phóng viên và nhà biên kịch, đã từng theo học kiến trúc tại Trường Kiến trúc London. Ông là một thành viên chính của hãng thiết kế kiến trúc Office for Metropolitan Architecture, hay OMA, và bộ phận nghiên cứu AMO của hãng. Ông cũng là giáo sư hướng dẫn thực hành về kiến trúc và thiết kế đô thị tại Đại học Harvard. Ông đã được nhận giải thưởng Pritzker năm 2000.

[38] Ariel Sharon (tên thật là Ariel Scheinermann) sinh ngày 27/2/1928 tại Kfar Malai Israel, là thủ tướng thứ 11 của Israel từ tháng 3/2001 đến 4/2006. Ông có 2 đời vợ (cả hai đều đã mất) và 3 người con trai (một người mất năm 1967).

[39] Mick Jagger (26/7/1943 -), một ca sĩ, nhạc sĩ, diễn viên và nhà sản xuất người Anh. Ông nổi tiếng là ca sĩ hát chính của nhóm nhạc rock The Rolling Stones. Ngoài ra, ông còn tham gia sản xuất và thủ vai trong một số bộ phim.

Năm 2011, ban nhạc Maroon 5 và ca sĩ Christina Aguilera thể hiện một bài hát nói về ông – Moves Like Jagger. Sau đó, Mick cũng tham gia góp mặt trong video clip của bài hát này.

[40] Yasir Arafat (Mohammed Abdel Rahman Abdel Raouf Arafat al-Qudwa al-Husseini) (tiếng Ả Rập: محمد عبد الرؤوف عرفات القدوة الحسيني‎, 24/8/1929 – 11/11/ 2004), là một nhà lãnh đạo Palestine và người được trao giải Nobel Hòa bình. Ông là Chủ tịch Tổ chức Giải phóng Palestine (PLO), Tổng thống Chính quyền Quốc gia Palestine (PNA), và lãnh đạo của đảng chính trị Fatah, do ông thành lập năm 1959. Arafat đã dành phần lớn cuộc đời mình đấu tranh chống lại Israel dưới danh nghĩa đòi quyền tự quyết cho người dân Palestine. Ban đầu ông phản đối sự tồn tại của Israel, nhưng ông đã thay đổi quan điểm của mình năm 1988 khi ông chấp nhận Nghị quyết số 242 của Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc.

[41] Susan Sontag (16/1/1933 –28/12/2004) là nhà văn, nhà làm phim, giảng viên đại học, biểu tượng văn học, và nhà hoạt động chính trị người Mỹ. Bắt đầu với việc xuất bản bài luận của mình vào năm 1964, Sontag trở thành nhà văn hóa và học giả nổi tiếng quốc tế. Các tác phẩm được biết đến nhiều của bà bao gồm Nhiếp ảnh (On Photography), Cách chúng ta đang sống (The Way We Live Now), Về nỗi đau của những kẻ khác (Regarding the Pain of Others), Người tình núi lửa (The Volcano Lover) và Ở Mỹ (In America).

Sontag là người viết và phát biểu tích cực, hoặc đi đến, những vùng xung đột, bao gồm cả cuộc Chiến tranh Việt Nam và Vùng chiến sự Siege of Sarajevo. Đề tài của bà rất rộng từ nhiếp ảnh, văn hóa và truyền thông, AIDS và bệnh tật, nhân quyền, và cộng sản và hệ tư tưởng cánh tả. Các bài luận và diễn thuyết mạnh mẽ của bà đôi khi phải gánh chịu sự chỉ trích. Mục Đánh Giá Sách của tờ New York (The New York Review of Books) gọi bà là “một trong những nhà phê bình có ảnh hưởng lớn nhất trong thế hệ của bà.”

[42] Wolfgang Johannes Puck (tên thật Wolfang Johnnes Topfschnig; sinh ngày 8/7/1949) là một đầu bếp nổi tiếng, chủ nhà hàng, doanh nhân và diễn viên nghiệp dư người Áo. Nhà hàng Wolfgang Puck, dịch vụ ẩm thực, sách dạy nấu ăn và các sản phẩm có đăng ký bản quyền khác đều được điều hành bởi Wolfgang Puck Companies, với ba bộ phận chính.

[43] Giáo hoàng John Paul II, tên khai sinh Karol Jozef Wojtyla (18/5/1920 – 2/4/2005) là vị giáo hoàng thứ 264 của Giáo hội Công giáo Rome và là người lãnh đạo tối cao của Vatican kể từ ngày 16/10/1978. Cho đến khi qua đời, triều đại của ông kéo dài hơn 26 năm và trở thành triều đại giáo hoàng dài thứ hai trong lịch sử hiện đại, sau chiều đại dài 32 năm của Giáo hoàng Pior IX. Cho đến hiện tại, ông là vị giáo hoàng duy nhất người Ba Lan và là giáo hoàng đầu tiên không phải người Ý trong gần 500 năm, kể từ Giáo hoàng Adriano VI năm 1520. Ông được tạp chí TIME bình chọn là một trong bốn người có ảnh hưởng lớn nhất thế kỷ 20 và cả những năm đầu thế kỷ 21.

[44] Marilyn Monroe (1/6/1926 – 5/8/1962), tên thật là Norma Jeane Mortensen, là nữ diễn viên, biểu tượng sex và hình tượng pop nổi tiếng của nước Mỹ thế kỷ 20.

[45] Mohammed Mohamed el-Amir Awad el-Sayed Atta (محمد محمد الأمير عوض السيد عطا‎, Muḥammad Muḥammad al-Āmir ‘Awaḍ as-Sayyid ‘Aṭā; 1/9/1968 –11/9/2001) là một tên không tặc người Ai Cập và một trong những tên đầu sỏ của vụ tấn công 11/9 trong vai trò không tặc-phi công lái chiếc máy bay American Airlines 11, lái máy bay đâm thẳng vào tòa Tháp Bắc của Khu Trung tâm Thương mại Quốc tế gây ra cái chết của gần 3000 người.

//

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: