Extremely Loud & Incredibly Close (10)

Image

CON VẬT DUY NHẤT (3)

Tôi ghé vào nhà Bà nội trên đường về nhà, điều mà tôi vẫn thường làm vào mỗi buổi chiều, bởi vì Mẹ vẫn phải làm việc vào ngày thứ Bảy và đôi khi là cả Chủ nhật, và Mẹ luôn phát hoảng lên với cái ý tưởng để tôi lại một mình. Khi tôi đến gần khu nhà Bà nội ở, tôi nhìn lên và không thấy có bóng Bà đợi tôi bên cửa sổ, như Bà vẫn thường làm. Tôi hỏi bác gác cửa Farley rằng Bà có nhà hay không, và bác ấy trả lời tôi rằng có lẽ, nên tôi leo lên bảy mươi hai bậc thang.

Tôi nhấn chuông cửa. Không thấy Bà trả lời, nên tôi mở cửa ra, bởi vì Bà không bao giờ khoá cửa cả, dù tôi cho rằng như thế thật không an toàn một chút nào, bởi vì đôi khi những người có vẻ như tử tế lại thành ra không được tốt đẹp như ta vẫn tưởng. Khi tôi vào nhà, Bà đi tới bên cửa. Cứ như thể Bà vừa mới khóc xong, nhưng tôi biết điều ấy là không thể, bởi vì vào một lần nào đó Bà từng nói với tôi rằng Bà đã cạn khô nước mắt khi Ông nội bỏ đi. Tôi bảo Bà rằng nước mắt có thể tạo ra được vào mỗi lần ta khóc. Bà trả lời, “Sao cũng được.” Đôi khi tôi có cảm tưởng rằng Bà vẫn thường khóc mỗi khi không có ai ở bên.

“Oskar!” Bà gọi tôi, và bế tôi lên với một cái ôm. “Cháu ổn” tôi nói. “Oskar!” Bà gọi tôi, và nhấc bổng tôi lên bằng một cái ôm khác. “Cháu ổn,” tôi nhắc lại lời vừa nói, và rồi tôi hỏi Bà rằng Bà đã ở đâu thế. “Bà nói chuyện với người thuê nhà ở trong phòng.”

Khi tôi còn bé xíu, Bà nội trông tôi suốt cả ngày. Ba kể cho tôi rằng Bà thường tắm cho tôi trong bồn rửa bát, và cắt móng chân và móng tôi của tôi bằng răng Bà bởi vì Bà sợ phải dùng đến cái bấm móng tay. Khi tôi đã đủ lớn để có thể được tắm trong bồn tắm, và biết được rằng có dương vật và bìu dái và đủ thứ, tôi đề nghị Bà đừng vào phòng tắm cùng tôi nữa. “Sao lại không?” “Vì vấn đề riêng tư ạ.” “Riêng tư khỏi cái gì? Khỏi bà à?” Tôi không muốn làm Bà buồn, bởi không làm cho Bà buồn là một raisons d’être của tôi. “Chỉ là riêng tư thôi ạ,” tôi nói. Bà đặt tay lên bụng và nói, “Khỏi à” Bà đồng ý đợi tôi bên ngoài, với điều kiện tôi cầm theo một cuộn len, mà được luồn dưới khe cửa phòng tắm và nối liền với cái khăn quàng mà Bà đang đan. Và cứ mỗi một giây Bà lại giật nó mật lần, và tôi phải giật lại sợi dây – lập lại điều Bà vừa làm – để Bà biết được rằng tôi vẫn bình an vô sự.

Bà chăm nom tôi kể từ khi tôi mới bốn tuổi, chạy theo tôi quanh ngôi nhà trong vai một con quái vật, và một lần nọ tôi bị rách môi do va phải cạnh bàn trà và tôi phải đến bệnh viện. Bà luôn tin vào Chúa, nhưng Bà lại không đặt lòng tin vào những chiếc taxi, nên khi ấy máu chảy ướt đẫm cả áo tôi trên xe buýt. Ba bảo tôi rằng chuyện ấy khiến Bà ân hận mãi, dù cái miệng tôi chỉ cần vài mũi khâu là lại lành lặn như cũ, và vì thế mà Bà đã sang bên nhà tôi và nói với Ba rằng, “Đấy là lỗi của mẹ. Con không nên để thằng bé lại với mẹ nữa.” Lần tiếp theo đó khi tôi gặp bà, Bà bảo tôi, “Cháu thấy đấy, bà chỉ giả vờ làm quái vật thôi, ấy vậy mà bà đã thực sự trở thành một con quái vật.”

Bà ở lại nhà tôi suốt một tuần lễ sau khi Ba mất, trong khi Mẹ đi khắp Manhattan để dán thông báo tìm người. Chúng tôi đấu với nhau hàng ngàn trận vật ngón tay cái, và tôi luôn giành chiến thắng, dù là cả trận đấu mà tôi đã cố tình thua. Chúng tôi cùng xem các bộ phim tài liệu đã được Mẹ cho phép, và nướng bánh cupcake dành cho người ăn kiêng, và đi dạo thật nhiều trong công viên. Một ngày nọ tôi bỏ xa Bà và trốn vào một góc khuất. Tôi thích cái cảm giác khi có ai đó tìm kiếm tôi, và được nghe tiếng gọi tên mình cứ lặp đi lặp lại. “Oskar! Oskar!” Có thể là thực ra tôi cũng chẳng thích thú gì, nhưng mà vào lúc ấy tôi lại cảm thấy cần điều đó kinh khủng.

Tôi đi theo Bà từ một khoảng cách an toàn cho tới khi Bà bắt đầu phát hoảng. “Oskar!” Bà khóc và sờ vào tất cả mọi thứ, nhưng tôi không để Bà biết rằng tôi ở ngay đó, bởi vì tôi đoan chắc là đến cuối cùng chúng tôi sẽ cùng bật cười và mọi chuyện rồi sẽ ổn thoả. Tôi theo dõi Bà khi Bà đi về nhà, nơi mà tôi biết rằng Bà sẽ khom người ngồi xuống nơi bậc thềm và đợi Mẹ về. Bà sẽ phải thông báo với Mẹ rằng tôi đã biến mất, và rằng bởi vì Bà đã không trông chừng tôi cẩn thận, tôi đã biến mất và thế là chẳng còn người nhà Schell nào nữa cả. Tôi chạy tới, xuống phố 82 và lên phố 83, và khi Bà về đến trước cửa khu chung cư, tôi nhảy xổ ra từ sau một cánh cửa. “Nhưng tôi không gọi pizza!” tôi hét, và phá lên cười sằng sặc khiến cổ họng tôi gần như nứt toác.

Bà nói gì đó, và rồi ngừng lại. Stan tóm lấy tay bà và bảo, “Bà hãy ngồi xuống đã, bà ạ.” Bà quát lên với bác ấy, “Đừng có chạm vào tôi,” bằng một thứ giọng mà tôi chưa từng nghe thấy bao giờ. Và rồi Bà quay người và sang đường đi thẳng về căn hộ của Bà. Vào đêm đó, tôi dùng ống nhòm để soi vào khung cửa sổ nhà Bà và có một giấy ghi rằng, “Cháu đừng bao giờ bỏ rơi bà nữa.”

Kể từ ngày hôm ấy, bất kỳ khi nào chúng tôi cùng nhau đị dạo là Bà lại bắt chúng tôi chơi một trò giống như trò Marco Polo, ấy là khi mà Bà gọi tên tôi thì tôi phải trả lời và báo cho Bà biết rằng tôi vẫn ổn.

“Oskar.”

“Cháu không sao.”

“Oskar.”

“Cháu vẫn ổn.”

Tôi không bao giờ có thể biết chắc khi nào thì chúng tôi đang chơi trò đó và khi nào thì Bà chỉ muốn gọi tôi mà thôi, nên tôi vẫn luôn báo với Bà rằng tôi ổn.

Vài tháng sau khi Ba mất, Mẹ và tôi cùng đi tới nhà kho ở New Jersey nơi Ba gửi các thứ đồ mà Ba không còn dùng nữa nhưng có thể sẽ cần tới vào một ngày nào đó, ví dụ như là khi Ba đã về hưu chẳng hạn, tôi đoán vậy. Chúng tôi thuê một cái ô tô, và chúng tôi mất tới hai giờ đồng hồ mới tới nơi, mặc dầu chỗ ấy cũng chẳng xa xôi gì cho lắm, chẳng qua là vì Mẹ cứ phải dừng lại ở nơi có nhà vệ sinh và rửa mặt. Cái nhà kho ấy không được sắp xếp cho thật gọn gàng, và bên trong thì tối om om, vì thế mà chúng tôi phải mất hàng đống thời gian mới tìm ra được cái phòng nhỏ xíu cất giữ đồ của Ba. Chúng tôi có một trận khẩu chiến về cái dao cạo râu, bởi vì Mẹ bảo rằng nó nên ở trong thùng “vứt đi” còn tôi thì bảo với Mẹ rằng nó nên để nó vào thùng “giữ lại.” Mẹ nói, “Giữ nó lại để làm gì?” Tôi trả lời, “Để làm gì không quan trọng.” Mẹ nói, “Mẹ không hiểu ba con giữ lại một cái dao cạo râu giá ba đô để làm gì.” Tôi nói, “Tại sao không quan trọng.” Mẹ quả quyết, “Mình không thể giữ mọi thứ lại được.” Tôi nói với Mẹ, “Thế chẳng lẽ con vứt hết mọi đồ vật của mẹ đi và quên luôn mẹ sau khi mẹ chết lại không sao?” Khi mà tôi nói ra những lời ấy, tôi chỉ ước sao chúng chui trở lại vào miệng tôi. Mẹ nói rằng Mẹ xin lỗi, mà tôi nghĩ như thế thật lạ.

Ngoài ra chúng tôi còn tìm thấy một bộ máy bộ đàm cũ có từ hồi tôi còn bé xíu. Ba Mẹ đặt một cái trong cũi để họ có thể nghe tiếng tôi khóc, và đôi khi, thay vì đến bên cái cũi thì Ba chỉ nói chuyện với tôi qua cái máy đó, mà cũng đủ để khiến tôi ngủ ngay được. Tôi hỏi Mẹ tại sao Ba vẫn giữ lại mấy cái thứ này. Mẹ trả lời, “Có lẽ là để dành cho tới khi con có em bé.” “Cái gì cơ?” “Ba con là thế đó.” Tôi bắt đầu nhận ra rất nhiều thứ mà Ba giữ lại – hàng thùng và hàng thùng những mảnh xếp hình Legos, một bộ Bách Khoa Toàn Thư, rồi cả những cuốn album ảnh mới toanh – có thể là để dành cho tới khi tôi có em bé. Tôi không biết vì sao, nhưng điều ấy khiến tôi giận điên lên được.

Dù sao, tôi cũng lắp pin mới vào cái máy bộ đàm, và tôi nghĩ rằng sẽ thật vui nếu tôi và Bà nội có thể dùng nó để nói chuyện với nhau. Tôi đưa cho Bà con bé hơn, để Bà không phải cố mò ra nút nào dùng để làm gì, và cái máy hoạt động rất tốt. Mỗi khi thức dậy tôi sẽ chào Bà. Và trước khi lên giường đi ngủ chúng tôi vẫn thường nói chuyện với nhau. Bà sẽ luôn đợi tôi ở đầu bên kia. Tôi không biết làm sao mà Bà lại biết được khi nào thì tôi cầm cái máy lên. Có thể là Bà vẫn luôn chờ đợi tôi suốt cả ngày.

“Bà ơi? Bà có ở đó không?” “Oskar?” “Cháu không sao.” “Cháu ngủ có ngon không, cháu yêu? Hết.” “Cái gì ạ? Cháu không nghe thấy gì cả. Hết.” “Bà hỏi là cháu ngủ có ngon không. Hết.” “Được ạ,” tôi sẽ trả lời như vậy, và nhìn Bà từ bên kia con phố, cằm tôi tựa vào lòng bàn tay, “cháu không gặp ác mộng. Hết.” “Thật là tốt. Hết.” Chúng tôi không có gì nhiều để nói với nhau. Bà lần nào cũng kể cho tôi nghe câu chuyện cũ xì về Ông nội, như là bàn tay Ông thô ráp ra sao vì đã làm ra bao nhiêu là bức tượng, và làm sao mà Ông có thể nói chuyện với các con vật. “Chiều nay cháu có sang chơi với bà không? Hết.” “Có ạ. Chắc thế. Hết.” “Hãy cố qua đây nhé. Hết.” “Cháu sẽ cố ạ. Hết và tạm biệt bà.”

Có những tối tôi mang cái máy bộ đàm lên giường và tôi đặt nó bên cạnh cái gối mà Buckminster không nằm lên và tôi có thể nghe được Bà đang làm gì. Đôi khi Bà thức giấc lúc nửa đêm. Điều ấy làm tôi buồn vì có thể Bà gặp phải ác mộng vào lúc ấy, bởi vì tôi không biết Bà mơ thấy những gì và tôi thì chẳng làm được gì để giúp Bà cả. Bà kêu lên, và đánh thức tôi dậy, dĩ nhiên rồi, vì thế mà giấc ngủ của tôi luôn phụ thuộc vào giấc ngủ của Bà, và khi tôi nói với Bà rằng, “Không có ác mộng,” nghĩa là tôi đang nói về Bà.

Bà đan cho tôi những cái áo len màu trắng, tay tay màu trắng, và mũ màu trắng. Bà biết rõ tôi thích kem khử nước đến thế nào, và đó cũng là một trong những ngoại lệ của tôi đối với việc kiêng khem, bởi vì các nhà du hành vũ trụ vẫn thường dùng thứ ấy cho món tráng miệng, và Bà thường đi tới Trạm thiên văn Hayden[1] và mua nó cho tôi. Bà luôn nhặt cho tôi những hòn đá thật đẹp, dù cho đáng lý ra Bà không nên mang vác các vật nặng mới phải, và thường thì chúng chỉ là đá diệp thạch ở khu Manhattan này. Vài ngày sau cái ngày tồi tệ ấy, khi tôi đang trên đường tới buổi trị liệu đầu tiên với bác sĩ Fein, tôi nhìn thấy Bà nội đang vác một tảng đá lớn qua Broadway. Nó to bằng một em bé sơ sinh và nó phải nặng tới cả tấn ấy. Nhưng Bà không bao giờ đưa cho tôi hòn đá ấy, và Bà cũng chẳng bao giờ  nhắc đến nó với tôi.

“Oskar.”

“Cháu không sao.”

Vào một buổi chiều, tôi bảo với Bà rằng tôi đang suy nghĩ về việc bắt đầu sưu tầm tem, và vào buổi chiều tiếp theo Bà đưa cho tôi ba bộ tem và – “bởi vì bà yêu cháu rất nhiều, và cả bởi vì bà muốn cháu có một sự khởi đầu tuyệt vời” – một bảng tem Các nhà Phát minh Vĩ đại của Hoa Kỳ.

“Cháu có Thomas Edison này,” Bà bảo, và chỉ vào một trong những cái tem, “và cả Ben Franklin[2], Henry Ford[3], Eli Whitney[4], Alexander Graham Bell[5], George Washington Carver[6], Nikola Tesla[7], ai đây nữa, rồi anh em nhà Wright[8], và cả J. Robert Oppenheimer[9]—” “Thế còn ai đây ạ?” “Ông này phát minh ra bom.” “Bom là gì hả bà?” “Là bom ấy mà.” “Thế thì ông ấy không phải là Nhà phát minh Vĩ đại đâu!” Bà nói, “Là vĩ đại, nhưng mà không tốt.”

“Bà ơi?” “Ừ, sao thế cháu yêu?” “Chỉ là cái dây bốn[10] đâu ạ?” “Cái gì cơ?” “Thứ ở bên lề bảng tem mà có đánh số ấy.” “Đánh số à?” “Vâng.” “Bà cắt đi rồi.” “Bà làm cơ?” “Bà cắt phần ấy đi rồi. Sao thế?” Tôi cảm thấy bản thân mình bắt đầu nói, dù tôi đã cố kìm lại. “Ôi, cái này chẳng có giá trì gì nếu không có dây bốn ấy!” “Hả?” “Dây bốn ấy ạ! Mấy cái tem này. Không. Có giá trị gì cả!” Bà nhìn tôi trong vài giây. “Ừ,” Bà nói, “bà nghĩ là bà cũng nghe điều này ở đâu đó rồi. Thế thì ngày mai bà sẽ quay lại cửa hàng và một một bộ khác. Mấy cái này ta có thể dùng để gửi thư.” “Không có lý do nào để làm thế đâu bà ạ,” tôi bảo Bà, muốn thu hồi lại mấy lời cuối cùng mà tôi vừa nói và cố gắng theo một cách khác, lần này sẽ tử tế hơn đôi chút, làm một thằng cháu nội ngon lành, hoặc chỉ là một thằng bé im lặng. “Có lý do đấy, Oskar ạ.” “Cháu không sao.”

Chúng tôi dành rất nhiều thời gian bên nhau. Tôi không nghĩ rằng còn có ai khác mà tôi ở bên nhiều đến vậy, ít nhất là kể từ khi Ba mất, trừ khi ta tính cả Buckminster vào đây nữa. Nhưng có nhiều những người khác tôi lại có thể hiểu rõ hơn. Ví dụ như, tôi chẳng biết gì về chuyện hồi Bà còn nhỏ, hoặc chuyện Bà gặp Ông như thế nào, hay đám cưới của Ông Bà ra sao, hoặc tại sao Ông lại bỏ đi. Nếu như tôi buộc lòng phải viết một câu chuyện về cuộc đời Bà, tất cả những gì mà tôi viết ra được là chồng của Bà có thể nói chuyện với động vật, và rằng tôi chẳng bao giờ có thể yêu quý được điều nhiều như thứ tình cảm mà Bà dành cho tôi. Và đây là điều mà tôi vẫn thường thắc mắc: Chúng tôi dành nhiều thời gian bên nhau để làm gì nếu như chúng tôi không thể hiểu thêm về nhau?

“Hôm nay cháu có làm gì đặc biệt không?” Bà hỏi vào buổi chiều ngày tôi bắt đầu đi tìm chiếc chìa khoá. Khi tôi nghĩ về tất cả những điều đã xảy ra, kể từ khi chúng tôi chôn chiếc quan tài xuống lòng đất cho tới khi tôi đào nó lên, tôi luôn nghĩ về việc làm thế nào để tôi có thể kể cho Bà nghe sự thật vào sau này. Vẫn chưa là quá muộn để quay đầu lại, trước khi tôi tiến tới điểm mà tôi không thể quay trở lại nữa. Ngay cả khi nếu như Bà không hiểu được tôi, thì ít nhất tôi cũng có thể nói về điều đó. “Có ạ,” tôi trả lời. “Cháu sẽ hoàn thành nốt mấy cái khuyên tai cho hội chợ hàng thủ công. Ngoài ra cháu cũng sẽ chôn cất con bướm phượng mà bác Stan tìm thấy đã chết nơi bậc thềm. Và cháu còn hàng đống thư phải viết, bởi vì sau đó thì cháu không cần phải bận tâm về chúng nữa.” “Cháu viết thư cho ai thế?” Bà hỏi, và giờ vẫn chưa phải là quá muộn. “Kofi Annan[11], Siegfried, Roy, Jacques Chirac[12], E. O. Wilson[13], Weird Al Yankovic[14], Bill Gates, Vladimir Putin, và một vài người khác nữa ạ.” Bà hỏi, “Tại sao cháu lại không viết thư cho những người mà cháu quen ấy?” Tôi bắt đầu kể lể, “Cháu không biết ai hết ạ,” nhưng rồi tôi nghe thấy có tiếng động nào đó. Hoặc là tôi nghĩ rằng tôi nghe thấy gì đó. Có tiếng động trong ngôi nhà, như thể có ai đó đang đi lại vậy. “Cái gì thế ạ?” tôi hỏi. “Tai bà không còn tốt nữa,” Bà nói. “Nhưng có ai đó ở trong nhà này. Có phải đấy là người thuê nhà không bà?” “Không đâu,” Bà nói, “Ông ấy đi thăm bảo tàng từ sớm rồi.” “Bảo tàng nào hả bà?” “Bà không biết. Ông ấy bảo với bà là sẽ không quay lại cho tới khi tối muộn.” “Nhưng cháu nghe thấy có tiếng người mà.” “Không phải đâu,” Bà nói. Tôi khăng khăng, “Cháu chắc chắn đến chín mười chín mươi chín phần trăm đấy bà ạ.” Bà bảo, “Có thể đấy chỉ là do cháu tưởng tượng ra thì sao.” Tôi đã rơi vào tình thế mà tôi không thể quay trở lại được nữa.

Cám ơn về bức thư của cháu. Do bác nhận được rất nhiều thư, mà bác không thể viết thư trả lời riêng cho cháu được. Tuy nhiên, cháu cần biết rằng bác đọc và giữ lại tất cả các lá thư, với hi vọng rằng sẽ hồi âm vào một ngày thích hợp. Hẹn gặp lại vào ngày đó,

Thân mến,

Stephen Hawking

Tôi thức khá khuya để thiết kế trang sức vào đêm đó. Tôi thiết kế một cái lắc chân Dạo gót giữa Thiên nhiên, mà sẽ để lại một vệt sáng màu vàng tươi mỗi khi ta bước đi, vì vậy nếu như có bị lạc, thì ta vẫn có thể tìm được đường về. Tôi cũng thiết xong một cặp nhẫn cưới, mà người này có thể nắm bắt được mạch đập của người kia và chiếc nhẫn sẽ phát ra thứ ánh sáng màu đỏ đồng điệu với nhịp đập của tim tim người kia. Ngoài ra tôi cũng làm một chiếc vòng tay tuyệt đẹp, nó giống như một chiếc dây chun mà ta có thể buộc vào quyển thơ mình yêu thích trong một năm, và rồi ta tháo ra và đeo nó vào cổ tay.

Tôi không biết tại sao, nhưng trong lúc tôi làm việc, tôi không thể ngừng nghĩ về cái ngày mà Mẹ và tôi đi tới nhà kho ở New Jersey. Tôi cứ nghĩ mãi về chỗ ấy, như một chú cá hồi, mà tôi vẫn biết. Mẹ phải dừng lại để rửa mặt đến mười lần. Ở trong khu nhà kho ấy thật im ắng quá và tối tăm, và chúng tôi là những người duy nhất. Có những gì ở trong máy bán nước tự động? Kiểu chữ trên các tấm biển là gì? Tôi lục tung các ngăn kéo trong óc mình. Tôi lấy ra một cái máy chiếu phim cũ kỹ. Bộ phim cuối cùng mà Ba làm là gì? Liệu có tôi xuất hiện trong đó hay không? Tôi đi qua hàng đống bàn chải đánh răng mà người ta vẫn phát khi đến gặp nha sĩ, và ba quả bóng chày mà Ba đã bắt được trong các trận đấu bóng, mà Ba có ghi lại từng ngày tháng cụ thể. Ngày tháng là gì? Não tôi mở ra một ngăn kéo với những tấm bản đồ cũ (có hai nước Đức và một Nam Tư[15]) và các đồ lưu niệm từ các chuyến công tác, như búp bê Nga với những con búp bê ở bên trong một con búp bê trong một con búp bê. … Ba để dành những thứ nào cho tôi khi tôi có em bé?

Đã là 2:36 sáng. Tôi đi vào phòng của Mẹ. Dĩ nhiên là Mẹ đang ngủ. Tôi nhìn thấy cái chăn phồng lên rồi xẹp xuống theo nhịp thở của Mẹ, giống như Ba từng nói rằng những cái cây thì hít vào mỗi khi con người thở ra, bởi vì khi ấy tôi còn quá nhỏ để có thể hiểu được bản chất của quá trình sinh học. Tôi chắc rằng Mẹ đang mơ, nhưng tôi không biết được giấc mơ ấy là gì, bởi vì tôi đã có đủ những cơn ác mộng cho riêng mình, và nếu như Mẹ mơ về một thứ gì đó thật hạnh phúc, thì tôi sẽ thấy tức giận vì điều đó. Tôi chạm vào Mẹ rất nhẹ. Mẹ giật mình và hỏi, “Gì thế?” Tôi nói, “Không sao đâu.” Mẹ nắm lấy vai tôi và hỏi, “Gì thế?” Cái cách mà Mẹ nắm vai tôi ấy khiến cho tôi bị đau, nhưng tôi không để lộ ra. “Mẹ có nhớ lần chúng ta đến khu nhà kho ở New Jersey không?” Mẹ thả tôi ra và nằm xuống. “Sao?” “Nơi mà Ba cất đồ ấy. Mẹ có nhớ không?” “Giờ đang là giữa đêm mà, Oskar.” “Nơi ấy gọi là gì ạ?” “Oskar.” “Con chỉ muốn biết tên gọi của nơi đó thôi?” Mẹ tìm thấy kính mắt ở cái tủ đầu giường, và tôi sẽ đánh đổi tất cả các bộ sưu tập của tôi, và tất cả số trang sức mà tôi đã làm ra, và tất cả những món quà sinh nhật và quà Giáng sinh mà tôi nhận được trong tương lai chỉ để nghe Mẹ nói rằng “Nhà kho Black.” Hoặc là “Nhà kho Blackwell.” Hoặc là “Blackman[16].” Kể cả “Nhà kho Midnight[17].” Hoặc “Nhà kho Dark[18].” Hay “Rainbow[19]” đều được.

Khuôn mặt của Mẹ trở nên kì lạ, như thể có ai đó làm đau Mẹ, và nói, “Siêu Kho.”

Tôi không còn đếm nổi những lần trở nên thất vọng.


[1] Trạm thiên văn Hayden (Hayden Planetarium): một trạm thiên văn công cộng, nằm trong Trung tâm Rose về Trái đất và Vũ trụ thuộc Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Hoa Kỳ ở thành phố New York.

Nửa trên của Trạm Hayden là Nhà Sao, với việc trình chiếu lên mái vòm hình ảnh có độ phân giải cao chương trình “trình chiếu vũ trụ” dựa trên các hình ảnh ba chiều được tạo lập từ những dữ liệu vật lý học thiên thể cập nhật, thêm vào đó là một hệ thống trình chiếu có tên Ngôi sao Zeiss nhằm mô tả bầu trời sao về đêm nếu quan sát từ Trái đất. Nửa dưới của Trạm là Nhà Big Bang, nơi đây trình chiếu quá trình hình thành nên vũ trụ trong một chương trình kéo dài bốn phút. Khi du khách rời khỏi nhà Thiên văn,  họ sẽ tới triển lãm Qui mô của Vũ trụ mà trưng bầy nhiều kích cỡ khác nhau của vũ trụ; ngay bản thân đường ra cũng là sự trình diễn về lược sử của Vũ trụ từ thời kỳ Big Bang đến hiện tại. Không gian triển lãm này dẫn tới Nhà Big Bang và đi vào Đường Vũ trụ, mà mô tả lịch sử của vũ trụ. Từ cuối Đường Vũ trụ, du khách có thể dừng lại ở Sảnh Trái đất để tìm hiểu về khoa địa chất, khí tượng, kiến tạo địa chất và nhiều thứ khác, hoặc đi xuống Sảnh Vũ trụ để khám phá về các hành tinh, các ngôi sao, thiên hà, etc.

[2] Benjamin Franklin (17/1/1706 – 17/4/1790) là một trong những người lập nước nổi tiếng của Hoa Kỳ. Ông là một chính trị gia, một nhà khoa học, một tác giả, một thợ in, một triết gia, một nhà phát minh, nhà hoạt động xã hội, nhà ngoại giao hàng đầu. Trong lĩnh vực khoa học, ông là gương mặt điển hình của lịch sử vật lý vì những khám phá của ông và những lý thuyết về điện, vd như các khám phá về hiện tượng sấm sét. Ông rất nổi tiếng vê sự ham hiểu biết của mình.

[3] Henry Ford (1863 – 1947): là người sáng lập ra Công ty Ford Motor. Ông là một trong những người đầu tiên áp dụng sản xuất kiểu dây chuyền lắp ráp trong sản xuất ô tô.

[4] Eli Whitney: nhà khoa học phát minh ra trục nâng cotton, bộ phận thay thế

[5] Alexander Graham Bell (3/3/1847 – 2/8/1922) là nhà phát minh, nhà khoa học, nhà cải cách người Scotland. Sinh ra và trưởng thành ở Edinburg, Scotland, ông đã di cư đến Canada năm 1870 và sau đó đến Hoa Kỳ năm 1871, trở thành công dân Hoa Kỳ năm 1882. Ông được biết đến với phát minh ra điện thoại vào năm 1876.

[6] George Washington Carver (1864 – 1943) nhà khoa học, thực vật học, nhà giáo dục, và nhà phát minh người Mỹ. Ngày tháng năm sinh chính xác của ông không được biết rõ, và ông được cho rằng sinh ra vào thời kỳ nô lệ ở Missouri vào tháng 1 năm 1864. Ông được biết đến với nghiên cứu và sự cổ vũ cho kỹ thuật trồng hoa màu đan xem với cây bông, như là các loài lạc, đậu nành, và khoai lang, mà cũng góp phần cải thiện dinh dưỡng cho các gia đình nông dân. Điều mà ông mong muốn là những người nông dân nghèo có cơ hổi được cải thiện chất lượng cuộc sống.

[7] Nikola Tesla: (Никола Тесла) (10/7/1856 – 7/1/1943) là nhà phát minh, nhà vật lý, kỹ sư cơ khí và kỹ sư điện tử. Ông là người Serb ở Đế quốc Áo và sau này trở thành công dân Hoa Kỳ. Tesla được biết đến với nhiều đóng góp mang tính cách mạng trong các lĩnh vực điện tử và từ trường trong cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20. Các phát minh của ông và các công trình lý thuyết đã làm nên cơ sở của hệ thống điện xoay chiều, bao gồm cả hệ thống phân phối điện nhiều pha và động cơ điện xoay chiều, là tiền đề cho cuộc Cách mạng công nghiệp lần 2.

Vì tính cách lập dị và những tuyên bố kỳ lạ và khó tin về sự phát triển của khoa học kỹ thuật, Tesla bị cô lập và bị coi là một nhà bác học điên lúc cuối đời. Ông chết năm 86 tuổi trong một phòng khách sạn ở New York với một số tiền ít ỏi trong túi.

[8] Anh em nhà Wright: hai anh em người Mỹ gồm Orville Wright (19/ 8/1871 – 30/1/1948) và Wilbur Wright (16/4/1867 – 30/5/1912), là những người đầu tiên thử nghiệm thành công cho máy bay bay được.

Chuyến bay đầu tiên trong lịch sử nhân loại được thực hiện vào ngày 17 tháng 12 năm 1903 tại đồi Kill Devil, Kitty Hawk, bang Bắc Carolina, Mỹ. Mỗi anh em thực hiện hay chuyến bay vào ngày hôm đó. Lần bay đầu tiên, do Orville thực hiện kéo dài 12 giây và bay được khoảng 36,5m. Lần bay cuối cùng, do Wilbur thực hiện kéo dài 59 giây và bay được 296m. Chiếc máy bay lúc đó được gọi là Flyer I. Nó có sải cánh khoảng 12m và nặng khoảng hơn 300kg, với động cơ xăng 12 mã lực. Hiện nay chiếc máy bay này đang được đặt tại Viện bảo tàng Hàng không và Không gian Quốc gia Hoa Kỳ tại Washington, D. C..

[9] J. Robert Oppenheimer (22/4/1904 – 18/2/1967) là nhà vật lý lý thuyết người Mỹ, được biết đến với vai trò giám đốc của Dự án Manhattan. Trong Chiến tranh Thế giới II, mục đích của dự án này là phát triển các loại vũ khí hạt nhân đầu tiên tại phòng thí nghiệm bí mật Los Alamos ở New Mexico. Được biết đến như là “cha đẻ của bom hạt nhân,” Oppenheimer đã tỏ ra ân hận khi thấy sức giết người khủng khiếp của quả bom sau khi nó được sử dụng để phá hủy các thành phố Hiroshima và Nagasaki. Sau chiến tranh, ông là cố vấn chính cho Ủy ban năng lượng hạt nhân Hoa Kỳ vừa mới được thành lập, ông đã dùng vị trí này để vận động cho việc kiểm soát năng lượng nguyên tử trên toàn thế giới và tránh khỏi cuộc chạy đua hạt nhân với Liên Xô. Sau khi làm nổi giận nhiều chính trị gia và các nhà khoa học khác với các quan điểm chính trị của ông, ông đã bị tước quyền an ninh (quyền được biết nhiều bí mật quốc gia) trong một phiên điều trần chính trị vào năm 1954. Một thập kỷ sau, Tổng thống John F. Kennedy đã tặng thưởng ông Huy chương Enrico Fermi như là một dấu hiệu trả lại quyền chính trị.

[10] dây 4 hay khối 4 (corner blocks hay plate blocks): một thuật ngữ trong sưu tập tem, thường giống nhau trong cùng một mẫu, rất hiếm vì rất khó để xé dây 4 hay khối 4 kiểu này, giá trị rất cao.

[11] Kofi Annan (1938 -), nhà ngoại giao người Ghana. Ông đảm nhận vai trò Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc từ năm 1997 đến cuối năm 2006.

[12] Jacques Chirac (29/11/1932), ông được bầu làm Tổng thống Pháp vào năm 1995 và 2002.

[13] Edward Osborne “E. O.” Wilson (10/1929) là nhà sinh học, nhà nghiên cứu (sinh học xã hội, đa dạng sinh học), nhà lý luận, nhà tự nhiên học và tác gia. Chuyên môn sinh học của ông là côn trùng học, nghiên cứu về loài kiến, mà ông được xem là nhà khoa học hàng đầu thế giới. Wilson còn được biết đến như là “cha đẻ của môn sinh học xã hội,” sự bảo vệ tích cực của ông đối với môi trường, và các quan điểm về con người và thần luận của ông đối với tôn giáo và đạo đức.

[14] Alfred Matthew “Weird Al” Yankovic (23/10/1959) là ca sĩ – nhạc sĩ, nhà sản xuất âm nhạc, nghệ sĩ đàn accordion, diễn viên, diễn viên hài kịch, và người viết thơ nhại người Mỹ. Yankovic được biết đến với những ca khúc hài hước và những bài hát nhại trong các vở kịch nhạc. Kể từ khi biểu diễn ca khúc hài hước đầu tiên vào năm 1976, ông đã bán được hơn 12 triệu album với hơn 150 bài hát nhại và bài hát nguyên bản. Ông giành được 3 giải Grammy trong số 9 đề cử, 4 đĩa vàng, và 6 đĩa bạc ở Mỹ. Album đầu tiên của Yankovic lọt vào bảng Top 10 Billboard (Straight Outta Lynwood) và đĩa đơn (“White & Nerdy”) đều được phát hành vào năm 2006, gần như là 30 năm sau khi ông bắt đầu sự nghiệp của mình.

[15] Nam Tư (Yugoslavia) trong thời kỳ trước từng có tên gọi là Liên bang Dân chủ Nam Tư (1943) rồi Liên bang Cộng hoà Nhân dân Nam Tư (1946) rồi Công hoà Liên bang XHCN Nam Tư (1963), bao gồm các nhà nước cộng hoà XHCN hợp thành như: CH XHCN Slovenia, CH XHCN Croatia, CH XHCN Bosna và Hercegovina, CH XHCN Montenegro, CH XHCN Serbia (gồm các tỉnh tự trị Vojvodina và Kosovo, sau này được gọi đơn giản là Kosovo), và CH XHCN Mecedonia. Bắt đầu từ năm 1991, CH LB XHCN Nam Tư tan rã trong những cuộc chiến tranh Nam Tư kéo theo sự li khai của hầu hết các thực thể cộng hoà. Quốc gia cuối cùng mang tên này là Cộng hoà Liên bang Nam Tư (FRY) được thành lập ngày 27/3/1992. Đây là một liên bang trên lãnh thổ của hai nước cộng hoà (chưa li khai) là Serbia (gồm các khu tự trị là Vojvodina và Kosovo) và Montenegro. Ngày 4/2/2003, nó được đổi tên lại thành Liên bang Serbia và Montenegro, và chính thức xoá bỏ cái tên Nam Tư. Ngày 3/6/2006 và 5/6/2006, Montenegro và Serbia lần lượt tuyên bố độc lập, vì thế chấm dứt những tàn tích cuối cùng của một nhà nước Nam Tư.

[16] blackman: (tiếng Anh) người da đen

[17] midnight: (tiếng Anh) nửa đêm

[18] dark: (tiếng Anh) bóng tối

[19] rainbow: (tiếng Anh) cầu vồng

//

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: