Extremely Loud & Incredibly Close (9)

Image

Elephants Eye Bucks County Artist

CON VẬT DUY NHẤT (2)

Abby Black sống ở căn hộ số #1 trong một khu nhà hiện đại nằm trên đường Bedford. Tôi mất khoảng hai giờ và ba mươi phút để quốc bộ đến đó, và tay tôi mỏi rã rời vì cứ phải liên tục lắc cái lục lạc. Có một tấm biển nhỏ phía trên cửa nói rằng nhà thơ Edna Saint Vincent Millay[1] từng sống trong ngôi nhà này, và đây là căn hộ hẹp nhất New York. Tôi không biết Edna Saint Millay là ông hay là bà. Tôi thử chiếc chìa khoá, và nó đi vào được một nửa, rồi dừng lại. Tôi gõ cửa. Không có tiếng trả lời, dù tôi nghe thấy có tiếng người nói chuyện ở bên trong, và tôi đoán rằng #1 có nghĩa là tầng một, nên tôi gõ cửa lần nữa. Tôi sẵn sàng trở nên phiền phức nếu điều đó là cần thiết.

Một người phụ nữ ra mở cửa và nói, “Cô có thể giúp gì được cho cháu?” Cô ấy rất đẹp, có khuôn mặt giống như của Mẹ, mang nét cười dù cho cô ấy không thực sự cười, và một bộ ngực đồ sộ. Tôi đặc biệt thích cái cách đôi khuyên tai thỉnh thoảng chạm vào cổ của cô. Điều ấy làm tôi đột nhiên ước rằng tôi có mang theo bên mình một món đồ trang sức nào đó và tặng nó cho cô, và thế là cô ấy sẽ có lý do để thấy thích tôi. Dù là thứ gì đó nhỏ bé và đơn giản đi chăng nữa, như là một cái trâm gài tóc có lân quang chẳng hạn.

“Chào cô.” “Chào cháu.” “Cô có phải là Abby Black không?” “Vâng.” “Cháu là Oskar Schell.” “Chào cháu.” “Cháu chào cô.” Tôi nói với cô ấy, “Cháu đảm bảo là mọi người vẫn thường nói với cô điều này, nhưng mà nếu như cô tìm từ ‘tuyệt đẹp’ trong cuốn từ điển, thì cô sẽ thấy có chân dung của mình ở đó.” Cô ấy bật cười khúc khích, “Người ta chẳng bao giờ nói với cô như thế.” “Cháu cá là có đấy ạ.” Cô ấy cười nhiều hơn. “Không đâu.” “Vậy thì cô kết thân nhầm người mất rồi.” “Có thể là cháu đúng về điều đó.” “Bởi vì cô quả là rất đẹp ạ.”

Cô ấy mở cánh cửa rộng hơn một chút. Tôi hỏi, “Cô có biết ai tên là Thomas Schell không ạ?” “Cái gì cơ?” “Cô có biết Thomas Schell không?” Cô ấy ra vẻ như đang suy nghĩ. Tôi không hiểu vì sao cô ấy phải suy nghĩ như thế. “Không cháu ạ.” “Cô có chắc không ạ?” “Ừ.” Có điều gì đó không được chắc chắn lắm khi cô ấy nói rằng cô ấy chắc chắn như vậy, và điều ấy khiến cho tôi nghĩ rằng hẳn cô đang giữ một bí mật nào đó đối với tôi. Vậy thì bí mật đó là gì? Tôi đưa cho cô ấy xem cái phong bì và nói, “Cô có ấn tượng gì về nó không?” Cô ấy nhìn nó mất một lúc. “Cô không nghĩ vậy đâu. Nó có nghĩa gì không?” “Chỉ khi nó là như vậy thôi ạ,” tôi trả lời. “Không đâu,” cô ấy nói. Và tôi không cho là cô nói thật.

“Cháu có thể vào nhà không ạ?” tôi hỏi. “Lúc này thì không được tiện cho lắm.” “Tại sao ạ?” “Cô đang dở việc.” “Việc gì ạ?” “Đấy có phải là việc của cháu không?” “Đấy có phải là câu hỏi tu từ không cô?” “Có.” “Cô có việc làm không?” “Có.” “Việc gì ạ?” “Cô là nhà dịch tễ học.” “Cô nghiên cứu các loại bệnh.” “Ừ.” “Hay thật đấy.” “Nghe này, cô không biết là cháu cần gì, nhưng nếu là chuyện cái phong bì, thì cô không giúp được cháu rồi—” “Cháu đang rất khát ạ,” tôi nói, sờ vào cổ họng, đó là cử chỉ mang tính toàn cầu biểu thị cho việc khát nước. “Ở góc phố có một cửa hàng bán thức ăn khá ngon đấy.” “Thực ra, cháu bị bệnh tiểu đường và cháu cần một ít đường ngay tức.” Lời nói dối #35. “Ý cháu là ngay lập tức ấy hả?” “Thế nào cũng được ạ.”

Tôi không cảm thấy vui vẻ gì về việc nói dối, và tôi không tin vào việc có thể biết được điều gì xảy ra trước khi nó xảy ra, nhưng vì lí do nào đó mà tôi biết rằng tôi phải bước vào trong ngôi nhà. Để đánh đổi lấy lời nói dối, tôi tự hứa với mình rằng khi tôi được tăng tiền tiêu vặt, tôi sẽ quyên góp một phần tiền tăng lên ấy cho những người mà trong đời thực thực sự bị bệnh tiểu đường. Cô ấy thở dài, như thể cô ấy đang rất tuyệt vọng, nhưng mặt khác, cô ấy không yêu cầu tôi rời đi. Có một giọng đàn ông đang gọi gì đó từ bên trong. “Nước cam nhé?” cô ấy hỏi. “Cô có cà phê không ạ?” “Đi theo cô nào,” cô ấy nói, và cô đi vào trong nhà. “Thế kem không béo thì sao?”

Tôi nhìn quanh khi đi theo cô vào nhà, mọi thứ trông thật sạch sẽ và hoàn hảo. Có nhiều bức ảnh được treo sát nhau trên bức tường, có một chỗ mà ta có thể nhìn thấy hình chụp âm đạo của một người phụ nữ Mỹ gốc Phi, mà làm tôi rất choáng. “Đệm ghế bành đâu hả cô?” “Nó không có đệm đâu?” “Cái gì đây ạ?” “Ý cháu là bức tranh ấy hả?” “Nhà cô có mùi dễ chịu quá.” Người đàn ông ở trong căn phòng khác lại gọi, lần này cực kỳ to tiếng, như thể ông ấy đang vô cùng bực bội, nhưng cô ấy không hề chú ý tới, như thể cô không nghe thấy, như thể cô không bận tâm.

Tôi chạm vào rất nhiều vật trong căn bếp, bởi chúng mang lại cho tôi cái cảm giác an tâm vì một lý do nào đó. Tôi lướt ngón tay dọc theo nóc chiếc lò vi sóng, và ngón tay tôi đổi màu xám. “C’est sale[2],” tôi nói, chỉ cho cô và bật cười. Cô ấy tỏ ra nghiêm trọng. “Thật đáng xấu hổ,” cô nói. “Cô nên đến thăm phòng thí nghiệm của cháu,” tôi nói. “Cô không hiểu tại sao phải làm thế,” cô ấy nói. Tôi trả lời, “Mọi thứ đều bám bụi cả ạ.” “Nhưng cô muốn mọi thứ phải thật sạch sẽ. Có một người phụ nữ đến đây dọn dẹp vào mỗi tuần. Cô đã bảo cô ấy cả triệu lần rằng phải lau dọn tất cả mọi thứ. Cô phải cho cô ta thấy thứ này mới được.” Tôi hỏi cô tại sao cô lại bực bội vì một chuyện nhỏ nhặt như thế. Cô ấy nói, “Điều ấy không phải là một chuyện nhỏ đối với cô,” và tôi nghĩ về việc dịch chuyển một hạt cát nhỏ đi một mm. Tôi lấy một cái khăn ướt ra khỏi túi đồ của mình và lau chùi cái lò vi sóng.

“Bởi vì cô là một nhà dịch tễ học,” tôi nói, “cô có biết rằng bảy mươi phần trăm bụi bặm trong các gia đình thực sự là do lớp biểu bì của con người gây ra không?” “Không,” cô ấy nói, “cô không biết.” “Cháu là một nhà dịch tễ học nghiệp dư.” “Không có nhiều người như vậy đâu.” “Vâng. Và cháu đã thực hiện một thí nghiệm khá là thú vị vào một lần nọ cháu bảo với Feliz rằng phải giữ lại toàn bộ số bụi ở nhà cháu trong sọt rác cho cháu trong vòng một năm. Rồi cháu cân cái túi ấy lên. Nó nặng đến 112 pound[3]. Rồi cháu tính ra bảy mươi phần trăm của 112 pound là 78,4[4]. Cháu nặng 76 pound[5], và 78 pound[6] khi cơ thể cháu ở trạng thái ướt. Điều ấy chẳng nói lên được cái gì cả, nhưng rất là lạ. Cháu để cái này ở đâu được ạ?” “Đây,” cô ấy nói, vứt cái khăn ướt đi cho tôi. Tôi hỏi cô, “Tại sao cô lại buồn?” “Gì cơ?” “Cô trông rất buồn, tại sao thế?”

Tiếng máy pha cà phê kêu ùng ục. Cô mở tủ và lấy ra một cái cốc sứ. “Cháu có thích đường không?” Tôi trả lời có, bởi vì Ba luôn uống cà phê với đường. Ngay khi cô vừa ngồi xuống, cô đứng dậy và lấy ra một âu nhỏ từ cái tủ lạnh. Cô lấy ra cả bánh quy và bày chúng ra một cái đĩa. “Cháu có thích dâu tây không?” cô hỏi. “Có ạ,” tôi trả lời cô, “nhưng mà cháu không đói đâu ạ.” Cô ấy lấy ra vài trái dâu tây. Tôi thấy thật lạ khi không hề có lấy một cái thực đơn hay một cái nam châm dùng để đính tin nhắn hay những tấm ảnh của trẻ con trên cửa tủ lạnh nhà con. Thứ duy nhất có trong căn bếp là một bức hình chụp một con voi được trên trên tường ngay cạnh cái điện thoại. “Cháu yêu cái này,” tôi bảo cô, và không phải chỉ bởi vì tôi muốn cô thích tôi. “Cháu thích cái gì?” cô hỏi. Tôi chri vào bức ảnh. “Cảm ơn cháu,” cô nói. “Cô cũng thích nó.” “Cháu nói là cháu yêu nó cơ.” “Ừ. Cô cũng yêu nó.”

“Cô có biết nhiều về loài voi không ạ?” “Không nhiều lắm.” “Không nhiều lắm với nghĩa một chút? Hay là không nhiều lắm với nghĩa chẳng biết gì cả?” “Hầu như là không.” “Ví dụ, cô có biết là các nhà khoa học từng cho rằng bọn voi có ngoại cảm không?” “Ý cháu là tri giác ngoại cảm ấy hả?” “Cũng thế cả thôi ạ, bọn voi có thể sắp xếp các cuộc hội ngộ từ những khoảng cách rất xa nhau, và chúng biết được bạn bè và kẻ thù của chúng ở đâu, và chúng có thể tìm được nước mà không phải phụ thuộc vào yếu tố địa lý. Không một ai có thể giải thích được những điều ấy. Vậy thì điều gì thực sự xảy ra?” “Cô không biết.” “Chúng có thực sự biết điều đó không?” “Điều đó?” “Làm sao chúng có thể gặp được nhau nếu chúng không có tri giác ngoại cảm?” “Cháu hỏi cô à?” “Vâng.” “Cô không biết.” “Cô có muốn biết không?” “Có.” “Thật nhiều?” “Ừ.” “Bọn chúng thực hiện những cuộc nói chuyện rất, rất, rất, rất sâu, thứ âm thanh trầm đến nỗi mà con người không thể nghe thấy. Bọn chúng nói chuyện với nhau. Cô bảo có tuyệt không?” “Đúng vậy.” Tôi ăn một trái dâu.

“Có một người phụ nữ nọ từng dành mấy năm cuối đời ở Congo hay đâu đó. Bà ấy thu lại các tiếng gọi của loài voi và tổng hợp thành một thư viện lớn. Sau này bà ấy bắt đầu bật chúng lên.” “Bật lên?” “Cho bọn voi nghe.” “Tại sao?” Tôi rất thích khi cô ấy hỏi tại sao. “Vì có thể cô đã biết, voi có nhiều, nhiều khả năng ghi nhớ hơn những loài thú có vú khác.” “Ừ, cô nghĩ là cô có biết điều này.” “Nên người phụ nữ ấy muốn xem xem trí nhớ của chúng tốt như thế nào. Bà ấy bật lên tiếng kêu của kẻ thù từng vang lên nhiều năm trước đó – tiếng kêu mà chúng chỉ nghe thấy một lần duy nhất – và chúng tỏ ra hoảng loạn, và đôi khi chúng bắt đầu chạy trốn. Chúng ghi nhớ hàng trăm tiếng kêu khác nhau. Hàng nghìn. Mà có thể là không có giới hạn. Như thế không tuyệt hay sao?” “Có chứ.” “Bởi vì điều thực sự tuyệt vời là bà ấy bật lại tiếng kêu của một con voi đã chết cho các thành viên trong gia đình của nó nghe.” “Và?” “Chúng nhớ.” “Chúng làm gì?” “Chúng tiến đến vị trí đặt chiếc loa.”

“Không hiểu chúng cảm thấy ra sao nhỉ.” “Ý cô là sao ạ?” “Khi chúng nghe thấy tiếng kêu của con voi đã chết, có phải chúng tiến đến chỗ chiếc xe jeep với tình yêu? Hay sợ hãi? Hay tức giận?” “Cháu không nhớ ạ.” “Chúng có tấn công không?” “Cháu không nhớ.” “Chúng có khóc không?” “Chỉ có con người mới khóc ra nước mắt. Cô biết không?” “Con voi trong bức ảnh này dường như đang khóc.” Tôi bước lại thật gần bức hình, và điều ấy thật chính xác. “Có thể là thủ thuật Photoshop đã phóng đại lên, ” tôi nhận xét. “Nhưng mà, cháu có thể chụp lại bức ảnh này của cô không?” Cô ấy gật đầu và nói, “Hình như cô từng đọc được ở đâu đó rằng voi là loài vật duy nhất chôn cất đồng loại của mình?” “Không ạ,” tôi trả lời khi tôi nhìn vào ống ngắm của chiếc máy ảnh của Ông nội, “không phải thế đâu. Chúng chỉ tập hợp các mẩu xương lại. Chỉ có con người mới chôn cất người chết thôi.” “Hẳn loài voi không tin vào ma quỷ.” Tôi bật cười vì điều đó. “Ô, hầu như các nhà khoa học không nói thế ạ.” “Còn cháu thì sao?” “Cháu chỉ là nhà khoa học nghiệp dư thôi.” “Còn cháu thì sao?” Tôi chụp hình. “Cháu sẽ nói rằng nó đang bối rối.”

Rôi cô ấy bắt đầu rơi nước mắt.

Tôi nghĩ, Cháu mới là người đáng lý ra phải khóc kia.

“Cô đừng khóc,” tôi bảo cô. “Tại sao không? ” cô ấy hỏi. “Bởi vì,” tôi bảo cô. “Bởi vì sao?” cô hỏi. Bởi tôi không biết được tại vì sao cô khóc, tôi không thể nghĩ ra nổi một lý do để nói với cô. Có phải cô khóc vì những con voi? Hay vì điều nào khác mà tôi đã nói? Hay vì cái người đang bực bội ở căn phòng bên kia? Hay vì nguyên do nào đó mà tôi không được rõ? Tôi bảo cô, “Cháu thường tự làm đau mình.” Cô nói, “Cô rất tiếc.” Tôi bảo cô, “Cháu từng viết một bức thư gửi cho nhà khoa học thu âm lại tiếng kêu của lũ voi. Cháu hỏi rằng cháu có thể làm trợ lý của bà ấy hay không. Cháu bảo với bà ấy rằng cháu sẽ luôn đảm bảo rằng có đủ băng từ trắng để ghi lại tiếng kêu của chúng, và cháu có có thể đun nước để có thể an toàn khi uống, hoặc là chỉ cần mang dụng cụ cho bà ấy. Trợ lý của bà ấy trả lời thư của cháu và nói rằng bà ấy đã có trợ lý rồi, hẳn vậy, nhưng có thể là trong tương lai khi mà dự án được mở rộng thì chúng cháu có thể cộng tác với nhau.” “Tuyệt đấy. Có điều gì đó để trông đợi.” “Vâng.”

Có ai đó đến cửa căn bếp và tôi đoán đó là người đàn ông vừa mới cất tiếng gọi từ căn phòng bên cạnh. Ông ấy chỉ thoáng thò đầu vào, nói gì đó mà tôi không hiểu được, và rời đi. Abby vờ lờ đi, nhưng còn tôi thì không, “Ai thế ạ? ” “Chồng cô.” “Chú ấy cần gì thế ạ?” “Cô không quan tâm.” “Nhưng mà chú ấy là chồng cô cơ mà, và cháu nghĩ là chú ấy đang cần gì đó.” Cô ấy khóc nhiều hơn. Tôi đến bên cô và đặt tay lên bờ vai cô, như Ba vẫn thường làm với tôi. Tôi hỏi cô đang cảm thấy thế nào, bởi vì Ba vẫn thường hỏi tôi như thế. “Chắc cô thấy lạ lắm,” tôi nói. Cô hỏi, “Cháu bao nhiêu tuổi rồi?” Tôi trả lời mười hai – lời nói dối #59 — bởi vì tôi muốn mình đủ lớn để cô yêu tôi. “Một cậu bé mười hai tuổi muốn gì khi gõ cửa nhà người nhỉ?” “Cháu đang tìm một cái ổ khoá. Thế cô bao nhiêu tuổi rồi ạ?” “Bốn mươi tám.” “Jose. Cô trông trẻ hơn thế rất nhiều.” Cô ấy bật cười trong nước mắt và nói, “Cám ơn cháu.” “Một quý cô bốn mươi tám tuổi muốn gì khi mời một người lạ vào căn bếp nhà mình?” “Cô cũng không biết được.” “Chắc là cháu làm phiền cô lắm,” tôi nói. “Cháu không làm phiền cô tí nào cả,” cô ấy nói, nhưng thật khó tin một ai đó khi họ nói với ta như thế.

Tôi hỏi, “Cô có chắc là cô không biết gì về Thomas Schell không ạ?” Cô trả lời, “Cô không biét Thomas Schell là ai cả,” nhưng vì một lý do nào đó mà tôi vẫn không tin cô được. “Có thể là cô biết ai đó tên Thomas? Hoặc là người nào đó họ Schell?” “Không.” Tôi vẫn nghĩ có điều gì đó mà cô không muốn cho tôi biết. Tôi lại đưa cho cô xem cái phong bì nhỏ lần nữa. “Nhưng đây là họ của cô, đúng không ạ?” Cô ấy nhìn vào chữ viết tay, và tôi có thể thấy rằng cô đã nhận ra điều gì đó. Hoặc tôi nghĩ tôi có thể thấy được điều đó. Nhưng rồi cô lại nói, “Cô xin lỗi. Cô không nghĩ là cô có thể giúp gì được cho cháu.” “Thế còn chiếc chìa khoá ạ?” “Chìa khoá nào?” Tôi nhớ ra là tôi vẫn chưa đưa nó cho cô xem qua. Chỉ toàn là nói chuyện – về bụi, về voi – và tôi chưa hề đề cập tới mục đích của cuộc viếng thăm.

Tôi lôi chiếc chìa khoá ra khỏi áo và đặt nó vào tay cô. Bởi vì cái dây đeo vẫn còn nằm trên cổ tôi, khi cô cúi xuống xem chiếc chìa khoá, khuôn mặt cô tiến thật gần đến khuôn mặt tôi. Chúng tôi giữ nguyên tư thế đó thật lâu là lâu. Cứ như thể kim đồng hồ ngưng chạy. Tôi nghĩ tới những thân thể rơi xuống từ toà nhà cao tầng.

“Cô xin lỗi,” cô nói. “Tại sao cô lại xin lỗi ạ?” “Cô xin lỗi vì cô không có ấn tượng nào với chiếc chìa khoá này cả.” Sự thất vọng thứ #3. “Cô rất tiếc.”

Mặt chúng tôi kề sát bên nhau.

Tôi bảo với cô, “Vở kịch được diễn vào mùa thu này là Hamlet, trong trường hợp cô có hứng thú. Cháu sẽ vào vai Yorick. Nếu cô muốn ghé qua vào đêm mở màn, thì còn cách hôm nay khoảng mười hai tuần nữa. Như thế sẽ rất tuyệt.” Cô ấy nói, “Cô sẽ cố gắng thu xếp thời gian,” và tôi có thể cảm nhận được hơi thở của cô thoảng qua mặt tôi. Tôi hỏi cô, “Chúng ta có thể hôn nhau không?”

“Cái gì?” cô hỏi, mặc dù, cô không hề lùi lại. “Chỉ là cháu rất thích cô, và cháu đoán là cô cũng thích cháu.” Cô ấy trả lời, “Cô không cho rằng đấy là một ý hay.” Thất vọng #4. Tôi hỏi tại sao không. Cô nói, “Bởi vì cô bốn mươi tám tuổi rồi còn cháu thì chỉ mới mười hai.” “Vâng?” “Và cô đã kết hôn.” “Vâng?” “Và cô còn chẳng biết gì về cháu.” “Cô không cảm thấy như đã biết cháu sao?” Cô không nói gì. Tôi bảo cô, “con người là loài động vật duy nhất đỏ mặt, biết cười, tin vào tôn giáo, phát động chiến tranh, và hôn bằng môi. Vì vậy theo một nghĩa nào đó, cô càng hôn môi nhiều, thì cô càng người hơn.” “Và càng châm ngòi chiến tranh nhiều hơn?” Lần này thì tôi là người im lặng. Cô nói, “Cháu là một cậu bé rất, rất dễ thương.” Tôi trả lời, “Một người đàn ông ạ.” “Nhưng cô vẫn không cho rằng đó là một ý hay.” “Liệu nó có cần phải là một ý hay không?” “Cô nghĩ là có.” “Vậy liệu cháu có thể chụp hình cô không?” Cô nói, “Như thế rất tuyệt.” Nhưng khi tôi bắt đầu nhìn vào ống ngắm của chiếc máy ảnh, cô giơ tay lên che mặt vì một lý do nào đó. Tôi không muốn ép cô phải giải thích, nên tôi nghĩ rằng tôi có thể chụp một bức ảnh khác, mà có thể thật hơn. “Đây là danh thiếp của cháu,” tôi nói, sau khi đã đậy nắp ống kính lại, “trong trường hợp cô nhớ ra được điều gì đó về chiếc chìa khoá hoặc chỉ muốn nói chuyện thôi cũng được.”

OSKAR SCHELL  ✌

NHÀ SÁNG CHẾ, NHÀ THIẾT KẾ TRANG SỨC, NHÀ CHẾ TẠO TRANG SỨC, NHÀ CÔN TRÙNG HỌC NGHIỆP DƯ, NHÀ PHÁP HỌC, NGƯỜI ĂN CHAY, NGHỆ NHÂN ORIGAMI, NGƯỜI THEO CHỦ NGHĨA HÒA BÌNH, NHẠC CÔNG CHƠI BỘ GÕ, NHÀ THIÊN VĂN HỌC NGHIỆP DƯ, CHUYÊN GIA VẤN VỀ VI TÍNH, NHÀ KHẢO CỔ HỌC NGHIỆP DƯ, NHÀ SƯU TẦM: tiền xu hiếm, bướm chết vì nguyên do tự nhiên, xương rồng nhỏ, kỷ vật của nhóm Beatles, đá bán quý, và các thứ khác

E-MAIL: OSKAR_SCHELL@HOTMAIL.COM

ĐT NHÀ: KHÔNG TIẾT LỘ  / DI ĐỘNG: KHÔNG TIẾT LỘ

SỐ FAX: TÔI CHƯA CÓ MÁY FAX

***


[1] Edna St. Vincent Millay (22/2/1892 –1910/1950) là nhà thơ và biên kịch người Mỹ. Bà từng được nhận giải Pulitzer về thơ vào năm 1923, và là người phụ nữ thứ ba được nhận giải thưởng này, và còn được biết đến bởi các hoạt động vì nữ quyền và các mối quan hệ tình ái của mình. Bà từng sử dụng nghệ danh Nancy Boyd cho các tác phẩm của mình. Nhà thơ Richard Wilbur nhận định, “Bà từng viết những bài thơ mười bốn câu hay nhất thế kỷ.”

[2] C’est sale: (tiếng Pháp) bẩn này

[3] 112 pound = 50,8kg

[4] 78,4 pound = 35,56 kg

[5] 76 pound = 34,5 kg

[6] 78 pound = 35,38 kg

//

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: