Extremely Loud & Incredibly Close (4)

Image

GOOGOLPLEX[1] (1)

Về chiếc lắc tay mà Mẹ đeo vào hôm đám ma, những gì tôi làm là dịch tin nhắn thoại cuối cùng của Ba sang mã Morse[2], và tôi dùng các hạt cườm màu xanh dương để biểu thị khoảng thời gian yên lặng, hạt cườm màu nâu sẫm biểu thị khoảng cách giữa các chữ cái, hạt cườm màu tím biểu thị khoảng cách giữa các từ, và các dải dây dài hoặc ngắn giữa các hạt cườm biểu thị tiếp bíp dài và ngắn, mà thực ra phải được gọi là tiếng lách tách, tôi nghĩ vậy, hoặc là cái gì đó tương tự như thế. Ba chắc sẽ biết rõ phải gọi nó là gì. Tôi mất tới chín giờ đồng hồ để làm chiếc vòng, và tôi nghĩ sẽ đưa nó cho Sonny, người vô gia cư mà thỉnh thoảng tôi vẫn thường thấy đứng bên ngoài trụ sở Alliance Française[3], bởi vì ông ấy khiến tôi thấy bận tâm, hoặc cũng có thể tôi sẽ đưa nó cho Lindy, người phụ nữ đứng tuổi ăn mặc gọn gàng mà làm hướng dẫn viên tình nguyện tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, và khi ấy tôi có thể sẽ trở nên đặc biệt trong mắt bà ấy, hoặc chỉ đơn giản là tôi sẽ tặng lại nó cho ai đó đang phải chịu cảnh ngồi xe lăn. Nhưng rốt cục tôi lại đưa nó cho Mẹ. Mẹ nói rằng đó là món quà tuyệt nhất mà Mẹ từng nhận. Tôi hỏi Mẹ liệu nó có tuyệt hơn món Edible Tsunami[4] không, vì khi ấy tôi đang nghĩ tới lĩnh vực khí tượng học. Mẹ trả lời, “Khác chứ.” Tôi hỏi Mẹ rằng có phải Mẹ đang có chuyện yêu đương với chú Ron không. Mẹ nói, “Chú Ron là một người rất tốt,” để trả lời cho câu hỏi mà tôi không hề đưa ra. Nên tôi hỏi lại. “Đúng hay là sai: mẹ có yêu chú Ron không.” Mẹ vuốt tóc bằng bàn tay có đeo nhẫn cưới và nói, “Oskar ạ, chú Ron là bạn của mẹ mà.”  Tôi định hỏi Mẹ rằng có phải Mẹ cõng bạn của mình trên lưng không, và nếu như Mẹ trả lời là có, thì tôi sẽ phải bỏ nhà mà đi, và nếu như câu trả lời của Mẹ là không, thì tôi sẽ hỏi tiếp rằng có phải hai người bọn họ đã âu yếm nhau say sưa không, và tôi thì biết rõ điều ấy có nghĩa là gì. Tôi muốn nói với Mẹ rằng Mẹ không nên chơi trò Scrabble[5] vội. Hoặc là soi gương. Hoặc là bật dàn stereo quá to so với mức thông thường. Bởi vì như thế thì thật là không công bằng với Ba, và với cả tôi nữa. Nhưng tôi nuốt hết những điều này vào trong lòng. Tôi làm tặng Mẹ những trang sức có thông điệp của Ba theo mã Morse — một cái vòng đeo cổ, một cái lắc chân, vài chiếc bông tai, và một chiếc băng đô – nhưng chiếc lắc tay là thứ đẹp nhất, có thể bởi vì đó là thứ tôi làm sau cùng, nên nó trở nên quý giá hơn cả. “Mẹ này?” “Sao con?” “Không có gì ạ.”

Dù một năm đã trôi qua, nhưng tôi vẫn cảm thấy khó khăn khi làm một số việc nhất định, chẳng hạn như đi tắm, vì một lý do nào đó, và bước vào trong thang máy, lẽ dĩ nhiên. Có rất nhiều thứ khiến cho tôi hoảng sợ, như là những chiếc cầu treo, vi trùng, máy bay, pháo hoa, những người Ả Rập trên tàu điện ngầm (dù tôi không hề phân biệt chủng tộc), những người Ả Rập trong các quán ăn và các tiệm cà phê và các địa điểm công cộng khác, giàn giáo, máy khoan và các cánh cổng dẫn xuống ga tàu điện ngầm, những túi hành lý không rõ chủ nhân, những đôi giày, những người để râu, khói, các mối nối, những tòa nhà cao tầng, và khăn xếp[6]. Nhiều khi tôi có cảm giác như thể tôi đang ở giữa một đại dương bao la đen ngòm, hoặc trong một khoảng không sâu hun hút, nhưng không phải theo kiểu lý tưởng kia. Chỉ là, mọi thứ bỗng trở nên hoàn toàn xa lạ đối với tôi. Và vào ban đêm cảm giác ấy trở nên tồi tệ nhất. Tôi bắt đầu tạo ra các sự việc, và tôi không thể nào ngừng lại được, như là những con hải ly vậy, điều ấy thì tôi biết. Mọi người cho rằng bọn hải ly cắn đổ các cây gỗ để xây dựng những con đập của chúng, nhưng thực ra chúng làm như vậy là vì răng của chúng cứ liên tục dài ra, và nếu chúng không gặm nhấm các thân cây thì răng chúng sẽ tiếp tục mọc vào trong mặt chúng, và khi đó chúng sẽ chết. Não bộ tôi cũng ở trong tình trạng ấy.

Một đêm nọ, sau khi cảm thấy như thể tôi đã tạo ra đến hàng googolplex những phát minh, tôi chui vào trong tủ quần áo của Ba. Chúng tôi từng đấu vật theo kiểu La Mã ở trong này, và kể những câu truyện cười, và có một lần chúng tôi treo một con lắc từ trên trần nhà và sắp xếp một vòng tròn domino quanh sàn nhà để chứng minh rằng trái đất đang quay. Nhưng tôi chưa từng quay lại nơi này kể từ khi Ba mất. Mẹ đang ngồi với chú Ron trong phòng khách, nghe nhạc quá to và chơi trò xếp chữ. Mẹ chẳng còn nhớ tới Ba của tôi nữa. Tôi giữ tay nắm cửa mất một lúc trước khi xoay cho nó mở ra.

Dù cho cỗ quan tài của Ba hoàn toàn trống rỗng, thì cái tủ quần áo này lại chứa đầy những vật dụng thân quen. Dù sau một năm trời, chúng vẫn có cái mùi của kem cạo râu thân thiết ấy. Tôi chạm vào tất cả những cái áo thun trắng của Ba. Tôi chạm vào chiếc đồng hồ đắt tiền của Ba mà Ba chẳng bao giờ đeo và những chiếc dây giầy dự bị cho đôi giày vải của Ba mà Ba không bao giờ còn có thể xỏ vào chân mà chạy trong công viên nữa. Tôi thò tay vào những cái túi của áo khoác (tôi tìm thấy một tờ biên lai đi xe taxi, một tờ giấy bọc kẹo hiệu Krackle, và tấm danh thiếp của một nhà cung cấp kim cương). Tôi xỏ chân vào đôi dép lê mà Ba vẫn thường đi. Tôi nhìn thấy bóng mình trên cái bót đi giày bằng kim loại. Một người bình thường có thể ngủ thiếp đi trong vòng bảy phút, nhưng tôi không ngủ được, sau hàng giờ liền, và tôi cảm thấy dễ chịu hơn nhiều khi ở bên các món đồ của Ba, và khi chạm vào những thứ mà Ba đã từng chạm vào, và làm cho quần áo trên các mắc treo thẳng thớm hơn một chút, dù tôi biết điều ấy mới thật vô nghĩa làm sao.

Bộ vest của Ba được vắt trên chiếc ghế mà Ba vẫn thường ngồi xuống lúc buộc dây giày, và tôi nghĩ, Lạ quá. Ta sao Ba lại không treo nó lên như những bộ đồ khác? Có phải Ba đã tham dự một buổi tiệc vào trước đêm Ba mất? Nhưng nếu thế thì tại sao Ba lại không treo nó lên? Hay là Ba muốn đem nó đi giặt khô? Nhưng tôi nhớ tối đó Ba không dự buổi tiệc nào cả. Tôi nhớ rằng hôm ấy Ba đã ôm tôi vào lòng, và chúng tôi nghe một người nói tiếng Hi Lạp trên đài phát thanh ở băng tần ngắn, và Ba kể tôi nghe câu truyện về tiểu khu số sáu của New York. Nếu như tôi không nhận ra có điều gì đó thật lạ, tôi sẽ không phải nghĩ về bộ vest. Nhưng tôi bắt đầu nhận ra rằng có quá nhiều điểm lạ thường hiện hữu.

Nằm trên kệ cao nhất là một chiếc bình hoa màu xanh. Một chiếc bình hoa màu xanh xinh xắn nằm trên đó làm gì nhỉ? Tôi không thể với tới, dĩ nhiên, nên tôi dịch chiếc ghế với bộ vest vẫn còn ở đó lại gần, và rồi tôi chạy về phòng mình để lấy bộ Tuyển tập Shakespeare mà Bà nội mua cho tôi khi nghe tin tôi sẽ vào vai Yorick, và tôi bê chúng sang, bốn vở bi kịch mỗi lần, cho tới khi chồng sách đủ cao đối với tôi. Tôi đứng lên và mọi thứ đều rất ổn trong vòng vài giây. Nhưng rồi khi tôi với tay chạm vào cái bình, những vở bi kịch bắt đầu lung lay, và bộ vest làm tôi xao đãng, và điều diễn ra tiếp theo là tất cả mọi thứ đều nằm trên sàn, kể cả tôi và cả chiếc bình hoa, giờ đã vỡ tan thành nhiều mảnh nhỏ. “Con không làm gì cả!” tôi la lên, nhưng họ không hề nghe thấy tiếng tôi, bởi vì họ bất nhạc quá to và cười quá nhiều lúc đó. Tôi chui vào chiếc túi ngủ của mình, không phải bởi vì tôi bị đau, và cũng không vì tôi đã làm vỡ một món đồ, mà bởi vì họ vẫn cứ cười đùa. Dù tôi biết là không nên, nhưng tôi tự véo mình một cái thật đau.

Tôi bắt đầu dọn dẹp, và khi ấy tôi nhìn thấy một điều lạ lùng khác. Ngay giữa đống thủy tinh vỡ là một cái phong bì nhỏ, có kích cỡ bằng một cái thẻ tín dụng. Cái gì thế nhỉ? Tôi mở phong bì ra, bên trong là một chiếc chìa khóa. Cái gì đây, cái gì đây thế này? Chiếc chìa khóa có hình thù rất lạ, dĩ nhiên là để cất giữ một thứ gì đó vô cùng quan trọng, bởi vì nó dày hơn và ngắn hơn một chiếc chìa thông thường. Tôi không giải thích được: một chiếc chìa khóa dày và ngắn, trong một cái phong bì nhỏ, trong một cái bình hoa màu xanh, trên ngăn tủ cao nhất.

Điều đầu tiên tôi làm là việc có tính logic, là phải bí mật và thử tra chiếc chìa khóa vào mọi ổ khóa trong nhà. Dù không thử thì tôi cũng biết chắc rằng nó không phải là chìa khóa mở cửa ra vào, bởi vì nó không giống với chiếc chìa khóa mà tôi vẫn luồn vào dây và đeo vào cổ mình và dùng để mở cửa khi không có ai khác ở nhà. Tôi đi kiễng chân để không không gây sự chú ý của mọi người, tôi thử ổ khóa cửa buồng tắm, và cửa các phòng ngủ khác, và cả các ngăn kéo trong tủ quần áo của Mẹ. Tôi thử tra vào ngăn kéo của chiếc bàn ở phòng bếp nơi Ba thường kiểm tra các hóa đơn, và cả ngăn tủ bên cạnh tủ đựng đồ mà thỉnh thoảng tôi vẫn trốn vào khi chúng tôi chơi trò trốn tìm, và cả hộp đựng trang sức của Mẹ nữa. Nhưng không một ổ khóa nào được mở ra.

Nằm trên giường đêm đó tôi sáng chế ra một loại ống dẫn đặc biệt mà sẽ nằm dưới mọi chiếc gối trong thành phố New York này, và sẽ được dẫn ra hồ nước. Bất kỳ khi nào con người ta khóc để rồi ngủ thiếp đi, nước mắt sẽ cùng chảy về một nơi, và vào buổi sáng hôm sau chuyên gia dự báo thời tiết trên đài có thể thông báo rằng liệu mực nước trong Lệ Hồ sẽ lên hay xuống, và ta có thể biết liệu thành phố New York có phải đang cảm thấy rất buồn. Và khi có điều thực sự khủng khiếp xảy ra – như một vụ nổ bom nguyên tử, hoặc ít ra là một vụ tấn công bằng vũ khí sinh học nào đó – thì một tiếng còi báo động thật to sẽ vang lên, báo cho mọi người biết rằng ngay lập tức phải tới Central Park và chất các bao cát quanh cái hồ chứa nước.

Dù sao thì.

Buổi sáng hôm sau tôi bảo Mẹ rằng tôi không muốn đi học, bởi vì tôi bị ốm. Đó là lời nói dối đầu tiên trong đời tôi. Mẹ đặt tay lên trán tôi và nói, “Trán con có hơi nóng thật.” Tôi nói, “Con vừa cặp nhiệt độ và nhiệt kế chỉ 38o C.” Đó là lời nói dối thứ hai. Mẹ quay người lại và bảo tôi kéo khóa váy ở sau lưng cho Mẹ, điều mà Mẹ có thể tự mình làm lấy được, nhưng Mẹ biết là tôi rất thích làm việc này. Mẹ bảo, “Hôm nay mẹ sẽ họp cả ngày, nhưng bà nội có thể ghé qua nếu con cần bất cứ điều gì, và mẹ sẽ gọi điện cho con mỗi giờ.” Tôi bảo Mẹ, “Nếu như con không trả lời được, thì có thể là con đang ngủ hoặc đi toa lét ạ.” Mẹ bảo, “Con phải trả lời điện thoại đấy.”

Ngay khi Mẹ đi làm, tôi mặc quần áo vào và đi xuống cầu thang. Stan đang quét vỉa hè trước tòa nhà. Tôi cố vượt qua bác ấy mà không gây chú ý, nhưng bác ấy vẫn nhận ra tôi. “Cháu có vẻ không ốm đau gì đâu nhỉ,” bác ấy nhận xét, hất một đống lá cây xuống mặt đường. Tôi trả lời, “Nhưng mà cháu cảm thấy ốm lắm.” Bác ấy hỏi, “Thế ông Cảm Thấy Ốm đi đâu đấy?” Tôi nói, “Ra hiệu thuốc ở Đường 84 để mua thuốc ho ạ.” Lời nói dối #3. Nơi mà tôi đến thật ra là một tiệm khóa, có tên Frazer & Sons, nằm trên phố 79.

“Cháu muốn đánh khóa nhà nữa đấy à?” Bác Walt hỏi tôi. Tôi đập tay với bác ấy, và tôi đưa cho bác ấy xem chiếc chìa khóa mà tôi vừa tìm thấy, và hỏi xem bác ấy có biết gì về nó hay không. “Đây là loại khóa dùng để mở một chiếc hộp nào đó,” bác ấy nói, giơ nó lên trước mặt và soi nó bằng cái kính lúp. “Một cái két, bác đoán thế. Cháu có thể biết được điều này qua hình dáng của cái chìa.” Bác chỉ cho tôi thấy một dãy treo đến hàng tấn chìa khóa. “Thấy chưa, nó không giống cái nào trong số này cả. Cái này thì dày hơn hẳn. Nên cứng hơn.” Tôi chạm vào tất cả những chiếc chìa khóa mà tôi có thể với tới, và nó khiến tôi cảm thấy dễ chịu vì một lý do nào đó. “Nhưng không phải là một cái két cố định, bác không nghĩ vậy. Không phải là loại két lớn. Chắc là thứ có thể di chuyển được. Có thể là một cái két gửi đồ. Mà là loại cũ. Hoặc là hộp đựng bình cứu hỏa[7].” Điều ấy khiến tôi bật cười, dù tôi biết chẳng có gì đáng cười cả về việc bị bệnh chậm phát triển cả. “Đây là một chiếc chìa khóa kiểu cổ,” bác ấy nói. “Có thể được làm ra cách đây hai mươi, ba mươi năm gì đó.” “Làm sao bác biết ạ?” “Khóa là những gì mà bác biết.” “Bác siêu thế.” “Và giờ thì không còn nhiều những chiếc hộp dùng khóa để mở nữa.” “Không ạ?” “Ừ, giờ thì hiếm người dùng chìa khóa nữa.” “Cháu vẫn dùng chìa khóa đây này,” tôi bảo bác, và tôi đưa cho bác ấy xem chìa khóa nhà của tôi. “Bác biết,” bác ấy nói. “Nhưng những người như cháu thuộc loại hiếm đấy. Giờ người ta thường dùng thẻ từ. Rồi mật mã điện tử. Và nhận diện bằng dấu vân tay.” “Thế cũng tuyệt ạ.” “Bác thì vẫn thích khóa hơn.” Tôi suy nghĩ mất một phút, và rồi tôi cảm thấy rất, rất buồn. “Ôi, nếu những người như cháu là hiếm hoi, thì việc kinh doanh của bác sẽ ra sao?” “Bọn bác sẽ trở thành các chuyên gia,” bác ấy nói, “giống như những cửa hàng máy đánh chữ chẳng hạn. Giờ thì bọn bác rất hữu ích, còn sau này sẽ trở thành thú vị.” “Có thể là bác cần một hướng kinh doanh mới đấy.” “Nhưng mà bác chỉ thích lĩnh vực này thôi.”

Tôi nói, “Cháu có một câu hỏi mà cháu đang thắc mắc.” Bác ẩy bảo, “Chơi luôn.” “Chơi luôn?” “Chơi luôn. Tới đi. Cứ hỏi.” “Bác là Frazer, hay là Son[8] ạ?” “Bác là Grandson[9], thật ra là vậy. Ông nội bác là người mở ra cửa hàng này.” “Hay thật.” “Nhưng bác nghĩ bác cũng là Son, vì bố của bác cũng là chủ nơi này hồi ông ấy còn sống. Và bác cũng là cả Frazer nữa, vì con trai của bác thường đến đây làm việc vào mùa hè.”

Tôi nói, “Cháu còn một câu hỏi nữa.” “Chơi luôn.” “Bác có nghĩ là cháu có thể tìm được công ty sản xuất ra chiếc chìa khóa này không?” “Bất kỳ ai cũng có thể làm ra nó.” “Ôi, vậy thì, điều cháu muốn biết là làm sao cháu tìm được cái ổ khóa phù hợp bây giờ?” “Bác sợ là điều ấy thì bác không giúp được, ngoài việc nói rằng cháu hãy thử tất cả những cái ổ khóa mà cháu trông thấy. Bác có thể đánh một chiếc khác cho cháu bất cứ lúc nào cháu muốn.” “Cháu có thể có googolplex chiếc chìa khóa.” “Googolplex?” “Một googol của số googol ạ.” “Googol?” “Đó là số một với một trăm chữ số không đằng sau ạ.” Bác ấy đặt tay lên vai tôi và nói, “Cháu cần một cái ổ khóa.” Tôi với lên thật cao và đặt tay lên vai bác ấy, “Rõ.”

Lúc tôi rời đi bác ấy hỏi, “Thế cháu không đi học à?” Tôi suy nghĩ thật nhanh và trả lời, “Hôm nay là Ngày Dr. Martin Luther King Jr.[10] ạ.” Lời nói dối #4. “Bác tưởng ngày ấy là vào tháng 1 chứ nhỉ.” “Trước đây thôi ạ.” Lời nói dối #5.

Khi tôi quay trở về nhà, Stan bảo tôi, “Cháu có thư này!”

Oskar thân mến,

Xin chào, anh bạn! Cảm ơn bức thư của cậu và cả bộ dùi trống chống đạn, mà tôi ước gì không bao giờ phải dùng đến! Tôi phải thú thật rằng, tôi chưa bao giờ phải suy nghĩ quá nhiều về việc đưa ra các bài học…

Tôi hi vọng rằng cậu thích chiếc áo phông tôi gửi tặng, mà tôi tự cho mình quyền ký tên lên đó.

Thân ái,
Ringo

Tôi không thích cái áo phông! Và thật là trùng hợp, cái áo ấy không phải màu trắng, nên tôi không thể mặc nó.

Tôi vuốt bức thư của Ringo sao cho thật phẳng phiu và đính nó lên tường. Rồi tôi tiến hành một cuộc tìm kiếm nhỏ trên Internet về các ổ khóa ở New York, và tôi tìm thấy được rất nhiều thông tin hữu ích. Ví dụ như, có đến 319 bưu điện và 207.352 thùng thư. Mỗi thùng thư lại có một chiếc chìa khóa, hiển nhiên là vậy. Tôi cũng tìm được thông tin rằng trong thành phố có khoảng 70.571 phòng khách sạn, và hầu như tất cả các phòng này đều có một ổ khóa chính, một ổ khóa ở phòng tắm, một ổ khóa tủ đồ, và một ổ khóa tủ rượu. Tôi không biết tủ rượu là cái gì, vì thế tôi gọi điện thoại đến khách sạn Plaza Hotel, mà tôi biết là một nơi nổi tiếng, và hỏi họ. Rồi tôi cũng biết nghĩa của từ tủ rượu. Ngoài ra còn có hơn 300.000 cái ô tô ở New York, con số này chưa tính đến 12.187 cái xe taxi và 4.425 cái xe buýt. Và, tôi vẫn nhớ rằng khi mà tôi từng đi lại bằng tàu điện ngầm thì các bác trưởng tàu cũng dùng chìa khóa để mở và đóng các cánh cửa, nên cũng phải tính tới cả những cái tàu điện ngầm nữa chứ. Có đến hơn 9 triệu người sống ở New York (cứ mỗi 50 giây lại có một đứa bé sinh ra ở New York), và mọi người đều phải sống ở một nơi nào đó, và hầu hết các căn hộ đều có hai ổ khóa cửa trước, và ít nhất là một cái ở phòng tắm, và có thể là ở những phòng khác nữa, và chắc chắn không thể không kể đến các tủ quần áo và hộp đựng đồ trang sức. Rồi cả các cơ quan, các studio nghệ thuật, các nhà kho, và các ngân hàng với những két gửi tiền và các loại tài sản quý giá, các cánh cổng dẫn ra sân vườn, và cả các khu đỗ xe. Tôi đoán rằng nếu ta tính đến tất cả các khả năng – từ khóa xe đạp tới cái chốt cửa trên những mái nhà tới những thứ như là khuy măng sét chẳng hạn – thì trung bình mỗi một người dân New York sở hữu chừng 18 cái ổ khóa, tổng cộng là 162 triệu ổ khóa, có nghĩa là cả một biển ổ khóa.

“Nhà Schell xin nghe… Con chào mẹ… Một chút ạ, con nghĩ thế, nhưng con vẫn hơi mệt… Không ạ… Uh-huh… Uh-huh… Con nghĩ … Con nghĩ là con sẽ gọi món Ấn Độ … Nhưng mà… Vâng. Uh-huh. Con sẽ… Con biết rồi… Con biết rồi mà… Con chào mẹ.”

Tôi tự tính giờ và nhận thấy tôi mất khoảng 3 giây để mở một cái ổ khóa. Rồi tôi luận ra rằng nếu như một đứa bé sinh ra ở New York trong mỗi 50 giây, và mỗi một người có đến 18 cái ổ khóa, thì cứ mỗi giây sẽ có một cái ổ khóa mới được tạo ra ở New York. Nên ngay cả nếu như tôi có mở tất cả các ổ khóa, thì tôi vẫn không tài nào đuổi kịp tốc độ tăng lên của các ổ khóa. Và điều ấy chỉ có thể thực hiện được nếu như tôi không phải tốn thời gian để chạy từ cái ổ khóa này sang cái khác, và nếu như tôi không ăn, và cả không ngủ, giả định này cũng ổn thôi, bởi vì tôi không ngủ thật. Tôi vẫn cần đến một kế hoạch tốt hơn.

Đêm ấy, tôi xỏ vào đôi găng tay trắng, và đi đến chỗ cái thùng rác trong tủ đồ của Ba, và mở cái túi mà tôi đã vứt vào trong các mảnh vỡ của chiếc bình hoa. Tôi tìm kiếm các manh mối mà có thể dẫn tôi đến một phương hướng nào đó. Tôi phải thật cẩn thận để không làm mất đi các manh mối, hoặc là để Mẹ biết tôi đang làm gì, hoặc là làm đứt tay hoặc làm mình bị nhiễm trùng, và tôi tìm thấy chiếc phong bì đựng chiếc chìa khóa. Rồi tôi nhận ra một điều mà một người thám tử tài ba có thể nhận thấy ngay từ đầu: từ “Black” được viết ở đằng sau chiếc phong bì. Tôi tức điên lên vì đã không nhận ra điều này hôm trước nên tôi tự véo mình một cái thật đau. Chữ của Ba thật là lạ. Nó có vẻ hơi nghiêng nghiêng, như thể khi ấy Ba đang viết vội, hoặc là Ba viết từ đó trong lúc nghe điện thoại, hoặc là đang suy nghĩ về một chuyện nào khác. Không biết là lúc ấy Ba đang nghĩ gì nhỉ?

Tôi Google và tìm ra rằng Black không phải là tên của một công ty sản xuất két đựng đồ. Tôi thấy hơi bị thất vọng, bởi vì đó là một suy luận có tính logic, và luôn là suy luận hay nhất, dù thật ra đó không phải là lời giải thích duy nhất. Rồi tôi tìm ra rằng có một nơi gọi là Black ở mỗi bang trên toàn nước Mỹ, và thật ra thì mỗi một quốc gia trên trái đất này đều thế. Ở Pháp, ví dụ vậy, có một nơi được gọi là Noir[11]. Nên cách giải thích ấy cũng trở nên vô nghĩa. Rồi tôi tiến hành tìm kiếm theo vài hướng khác, dù tôi biết điều này chỉ khiến tôi thêm phần khó chịu, bởi vì tôi chẳng tiến tới được điều gì. Tôi in ra vài bức hình mà tôi tìm được trên mạng – một con cá mập đang tấn công một cô gái, một ai đó đang đi trên đoạn dây chênh vênh nối giữa hai tòa tháp đôi, ảnh một cô diễn viên đang “thổi kèn” với một anh bạn trai bình thường, một người lính bị cưa đầu ở Iraq, một vị trí trên bức tường mà bức tranh nổi tiếng từng được treo tại đó bị đánh cắp – và tôi dán chúng vào cuốn sổ Những Điều Xảy Ra Quanh Tôi, cuốn sổ sưu tầm tất cả mọi thứ diễn ra quanh tôi.

Sáng hôm sau tôi bảo với Mẹ rằng tôi không thể đến trường. Mẹ hỏi tôi cảm thấy không ổn ở chỗ nào. Tôi bảo Mẹ, “Cũng như tất cả những điều sai lầm khác thôi.” “Con ốm à?” “Con buồn ạ.” “Về Ba à?” “Về tất cả mọi thứ ạ.” Mẹ ngồi xuống giường với tôi, dù tôi biết khi ấy mẹ đang rất vội. “Mọi thứ là sao?” Tôi bắt đầu đếm bằng các ngón tay: “Thịt và các sản phẩm từ sữa trong tủ lạnh nhà mình, trò đấm bốc, tai nạn xe hơi, Larry—” “Larry là ai?” “Cái ông vô gia cư ở trước Viện Bảo tàng Lịch sử Quốc gia ấy mà luôn nói là ‘Tôi hứa là để mua thức ăn’ mỗi lần hỏi xin tiền.” Mẹ quay lưng lại và tôi kéo khóa cái váy của Mẹ trong khi tôi tiếp tục liệt kê. “Làm sao mà mẹ lại không biết Larry là ai được, khi mà mẹ có thể đã nhìn thấy bác ấy bao nhiêu lần như thế, làm sao mà Buckminster lại chỉ có ngủ và ăn và đi ị và không có một raison d’être nào cả, cả cái anh thu vé vừa lùn vừa xấu mà như là khoogn có cổ ở rạp IMAX nữa, làm thế nào mà mặt trời có thể sẽ nổ tung vào một ngày nào đó, làm thế nào mà cứ mỗi lần sinh nhật con luôn nhận được ít nhất một thứ mà con đã có rồi, những người nghèo bị bệnh béo phì vì họ ăn những thứ đồ ăn kém tiêu chuẩn vì chúng rẻ hơn nhiều…” Và khi ấy thì tôi hết cả ngón tay để sử dụng, nhưng cái danh sách của tôi thì mới chỉ ở điểm xuất phát, và tôi đợi thật lâu, bởi tôi biết Mẹ sẽ không đi ra khỏi phòng nếu tôi chưa nói xong. “… những con thú bị thuần hóa, làm sao mà con lại có một con thú bị thuần hóa, Microsoft Window, những người già cứ ngồi suốt cả ngày bởi vì không một ai nhớ ra để trò chuyện hoặc dành thời gian bên họ và họ thì rất ngại đòi hỏi mọi người về điều đó, các bí mật, điện thoại quay số, làm sao mà những cô phục vụ bàn người Trung Quốc có thể mỉm cười ngay cả khi chẳng có gì đáng cười hoặc là khi họ không hề hạnh phúc, và làm sao mà những người Trung Quốc lại làm chủ những nhà hàng Mexico còn những người Mexico lại không mở các nhà hàng Trung Quốc, những cái gương, máy chiếu phim, sự vô danh của con ở trường học, mấy cái phiếu giảm giá của Bà nội, các nhà kho, những người không biết Internet là gì, chữ xấu, những bài hát hay, làm sao mà trong năm mươi năm tới con người sẽ không còn tồn tại –” “Ai bảo con là con người sẽ không còn tồn tại vào năm mươi năm nữa?” Tôi hỏi lại, “Mẹ là người lạc quan hay bi quan ạ?” Mẹ nhìn đồng hồ và nói, “Mẹ là người lạc quan.” “Thế thì con có vài tin xấu cho mẹ, bởi vì con người sẽ tàn diệt nhau nên điều đó rồi sẽ sớm xảy ra.” “Thế tại sao những bài hát hay lại làm con buồn?” “Bởi vì chúng không nói lên sự thật ạ.” “Không bao giờ ư?” “Chẳng có gì là đẹp mà lại thật cả.” Mẹ mỉm cười, nhưng theo một cách không hạnh phúc, và nói, “Con nói giống như ba vậy.”

“Ý mẹ là gì khi bảo con nói giống như ba?” “Ba con cũng từng nói những điều như vậy.” “Như thế nào ạ?” “À, như là chẳng có gì là thế này và thế kia. Hoặc là tất cả mọi thứ đều thế này và thế kia. Hay là hiển nhiên rồi.” Mẹ bật cười. “Ba con luôn rất quả quyết.” “‘Quả quyết’ là gì ạ?” “Có nghĩa là chắc chắn. Nó xuất phát từ từ ‘quyết đoán.’” “Thế có vấn đề gì với sự quả quyết ạ?” “Ba con đôi khi không nhìn thấy cả rừng cây.” “Rừng cây nào ạ?” “Không có gì đâu.”

“Mẹ này?” “Sao con?” “Con thấy khó chịu lắm khi mẹ nói rằng điều con làm khiến mẹ nhớ đến ba.” “Ôi. Cho mẹ xin lỗi nhé. Mẹ hay nói thế lắm à?” “Lúc nào cũng thế cả.” “Mẹ có thể hiểu vì sao con thấy khó chịu.” “Và bà nội thì luôn nói rằng những điều con làm khiến bà nhớ tới ông. Bà làm con thấy lạ lắm, vì ông đã bỏ đi từ lâu lắm rồi. Và điều đó còn khiến con cảm thấy con chẳng có gì đặc biệt cả.” “Đó là điều cuối cùng mà cả bà và mẹ đều muốn. Con biết rõ là con là người đặc biệt nhất đối với chúng ta mà, đúng không?” “Con đoán là thế.” “Là nhất đấy.”

Mẹ vuốt tóc tôi một lúc, và những ngón tay của Mẹ dịch chuyển xuống đằng sau tai tôi chỗ mà Mẹ chưa bao giờ chạm vào.

Tôi hỏi Mẹ rằng liệu tôi có thể kéo lại dây khóa sau váy của mẹ không. Mẹ bảo, “Có chứ,” và quay lưng lại. Mẹ nói, “Mẹ nghĩ sẽ tốt hơn nếu con cố gắng đến trường.” Tôi trả lời, “Con đang cố.” “Có lẽ nếu con chỉ học tiết đầu tiên thôi cũng được.” “Con còn không ra được khỏi giường cơ ạ.” Lời nói dối #6. “Và bác sĩ Fein nói rằng con nên nghe theo cảm xúc của mình. Bác ấy nói rằng thỉnh thoảng con nên cho phép mình nghỉ ngơi thì hơn.” Điều này thì không hẳn là một lời nói dối, dù vậy nó cũng không hẳn là sự thật. “Mẹ chỉ không muốn việc này sẽ trở thành một thói quen,” Mẹ nói. “Không đâu ạ,” tôi trả lời Mẹ. Khi Mẹ đặt tay lên tấm trải giường, Mẹ có thể thấy bên dưới êm đến mức nào, bởi vì Mẹ hỏi tôi có phải là tôi đã mặc quần áo rồi không. Tôi nói với Mẹ, “Có ạ, bởi vì con lạnh quá.” #7. “Ý con là, người con cũng có lúc nóng ran lên.”


[1] googolplex: là một số nguyên có giá trị bằng 10^googol, có nghĩa là có googol số 0 sau chữ số 1. Con số này chỉ là một con số lý thuyết, vì thực tế chẳng có một thứ gì trên trái đất này dù rất nhiều như: số tế bào, số phân tử… đạt tới số lượng này.

Googol là một số nguyên rất lớn bằng 10100, hay có 100 chữ số 0 sau chữ số 1: 10,­000,­000,­000,­000,­000,­000,­000,­000,­000,­000,­000,­000,­000,­000,­000,­000,­000,­000,­000,­000,­000,­000,­000,­000,­000,­000,­000,­000,­000,­000,­000,­000,­000. Thuật toán này được Milton Sirotta (1929–1981) đưa ra năm 1938 khi ông mới 9 tuổi.

[2] mã Morse hay mã Moóc-xơ là một loại mã hóa ký tự dùng để truyền các thông tin điện báo. Mã Morse dùng một chuỗi đã được chuẩn hóa bao gồm các phần tử dài và ngắn để biểu diễn các chữ cái, chữ số, dấu chấm và các ký tự đặc biệt của một thông điệp. Các phần tử ngắn và dài có thể được thể hiện bằng âm thanh, các dấu hay gạch, hoặc các xung.

[3] Alliance Française: (tiếng Pháp) Cộng đồng Pháp ngữ

[4] Edible Tsunami hay Tsunami Roll là một loại sushi được làm từ thịt cua giả và trứng cá.

[5] Scrabble: trò chơi ghép từ. Có thể chơi từ 2 người trở lên. Bắt đầu xuất phát từ ô vuông trung tâm của một tấm bảng vuông (thường là bằng bìa cứng); mỗi người chơi lần lượt ghép các chữ cái mà mình bốc được từ trong một cái túi và ghép thành từ có nghĩa lên một bảng vuông có kẻ các ô vuông nhỏ, số điểm được tính theo vị trí các chữ cái đặt trên bảng đó.

[6] khăn xếp: khăn đội đầu của đàn ông, bằng cách quấn chặt một dải vải quanh đầu, nhất là những người Hồi giáo.

[7] hộp đựng bình cứu hỏa: fire-retardant cabinet; retardant: (tiếng Anh) thiểu năng

[8] son: (tiếng Anh) con trai

[9] grandson: (tiếng Anh) cháu nội, cháu ngoại

[10] Dr. Martin Luther King Jr.(15/1/1929 – 4/4/1968) là Mục sư Baptist, nhà hoạt động dân quyền người Mỹ gốc Phi, và là người đoạt giải Nobel Hòa bình năm 1964. Ông là một trong những nhà lãnh đạo có ảnh hưởng lớn nhất trong lịch sử Hoa Kỳ cũng như lịch sử đương đại của phong trào bất bạo động. King được nhiều người trên khắp thế giới ngưỡng mộ như một anh hùng, nhà kiến tạo hòa bình và thánh tử đạo.

King dẫn dắt cuộc tẩy chay xe buýt diễn ra ở Montgomery (1955 – 1956), và giúp thành lập Hội nghị Lãnh đạo Cơ Đốc miền Nam (1957), trở thành chủ tịch đầu tiên của tổ chức này, Năm 1963, King tổ chức cuộc tuần hành tại Washington, và đọc bài diễn văn nổi tiếng “Tôi có một giấc mơ” trước hàng ngàn người tụ tập về đây. Ông nâng cao nhận thức của công chúng về phong trào dân quyền, và được nhìn nhận là một trong những nhà hùng biện vĩ đại nhất trong lịch sử Hoa Kỳ. Năm 1964, King là nhân vật trẻ tuổi nhất được chọn để nhận giải Nobel Hòa bình vì những nỗ lực chấm dứt nạn kỳ thị chủng tộc qua biện pháp bất tuân dân sự, và các phương tiện bất bạo động khác.

Ngày 4/4/1968, King bị ám sát tại Memphis, Tennessee. Năm 1977, Tổng thống Jimmy Carter truy tặng King Huân chương Tự do của Tổng thống. Đến năm 1986, ngày Martin Luther King, Jr. được công nhận là quốc lễ. Năm 2004, ông được truy tặng Huân chương vàng Quốc hội.

[11] Noir: (tiếng Pháp) màu đen. Cũng giống như từ “black” trong tiếng Anh.

//

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: