Extremely Loud & Incredibly Close (13)

Image

NẶNG LÒNG 

NẶNG LÒNG HƠN (1)

Cái cuối tuần thứ mười hai tiếp theo là buổi công diễn đầu tiên của vở Hamlet, một phiên bản rút gọn thời hiện đại, bởi vở Hamlet thực thụ thì quá dài và quá khó hiểu, và hầu hết lũ trẻ con trong lớp tôi có biểu hiện của triệu chứng ADD[1]. Ví dụ như thế này nhé, cái câu nói nổi tiếng, “Tồn tại hay không tồn tại,” mà tôi biết được từ hồi đọc trong bộ Tuyển tập Shakespeare của Bà nội tặng ấy mà, đã bị chế ra thành, “Tồn tại hay không tồn tại, đó là một câu hỏi.”

Ai cũng có vai diễn của mình cả, nhưng không hẳn là vai diễn, và tôi không có mặt trong buổi thử vai bởi vì tôi cảm thấy rất khó chịu nếu phải đến trường vào ngày hôm ấy, nên rốt cục tôi được phân vào vai Yorick[2]. Đầu tiên thì chuyện ấy làm cho tôi phát hoảng. Tôi có gợi ý với cô giáo Rigley rằng có lẽ là tôi chỉ nên chơi lục lạc trong dàn nhạc hay là cái gì đó tương tự thôi. Nhưng cô ấy cứ khăng khăng, “Chẳng có dàn nhạc nào đâu.” Tôi chỉ còn biết đáp lại rằng, “Em vẫn bảo toàn ý kiến của mình ạ.” Cô ấy bảo, “Vai diễn này sẽ hay lắm đấy. Em sẽ diện toàn đồ đen thật oách, rồi nhóm hoá trang sẽ vẽ cho tay và cổ em thật là đen, và nhóm phục trang sẽ thiết kế hẳn một cái đầu lâu bằng giấy bột cho em trùm lên đầu. Nó sẽ tạo ra hiệu ứng rằng em không hề có phần cơ thể bên dưới.” Tôi suy nghĩ về ý tưởng ấy trong một phút, rồi thì tôi đưa ra một ý kiến còn hay ho hơn nhiều. “Theo em thì, em sẽ tạo ra một bộ đồ tàng hình có gắn máy quay ở sau lưng mà có thể ghi lại hình ảnh của mọi thứ phía sau em và chiếu nó lên màn hình phẳng em đeo ở trước ngực, mà sẽ che khuất tất mọi thứ trừ mặt em ạ. Như thế thì sẽ giống như là em đang tàng hình thật ấy.” Cô ấy trả lời, “Không tồi một chút nào.” Tôi bảo với cô ấy, “Nhưng mà Yorick mà cũng là một vai diễn ấy ạ?” Cô ấy thì thầm vào tai tôi, “Sao không, cô còn sợ là em sẽ thống trị cả sân khấu mất thôi.” Và vì thế mà tôi rất nóng lòng được vào vai Yorick.

Đêm khai màn thật tuyệt. Chúng tôi có một cái máy tạo sương hẳn hoi, nên nghĩa địa trông hệt như nghĩa địa mà ta vẫn thường thấy trong những bộ phim. “Lạy thánh Alas, ôi Yorick khốn khổ!” Jimmy Snyder nói, ôm lấy mặt tôi, “Ta hiểu gã rất rõ, Horatio[3] ạ.” Tôi không đeo cái màn hình phẳng, bởi vì ngân sách eo hẹp dành cho trang phục không trang trải nổi vụ này, nhưng từ bên trong cái đầu lâu tôi có thể nhìn ra xung quanh mà không ai biết. Tôi nhìn thấy có rất nhiều người tôi biết, và điều ấy khiến tôi cảm thấy mình thật đặc biệt. Mẹ và chú Ron và Bà nội đều có mặt, dĩ nhiên rồi. Còn có cả thằng bạn vàng Kem Đánh Răng cùng với hai bác Hamilton, họ ấy mà đều là những người cực tử tế, hai bác nhà Minch nữa, cũng có mặt bởi vì thằng Ẻo Lả[4] thì vào Guildenstern[5]. Rất nhiều người họ Black mà tôi đã gặp trong suốt mười hai tuần qua đều có mặt hôm ấy. Có cô Abe. Ada và Agnes. (Họ thực sự ngồi cạnh nhau, dầu họ không nhận ra điều ấy.) Tôi trông thấy Albert và Alice và Allen và Arnold và Barbara và Barry. Tất cả bọn họ phải chiếm tới một nửa số ghế. Nhưng điều kì khôi nhất lại là họ không hề biết rằng bọn họ đều có một điểm chung, gần giống như là việc tôi cũng không biết rằng cái đinh bấm, cái bìa bị bẻ cong, mẩu giấy nhôm hình vuông, và tất cả những thứ khác mà tôi đào lên được từ Central Park đều có điểm tương đồng.

Tôi hồi hộp kinh lên được, nhưng tôi vẫn tràn đầy tự tin, và cũng tự chủ nữa. Tôi biết thế, bởi vì khi tiếng vỗ tay dậy lên, thì tôi cảm thấy như thể đáng giá nghìn vàng.

Buổi diễn thứ hai cũng rất tuyệt. Mẹ có mặt, nhưng chú Ron phải tăng ca. Cũng chẳng sao, bởi vì tôi cũng nào có muốn chú ấy tới đâu cơ chứ. Bà nội cũng tới, dĩ nhiên là phải vậy rồi. Tôi không còn trông thấy một người mang họ Black nào nữa hết, nhưng tôi biết rằng hầu hết mọi người chỉ đến xem kịch có một lần nếu như họ không phải là bố mẹ ta, nên tôi cũng chẳng lấy làm phiền lòng cho lắm. “Lạy thánh Alas, ôi Yorick khốn khổ. Ta hiểu gã rất rõ, Horatio ạ; một kẻ vui tính và suất sắc. Gã từng cong ta trên lưng gã suốt, và lúc này, thật đau khổ khi nghĩ tới điều đó!”

Chỉ có mỗi Bà nội là đến dự buổi diễn vào tối tiếp theo. Mẹ có buổi họp vào giờ muộn bởi vì khách hàng của mẹ sắp phải ra toà, và tôi không hỏi thăm về Ron bởi vì tôi cảm thấy xấu hổ, và tôi thì cũng chẳng mong chú ấy đến đây làm gì cả. Trong lúc cố gắng đứng yên, cùng với bàn tay của Jimmy Snyder đặt trên cằm tôi, tôi băn khoăn, Mục đích của việc tổ chức những buổi diễn như này là gì nếu về cơ bản là chẳng có ai thèm đến xem mình diễn nhỉ?

Bà nội không ghé qua hậu trường để chào tôi trước buổi biểu diễn vào đêm tiếp theo, hoặc chào tạm biệt vào lúc sau đó, nhưng tôi vẫn trông thấy Bà. Qua lỗ khoét mắt của chiếc mặt nạ tôi có thể thấy Bà đứng cuối phòng tập thể dục, ngay dưới cái lưới bóng rổ. Lớp phấn trang điểm của Bà phản quang một cách kỳ lạ dưới ánh đèn, khiến Bà trông rất tím. “Lạy thánh Alas, ôi Yorick tội nghiệp.” Tôi vẫn cố gắng đứng thật yên trên sân khấu, và suốt lúc ấy tôi cứ nghĩ, Liệu có phiên bản nào lại quan trọng hơn cả vở kịch vĩ đại nhất trong lịch sử?

Buổi diễn tiếp theo vẫn chỉ có mình Bà nội. Bà khóc toàn vào những lúc không đáng khóc và cười vào những lúc không đáng cười. Bà vỗ tay hoan hô khi những khán giả khác nhận tin Ophelia[6] vừa bị ngộp nước, mà đáng lý ra phải một tin tức xấu, và Bà la ó khi Hamlet ghi điểm đầu tiên trong trận đấu tay đôi với Laertes[7] lúc cuối vở, mà là điều tốt, vì lý do rất hiển nhiên.

“Đấy từng là đôi môi mà ta từng hôn rất nhiều lần. Tất cả những câu truyện cười, những trò chơi, những bài hát đã đi đâu mất rồi?”

Sau cánh gà, trước đêm diễn cuối cùng, Jimmy Snyder đóng giả điệu bộ của Bà nội trước toàn thể dàn diễn viên và nhân viên hậu trường. Tôi đoán là tôi đã không nhận ra rằng Bà đã gây chú ý tới nhường nào. Tôi rất giận bản thân vì để ý tới điều đó, nhưng thực ra là tôi đã sai, đấy là lỗi của Bà đấy chứ. Bởi vì mọi người đều ấn tượng với những cử chỉ ấy. Jimmy bắt chiếc Bà rất giống – cái cách mà Bà đập mạnh bàn tay trái mỗi khi có điều gì đó gây buồn cười, như thể có một con ruồi đang vo ve ngay trước mặt Bà vậy. Hay là cái lối Bà nghiêng đầu, như thể Bà đang rất chú tâm vào một chuyện gì đó, và cả khi Bà hắt xì hơi và lẩm bẩm “Lạy trời phù hộ.” Và rồi cả những khi Bà than vãn, “Ôi buồn quá,” và tất cả mọi người đều nghe thấy được.

Tôi ngồi đó khi nó làm cho tất cả lũ bạn bò ra mà cười. Ngay cả cô Rigley cũng cười, và cả chồng cô ấy nữa, người đảm nhiệm việc đệm đàn dương cầm vào những lúc thay đổi cảnh diễn. Tôi không hề nhắc đến việc người ấy là bà nội mình, và tôi cũng chẳng bảo nó hãy dừng lại. Ngoài mặt, cả tôi cũng cười như điên. Trong lòng, tôi ước sao Bà có thể được đem giấu đi trong một cái túi di động, hoặc là Bà cũng có riêng một bộ quần áo tàng hình. Tôi ước sao hai chúng tôi có thể đi đến một nơi nào đó thật xa, như Quận Sáu chẳng hạn.

Đêm đó Bà cũng có mặt, ở hàng ghế sau, dù cho chỉ có ba hàng ghế đầu là kín người. Tôi nhìn Bà qua cái mặt nạ đầu lâu. Bà đặt tay mình lên trái tim màu tím sậm, và tôi có thể nghe thấy Bà đang nói, “Buồn quá. Ôi sao mà buồn quá.” Tôi cứ nghĩ về cái khăn quàng chưa được đan xong, và hòn đá mà Bà vác về cho tôi từ Broadway, và cả việc Bà đã sống một đời người mà vẫn cần phải có một người bạn tưởng tượng cho riêng mình, và cả hàng ngàn trận vật ngón tay cái kia nữa.

MARGIE CARSON. Này, Hamlet, Polonius[8] đâu?

JIMMY SNYDER. Bữa ăn khuya.

MARGIE CARSON. Ăn khuya! Ở đâu?

JIMMY SNYDER. Không phải là ăn ở đâu, mà là bị ăn ở đâu.

MARGIE CARSON. Ôi!

JIMMY SNYDER. Một vị vua có thể có kết thúc trong dạ dày của một tên ăn mày.

Tôi cảm thấy, vào tối đó, trên sân khấu, dưới chiếc mặt nạ đầu lâu, thật gần gụi với vạn vật trong vũ trụ này, nhưng cũng vô cùng cô độc. Tôi lo lắng, lần đầu tiên trong đời mình, nếu như cuộc sống này thật sự xứng đáng với mọi nỗ lực mà ta bỏ ra để duy trì nó. Chính xác thì điều gì khiến nó có ý nghĩa đến thế? Điều gì khiến cho việc chết đi, và không còn cảm thấy gì nữa, và ngay cả không mơ mộng gì nữa lại khủng khiếp đến vậy? Việc cảm nhận và mơ mộng thì có gì mà ghê gớm đến thế?

Jimmy đặt bàn tay của nó lên mặt tôi. “Đấy từng là đôi môi mà ta đã từng hôn rất nhiều lần. Tất cả những câu truyện cười, những trò chơi, những bài hát đã đi đâu mất rồi?”

Có thể là bởi tất cả những gì đã từng xảy ra trong suốt mười hai tuần trước đó. Hoặc cũng có thể là bởi tôi cảm thấy thật gần gũi và cô đơn trong đêm đó. Tôi không thể nào chết lâu hơn được nữa.

TÔI. Lạy thánh Alas, ôi Hamlet tội nghiệp [Tôi với tay ôm lấy khuôn mặt của JIMMY SNYDER]; tôi có biết gã, Horatio ạ.

JIMMY SNYDER. Nhưng mà Yorick… mi chỉ là… một cái đầu lâu.

TÔI. Thì sao ? Tao chẳng quan tâm. Kệ mày.

JIMMY SNYDER. [thì thầm] Cái này đâu có trong lời thoại. [Nó nhìn cô RIGLEY cầu cứu, lúc này đang ngồi ở hàng ghế đầu, lật các trang kịch bản như điên. Cô ấy vẽ các vòng tròn bằng bàn tay phải trong không khí, mà theo ngôn ngữ ký hiệu toàn cầu thì có nghĩa là “tuỳ cơ ứng biến.”]

TÔI. Tao biết gã, Horatio ạ; một thằng khốn ngu cực, một thằng siêu thủ dâm trong phòng vệ sinh nam ở tầng hai – tao có bằng chứng mà. Với cả, bị mắc chứng khó đọc.

JIMMY SNYDER. [Chẳng nghĩ ra được gì để nói.]

TÔI. Sự chế nhạo, sự nô đùa nhảy nhót, và mấy bài hát của mày đâu rồi hả?

JIMMY SNYDER. Mày đang nói gì thế?

TÔI. [Với tay lên bảng ghi điểm] Món mứt mơ nhé con chó xpannhơ[9] dối trá yêu quý của tao![10]

JIMMY SNYDER. Hả?

TÔI. Mày có tội vì đã hành hạ những đứa yếu hơn mày: vì đã khiến cho cuộc sống của những đứa mọt sách như tao và Kem Đánh Răng và Thằng Ẻo Lả gần như là không thể chịu đựng nổi, vì đã chế nhạo những đứa bị thiểu năng trí tuệ, vì đã đùa cợt những người không có điện thoại, vì đã khủng bố những con thú nuôi và người giả cả – những người mà, dầu sao, cũng thông minh và có trí tuệ hơn mày – vì đã chế nhạo tao chỉ bởi vì tao nuôi một con mèo cái… Mà tao thì cũng coi mày chẳng ra cái đinh gỉ gì,

JIMMY SNYDER. Tao chẳng bao giờ thèm ghẹo bọn thiểu năng cả.

TÔI. Mày là đồ con nuôi.

JIMMY SNYDER. [Ngó tìm ba mẹ nó trong đám khán giả]

TÔI. Chẳng có ai thèm yêu mày cả.

JIMMY SNYDER. [Mắt nó ngấn nước]

TÔI. Và mày còn bị chứng teo cơ xơ cứng.

JIMMY SNYDER. Hả?

TÔI. Nhân danh những người đã chết… [Tôi tháo cái mặt đầu lâu ra khỏi đầu. Dù được làm bằng giấy bột thì tôi cũng phải chật vật lắm mới thoát được khỏi nó. Tôi đập nó vào đầu thằng JIMMY SNYDER, và đập thêm một cái nữa. Thằng đấy ngã vật xuống sàn, bởi vì nó bị bất tỉnh nhân sự, và tôi không tin nổi tôi lại khoẻ thế. Tôi đập vào đầu nó lần nữa và nữa bằng hết sức bình sinh và máu bắt đầu tuôn ra từ hai lỗ mũi và tai của nó. Nhưng tôi vẫn chẳng cảm thấy thương nó một tẹo nào. Tôi mong nó chảy máu, bởi thằng đấy đáng bị như thế. Và những thứ khác thì chỉ là con muỗi. BA không có nghĩa gì cả. MẸ không có nghĩa gì cả. KHÁN GIẢ cũng chẳng nghĩa lý gì. Những cái ghế xếp và cái máy tạo sương và cả cái đám sương mù kia nữa cũng thành ra vô nghĩa nốt. Mà bản thân Shakespeare cũng vô nghĩa không kém. Những ngôi sao mà tôi biết đang lơ lửng trên trên nóc nhà tập thể dục, cũng vô nghĩa. Điều duy nhất có nghĩa vào lúc này là đập vào mặt thằng JIMMY SNYDER. Máu của nó. Tôi đập vỡ cả đống răng của nó bên trong mồm nó, và tôi nghĩ chúng sẽ rơi vào trong vòm họng nó mất. Máu chảy khắp nơi, lênh láng cả ra. Tôi tiếp tục đập cái mặt nạ đầu lâu vào cái sọ của nó, mà cũng là cái đầu của chú RON (vì đã để cho MẸ tiếp tục với cuộc sống) và hộp sọ của MẸ (vì đã có thể sống tiếp) và hộp sọ của BA (vì đã chết) và hộp sọ của BÀ NỘI (vì đã làm tôi phải xấu hổ vô số lần) và hộp sọ của BÁC SĨ FEIN (vì dám hỏi tôi rằng cái chết của BA có mang tới cho tôi điều tốt đẹp nào không) và cả hộp sọ của tất cả những người tôi có quen biết khác. Có tiếng KHÁN GIẢ vỗ tay giòn giã, bởi vì tôi đã làm cho sự việc trở nên vô cùng ý nghĩa. Họ đứng hết cả dậy mà tung hô tôi trong khi tôi tẩn nó liên tiếp. Tôi nghe thấy tiếng họ gọi]

KHÁN GIẢ. Cám ơn! Cám ơn, Oskar! Chúng tôi yêu cậu. Chúng tôi sẽ bảo vệ cậu!

Thật là một khoảnh khắc tuyệt vời.

Tôi nhìn xuyên suốt đám khán giả từ bên dưới cái đầu lâu, với cái tay của thằng Jimmy đặt dưới cằm tôi. “Lạy thánh Alas, ôi Yorick khốn khổ” Tôi nhìn thấy Abe Black, và anh ấy cũng nhìn thấy tôi. Tôi biết rằng chúng tôi đang chia sẻ một điều gì đó qua ánh mắt, nhưng tôi không biết được điều đó là gì, và tôi không biết điều ấy có thực hay không.

Mười hai tuần trước đó tôi đã tới gặp Abe Black ở Coney Island[11]. Tôi là kẻ tuân thủ tối đa chủ nghĩa hoàn hảo, nhưng tôi cũng biết rằng tôi không thể đi bộ một quãng đường xa đến thế, vì vậy tôi vẫy một chiếc taxi. Dù trước đó chúng tôi đã từng rời khỏi khu Manhattan, tôi nhận ra rằng $7.68 trong túi là không đủ để trang trải tiền xe cộ. Tôi không biết liệu việc không hé một lời về chuyện ấy thì có bị tính là một lời nói dối hay không. Chỉ là tôi biết rõ rằng tôi cần phải tới đó, và quả thực là không còn sự lựa chọn nào khác. Khi chiếc taxi đỗ lại, đồng hồ tính tiền hiện lên con số $76.50. Tôi nói với bác tài, “Bác Mahaltra ạ, liệu bác là một người lạc quan hay là bi quan thế?” Bác ấy nói, “Cái gì cơ?” Tôi trả lời, “Bởi vì thật xui là cháu có mỗi bảy đô la và sáu mươi tám xen trong túi.” “Bảy đô á?” “Và sáu mươi tám xen ạ.” “Không thể có chuyện ấy được.” “Thật không may là có đấy ạ. Nhưng nếu như bác để lại địa chỉ, thì cháu hứa danh dự là sẽ trả lại tiền cho bác đầy đủ.” Bác ấy gục đầu xuống vô lăng. Tôi hỏi thăm rằng liệu bác ấy vẫn ổn chứ. Bác ấy bảo, “Cháu cứ giữ lại bảy đô la và sáu mươi tám xen ấy đi.” Tôi nói, “Cháu hứa là cháu sẽ trả tiền cho bác. Cháu hứa đấy ạ.” Bấc ấy đưa cho tôi một tấm danh thiếp, mà thực ra là danh thiếp của một ông bác sĩ nha khoa nào đó, nhưng bác đã viết địa chỉ của mình ra mặt sau tấm thiệp. Rồi bác ấy nói cái gì đó bằng thứ ngôn ngữ nào đó mà không phải là tiếng Pháp. “Bác có ghét cháu không ạ?”

Đương nhiên là tôi phát gớm với cái trò tàu lượn siêu tốc, nhưng anh Abe cứ thuyết phục tôi chơi một lần với anh ấy. “Em mà không lượn thử con tàu Cyclone này trước khi chết là nhục lắm đấy nhé,” anh ấy thuyết phục tôi. “Chết là nhục rồi anh ạ,” tôi trả lời. “Ừ,” anh ấy đồng ý, “nhưng mà với Cyclone thì em có thể thay đổi đoạn kết đi một chút.” Chúng tôi ngồi ngay đầu, và anh Abe giang tay lên không trung ở những đoạn đổ dốc. Tôi sợ hãi không biết kết cục của tôi sẽ ra sao nếu như cái tàu lượn này bỗng nhiên rơi xuống đất.

Trong đầu tôi, tôi cố tính cho ra tất cả các ngoại lực giữ cho cái tàu lượn này ở trên đường ray mà bao gồm cả tôi ở bên trong nữa. Dĩ nhiên là phải có lực hấp dẫn rồi. Và lực ly tâm. Và xung lượng. Và lực ma sát giữa bánh xe và đường ray. Và lực cản của gió, tôi nghĩ, hay cái gì tương đương vậy. Ba từng dạy tôi môn vật lý với một cái bút sáp trên tờ giấy trải bàn trong lúc chúng tôi chờ món bánh kếp. Ba là người có năng lực giải thích mọi thứ chuyện trên đời.

Mùi đại dương thật lạ, và cả thức ăn mà họ bày bán ở lối đi có ván lót dọc theo bãi biển nữa, như là bánh ngọt hình tàu thuỷ và kẹo bông và xúc xích. Đó gần như là một ngày hoàn hảo, ngoại trừ việc anh Abe không biết gì về chiếc chìa khoá hoặc về Ba. Anh ấy nói sẽ lái xe vào khu Manhattan và có thể cho tôi đi nhờ nếu muốn. Tôi bảo anh, “Em không ngồi xe người lạ bao giờ, và làm sao mà anh biết em sẽ đi về Manhattan?” Anh ấy trả lời, “Chúng ta đâu phải người lạ, và anh cũng chẳng biết vì sao mình biết nữa.” “Anh có lái xe SUV[12] không ạ?” “Không.” “Tốt. Thế anh có xe hybrid[13] chạy bằng ga và điện không?” “Anh không.” “Chán thật.”

Ở trong ô tô tôi kể cho anh ấy nghe toàn bộ việc làm thế nào mà tôi sẽ đi gặp tất cả những người ở New York có tên họ là Black. Anh ấy nói, “Anh hiểu, bởi vì anh cũng từng rơi vào hoàn cảnh gần như vậy, khi con chó của anh bị lạc lúc trước. Nó là con chó hay nhất thế giới. Anh không thể yêu thương nó hơn hay đối xử với nó tốt hơn được nữa. Nó cũng không muốn bỏ đi đâu. Nó chỉ đơn giản là bối rối, và đi theo một thứ rồi một thứ khác.” “Nhưng mà ba em đâu có bỏ đi,” tôi phản bác. “Ông ấy bị sát hại trong một cuộc tấn công khủng bố.” Anh Abe nói, “Anh đồng ý với em.” Anh ấy đi cùng tôi đến trước cửa căn hộ của Ada Black, dù tôi đã bảo với anh ấy rằng tự tôi làm được điều đó. “Anh sẽ cảm thấy an tâm hơn nếu biết chắc rằng em tới đây an toàn,” anh ấy trả lời, như lời Mẹ vẫn thường nói với tôi vậy.

Ada Black sở hữu hai bức hoạ của Picasso. Cô ấy không biết gì về chiếc chìa khoá, và các bức tranh chẳng có nghĩa gì với tôi hết, dù tôi biết là chúng rất nổi tiếng. Cô ấy nói rằng tôi có thể ngồi trên ghế phô tơi nếu muốn, nhưng tôi bảo cô rằng tôi không tin lắm vào chất liệu da, nên tôi thích đứng hơn. Căn hộ của cô là căn hộ tuyệt vời nhất mà tôi từng chứng kiến. Nền nhà giống như một bàn cờ bằng đá cẩm thạch, và trần nhà thì như những chiếc bánh ngọt. Mọi thứ đều có vẻ như thuộc về một bảo tàng nào đó, nên tôi chụp lại vài tấm hình bằng cái máy ảnh của Ông nội. “Có thể đây là một câu hỏi bất lịch sự, nhưng cô có phải là người giàu nhất thế giới không ạ?” Cô ấy chạm tay vào cái chao đèn và trả lời, “Cô là người giàu thứ 467 trên thế giới.”

Tôi hỏi cô rằng cô cảm thấy thế nào khi biết rằng có những người không nhà cửa và cả những triệu phú đang sống trong cùng một thành phố. Cô ấy nói, “Cô làm từ thiện rất nhiều, nếu đó là những gì mà cháu quan tâm.” Tôi bảo cô là tôi chẳng quan tâm gì cả, và rằng tôi chỉ muốn biết cô thấy thế nào mà thôi. “Cô thấy bình thường,” cô ấy nói, và cô ấy hỏi tôi rằng tôi muốn uống gì. Tôi muốn uống cà phê, và cô ấy gọi ai đó từ phòng bên cạnh mang cà phê ra, và rồi tôi hỏi cô rằng cô có cho rằng có thể không một ai nên có nhiều hơn một số tiền nào đó cho tới khi tất cả mọi người đều có được con số ấy hay không. Đó là ý tưởng mà Ba từng đề cập với tôi. Cô ấy trả lời, “Cuộc sống ở khu Upper West Side cũng không hề miễn phí, cháu biết đấy.” Tôi hỏi cô làm sao cô biết được rằng tôi sống ở khu Upper West Side. “Cháu có sở hữu những thứ mà cháu không cần đến không?” “Không hẳn ạ.” “Cháu có sưu tầm tiền xu không?” “Sao cô biết cháu sưu tầm tiền xu?” “Rất nhiều bạn trẻ thích sưu tầm thứ ấy mà.” Tôi bảo cô, “Cháu cần chúng ạ.” “Vậy cháu có cần chúng như những người vô gia cư cần thức ăn hay không?” Câu chuyện này bắt đầu khiến tôi cảm thấy bối rối. Cô ấy nói, “Thế cháu có nhiều thứ hơn cháu cần hay không, hay là hơn mức cháu không cần hay không?” Tôi trả lời, “Điều ấy còn phụ thuộc vào việc ta định nghĩa sự cần thiết là gì nữa.”

Cô ấy nói, “Tin hay không tuỳ cháu, cô đã từng là một người theo chủ nghĩa duy tâm.” Tôi hỏi cô “duy tâm” nghĩa là gì. “Nghĩa là cháu sống theo những gì mà cháu tin là đúng.” “Cô không làm thế nữa ạ?” “Có những câu hỏi mà cô không đặt ra cho mình nữa.” Một người phụ nữ Mỹ gốc Phi bưng ra cho tôi một tách cà phê trên chiếc khay bằng bạc. Tôi bảo với chị ấy, “Bộ đồng phục của chị rất đẹp.” Chị ấy ngước mắt nhìn Ada. “Thật đấy ạ,” tôi nói. “Em nghĩ là màu xanh rất, rất là hợp với chị.” Chị ấy vẫn nhìn cô Ada, lúc này nói, “Cám ơn cô, Gail.” Khi chị ấy bước vào gian bếp, tôi nói với theo, “Gail là một cái tên thật đẹp.”

Khi chỉ còn lại hai chúng tôi, cô Ada nói với tôi, “Oskar này, cô nghĩ cháu đã làm chị Gail cảm thấy không thoải mái đấy.” “Ý cô là sao ạ?” “Cô cho là chị ấy cảm thấy xấu hổ.” “Cháu chỉ cố tỏ ra thân thiện thôi ạ.” “Có thể là cháu đã hơi cố gắng quá.” “Làm sao mà cô có thể quá cố gắng để to ra tử tế được?” “Sự nỗ lực của cháu hơi mang vẻ hạ cố” “Nghĩa là gì ạ?”  “Cháu nói chuyện với chị ấy như thể chị ấy là trẻ con ấy.” “Không đâu, cháu đâu có ý ấy.” “Chẳng việc gì phải xấu hổ khi là một người giúp việc cả. Chị ấy đang làm một công việc nghiêm túc, và cô không hề bạc đãi chị ấy.” Tôi nói, “Cháu chỉ muốn tỏ ra thân thiện thôi mà.” Và rồi tôi băn khoăn, Mình đã giới thiệu mình là Oskar với cô ấy chưa ấy nhỉ?

Chúng tôi đều không nói gì mất một lúc. Cô ấy nhìn ra ngoài khung cửa sổ, như thể cô ấy đang đợi chờ gì đó từ phía Central Park. Tôi hỏi, “Cháu có thể ngó nghiêng căn hộ của cô không ạ?” Cô ấy bật cười và nói, “Cuối cùng thì cũng có người nói ra điều mình đang nghĩ.” Tôi nhìn quanh một chút, và có quá nhiều phòng nên tôi băn khoăn rằng liệu có phải bên trong căn hộ lớn hơn nhiều so với vẻ bên ngoài của nó. Nhưng tôi không tìm ra một manh mối nào cả. Khi tôi quay trở lại cô ấy hỏi liệu tôi có muốn dùng bánh mì kẹp loại nhỏ không, và điều này làm cho tôi phát hoảng nhưng tôi đã rất lịch sự và trả lời, “Jose.” “Gì cơ?” “Jose.” “Cô xin lỗi. Nhưng cô không hiểu thế nghĩa là gì.” “Jose. Như là, ‘Không đâu …’” Cô ấy tiếp lời tôi, “Tôi biết tôi là ai.” Tôi gật đầu, như thể tôi biết cô ấy đang nói gì hoặc như là điều ấy chẳng liên quan gì. “Cho dù nếu như cô không thích con người cô, cô vẫn biết mình là ai. Con cái cô thích thú với chính mình, nhưng chúng không tự biết mình là ai. Vậy theo cháu thì điều nào tệ hơn.” “Lựa chọn gì ấy ạ?” Cô ấy bật cười và nói, “Cô thích cháu rồi đấy.”

Tôi cho cô xem chiếc chìa khoá, nhưng cô ấy chưa từng nhìn thấy nó trước đó, và không thể cho tôi biết điều gì về nó cả.

Cho dù tôi bảo với cô ấy rằng tôi không cần giúp đỡ, nhưng cô ấy vẫn bắt người giữ cửa hứa rằng sẽ gọi taxi cho tôi. Tôi bảo với cô ấy rằng tôi không có đủ tiền ngồi taxi đâu. Cô ấy trả lời, “Nhưng cô thì có.” Tôi trao cho cô ấy danh thiếp của mình. Cô ấy nói, “Chúc cháu may mắn nhé,” và vuốt má tôi, và thơm đỉnh đầu tôi.

Đó là ngày thứ Bảy, và là một ngày đáng thật vọng.


[1] ADD – Attention Deficit Disorder: chứng rối loạn khả năng tập trung

[2] Yorick là tên một nhân vật trong vở kịch Hamlet của đại thi hào William Shakespeare. Đó là một anh hề trong cung điện đã chết mà chiếc đầu lâu bị một người đào mộ khai quật trong Hồi 5, Cảnh 1, của vở kịch. Hình ảnh về chiếc đầu lâu của Yorick đã khơi gợi một đoạn cảm thán của Hoàng tử Hamlet trước cái chết:

“Lạy thánh Alas, ôi Yorick khốn khổ! Ta có biết gã, Horatio ạ; một kẻ ưa nói giỡn, rặt những mẩu chuyện tuyệt vời; gã đã cõng ta trên lưng gã đến cả ngàn lần; và làm sao, làm sao mà điều ấy lại trở nên ghê gớm đến vậy trong tâm tưởng ta! Ruột gan ta lộn hết cả lên bởi vì điều đó. Ôi chỗ này đã từng là đôi môi mà ta vẫn hằng hôn. Giờ thì những lời giễu cợt của ngươi đã đi đâu hết? Rồi cả những điệu vũ ngày nào? Và cả những bài ca kia nữa? Rồi cả cái vẻ hớn hở loé lên, khiến cả bàn tiệc tưng bừng rộn rã?”

Câu đầu tiên thường hay bị nhớ nhầm thành, “Trời, ôi Yorick khốn khổ! Ta hiểu gã rất rõ!”

[3] Horatio là một nhân vật trong vở kịch Hamlet. Một người bạn của Hoàng tử Hamlet tới từ Học viện Wittenberg, xuất xứ của Horatio không hề được nhắc đến, nhưng rõ là một kẻ nghèo và hiện diện trong trận chiến mà cha của Hamlet đánh bại “một Na Uy tham vọng.” Trong vở kịch, vai trò của Horatio không thực sự rõ ràng, nhưng được đơn giản nhắc đến là “bằng hữu của Hamlet.”

[4] Ẻo lả: một kiểu chơi chữ của thằng Oskar khi gọi ông bạn vàng là The Minch (thằng Ẻo Lả) trong khi từ “minch” trong tiếng Anh có nghĩa là “ẻo lả”

[5] Guildenstern là nhân vật trong vở kịch Hamlet. Đây là cận thần mà đức vua cử tới để giám sát Hamlet, đã lợi dụng lớp vỏ bọc bạn bè để chiếm lòng tin của chàng.

[6] Ophelia là một nhân vật trong vở kịch Hamlet. Nàng là một nữ quý tộc trẻ người Đan Mạch, con gái của Polonius, em gái của Laertes, và là hôn thê của Hoàng tử Hamlet. Là một trong số ít các vai nữ của vở kịch, nàng được khắc hoạ hoàn toàn đối lập so với nhân vật phụ mẫu của Hamlet, nàng Gertrude.

[7] Laertes, nhân vật trong vở Hamlet. Tên của hắn được lấy cảm hứng từ người cha của Odysseus trong tác phẩm Odyssey của Homer. Laertes là con trai của Polonius và là anh trai của Ophelia. Trong cảnh cuối cùng, hắn sát hại Hamlet bằng một thanh gươm tẩm độc để trả thù cho cái chết của cha và em gái mình, mà hắn cho là do lỗi của Hamlet.

[8] Polonius, nhân vật trong tác phẩm Hamlet. Ông ta là cố vấn lớn nhất của nhà vua, và là cha của Laertes cùng Ophelia. Polonius đã đồng loã với Claudius trong việc theo dõi Hamlet. Sự việc Hamlet lỡ tay sát hại Polonius, đã bức điên Ophelia và dẫn đến cái chết của nàng và cao trào của vở kịch: trân đấu tay đôi giữa Laertes và Hamlet.

[9] xpanhơ (spaniel): giống chó có lông mượt, tai to cụp thõng xuống

[10] Nguyên văn: Succotash my cocker spaniel, you fudging crevasse-hole dipshiitake!, mà dịch ra ngôn ngữ loài người phải là “Suck my cock spaniel, you fucking crevasse-hole shit!” (Mút dái tao ấy thằng bợ đít dối trá!)

[11] Coney Island được biết đến nhiều nhất bởi khu vui chơi giải trí và khu nghỉ dưỡng khổng lồ. Nơi này đạt được lượng khách ghé thăm nhiều nhất trong suốt nửa đầu của thế kỷ 20, giảm dần sự nổi tiếng sau Thế Chiến 2, và các năm về sau. Trong những năm gần đây, khu vực này đã chứng kiến sự khánh thành sân vận động MCU Park và trở thành đại bản doanh của đội bóng chày Brooklyn Cyclones.

[12] SUV (Sport Utility Vehicle): Xe thể thao đa dụng. Một loại xe gia đình với khung xe là khung xe tải nhẹ. Người tiêu dụng ưa chuộng xe SUV bởi các đặc điểm như: xe cao và dáng chắc chắn tạo cảm giác an toàn, diện tích rộng thích hợp với gia đình, tiết kiệm xăng mà vẫn có thể chạy trên nhiều địa hình với tốc độ cao như nhiều loại xe du lịch khác. Một số loại SUV phổ biến: Land Rover Freelander, Toyota RAV4, Nissan XTRAIL, BMW X5, LEXUS RX400H, Porsche Cayenne…

[13] Xe hybrid, thường được gọi là xe lai hay xe lai điện, là loại xe sử dụng hai nguồn động lực: Động cơ đốt trong và động cơ điện. Sự hoạt động của xe này là sự kết hợp hoạt động giữa động cơ đốt trong và động cơ điện sao cho tối ưu nhất. Một bộ điều khiển sẽ quyết định khi nào động cơ đốt trong hoạt động, khi nào động cơ điện hoạt động và khi nào cả hai cùng hoạt động. Thật bất ngờ rằng, khái niệm xe lai điện là rất cũ như xe hơi. Mục đích cơ bản của xe lai là mặc dù nó không tiết kiệm được nhiều nhiên liệu nhưng chủ yếu để hỗ trợ sự hoạt động của động cơ đốt trong ở mức hiệu quả hơn. Thật ra, trong thời gian gần đây kỹ thuật động cơ đốt trong phát triển ít hơn kỹ thuật động cơ điện.

//

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: