Extremly Loud & Incredibly Close (2)

THẾ CÒN? (tiếp)

 Image

Giờ thì khác rồi, nhưng trong một thời gian dài tôi từng ao ước được tiếp quản công việc kinh doanh đồ trang sức của gia đình. Ba lúc nào cũng bảo tôi rằng tôi quá thông minh cho việc bán hàng. Điều ấy đối với tôi thật vô lý, bởi vì Ba thì thông minh hơn tôi, nên nếu như tôi quá thông minh để đi bán hàng, vậy thì Ba hẳn là quá đỗi thông minh cho việc bán hàng là đằng khác. Và tôi bảo với Ba như thế. “Trước hết,” Ba bảo tôi, “ba không hề thông minh hơn con, chẳng qua là ba biết nhiều hơn mà thôi, và như thế là bởi ba lớn hơn con nhiều. Cha mẹ thì luôn biết nhiều hơn con cái, và con cái thì luôn thông minh hơn cha mẹ.” “Trừ trường hợp đứa trẻ ấy bị thiểu năng ạ,” tôi nhắc Ba. Ba không có ý kiến gì về điều ấy. “Ba nói là ‘trước hết,’ thế thì tiếp theo là gì ạ?” “Tiếp theo, nếu như ba rất thông minh thật, thì tại sao ba lại đi bán hàng nào?” “Đúng ạ,” tôi nói. Và rồi tôi nghĩ ra: “Nhưng mà khoan đã ạ, làm sao mà gọi là gia nghiệp được nếu như không có ai trong gia đình nối nghiệp hả ba?” Ba trả lời, “Đúng rồi. Nhưng đó sẽ là gia nghiệp của một gia đình khác.” Tôi hỏi, “Ôi, thế còn nhà mình thì sao hả ba? Nhà mình có mở ra một hướng kinh doanh mới không ạ?” Ba nói, “Mình sẽ làm một thứ gì đó.” Tôi nhớ lại chuyện ấy trong lần thứ hai ngồi trên xe limousine, khi mà người thuê nhà và tôi đang trên đường tới nghĩa trang nơi chôn chiếc quan tài trống không của Ba vào lòng đất.

Một trò tuyệt vời mà Ba và tôi thường hay chơi vào Chủ nhật là trò Trinh thám. Đôi khi trò Trinh thám cực kỳ đơn giản, như là Ba sẽ bảo tôi tìm kiếm một thứ gì đó từ mỗi thập niên của thế kỷ hai mươi – tôi là thằng nhóc thông minh và vì thế tôi mang về một hòn đá – và đôi khi trò này lại trở nên vô cùng phức tạp và kéo dài hàng tuần. Lần gần đây nhất, mà tôi chưa bao giờ có thể hoàn thành, Ba đưa cho tôi một tấm bản đồ của Central Park[1]. Tôi hỏi, “Và?” Và Ba trả lời, “Và cái gì?” Tôi nói, “Gợi ý là gì ạ?” Ba bảo tôi, “Có ai bảo là có gợi ý đâu nào?” “Thì vẫn luôn có manh mối còn gì nữa ạ.” “Không có đâu, con tự xoay sở đi.” “Thế chả lẽ không có gợi ý gì thật ạ?” Ba bảo, “Trừ khi không có gợi ý gì là một gợi ý.” “Thế không có gợi ý gì là một gợi ý ạ?” Ba nhún vai, như thể Ba không hiểu tôi đang nói gì. Và điều ấy thì tôi rất thích.

Tôi dành cả ngày để đi loanh quanh công viên, tìm kiếm bất kỳ thứ gì có thể mang lại lời gợi ý, nhưng vấn đề là tôi không có ý niệm gì về thứ tôi đang tìm kiếm. Tôi tiếp cận mọi người và hỏi han rằng họ có biết điều gì đó mà tôi nên biết hay không, bởi vì thỉnh thoảng Ba sẽ thiết kế trò chơi Trinh thám theo kiểu tôi buộc phải nói chuyện với người lạ. Nhưng những người mà tôi gặp ngày hôm ấy đều như thể, Cái gì cơ? Tôi tìm kiếm manh mối xung quanh khu hồ nước. Tôi đọc mọi tấm áp phích dán trên những cột đèn đường và các thân cây. Tôi xem xét cả những bảng giới thiệu về các con thú trong khu sở thú. Tôi còn bắt cả những người chơi thả diều phải thu diều của họ về để kiểm tra dù tôi biết rằng như thế thật vô ích. Nhưng Ba vẫn thường gian manh như vậy đấy. Chẳng có gì cả, mà đó là sự không may mắn, trừ khi không có gì cả là một manh mối. Liệu không gì cả có phải là một manh mối không nhỉ?

Tối đó chúng tôi gọi món ở General Tso’s Gluten cho bữa tối và tôi nhận ra rằng Ba dùng nĩa, dù Ba rất giỏi dùng đũa. “Khoan đã!” tôi la lên, và đứng bật dậy. Tôi chỉ vào cái nĩa mà Ba đang cầm. “Đấy có phải là manh mối không ba?” Ba nhún vai, điều ấy đối với tôi có nghĩa là một manh mối vô cùng quan trọng. Tôi nghĩ: Nĩa, nĩa. Tôi chạy vù vào phòng thí nghiệm của mình và cầm theo cái máy dò kim loại từ cái hộp nằm trong tủ. Bởi vì tôi không được ra ngoài công viên một mình vào buổi tối, Bà nội sẽ đi cùng với tôi. Tôi bắt đầu từ cửa vào công viên ở đường Tám mươi sáu và đi theo những đường thẳng tắp, như thể tôi là một anh chàng Mexico  đang xén cỏ vậy, nên tôi sẽ chẳng bỏ lỡ một điều gì. Tôi biết lũ côn trùng rất ồn ào vì bấy giờ đương là mùa hè, nhưng tôi không nghe thấy tiếng kêu của chúng bởi vì tôi đang đeo tai nghe. Lúc ấy chỉ có tôi và đống kim loại nằm dưới mặt đất mà thôi.

Mỗi khi tiếp bíp bíp vang lên liên hồi, tôi liền bảo Bà rọi đèn pin vào điểm đó. Rồi tôi xỏ tay vào đôi găng màu trắng, lấy cái bay ra từ trong túi dụng cụ, và xới đất nhẹ nhàng. Khi tôi nhìn thấy cái gì đó, tôi dùng cái chổi sơn để phủi sạch bụi, giống như một nhà khảo cổ học vậy. Cho dù tôi mới chỉ tìm kiếm trong một phạm vi nhỏ của công viên đêm đó, tôi đã đào được một đồng xu, và một đống cái kẹp giấy, và thứ mà tôi nghĩ là một đoạn dây từ một cái đèn mà ta có thể kéo để cho đèn sáng lên, và một cái nam châm đính vào cửa tủ lạnh có hình miếng sushi. Tôi bỏ tất cả các manh mối này vào một cái túi và đánh dấu vị trí tìm kiếm hôm đó lên tấm bản đồ.

Khi về đến nhà, tôi xem xét lại các manh mối trong phòng thí nghiệm của mình với chiếc kính hiển vi, mỗi lần một thứ: một cái thìa bị cong, vài cái đinh vít, một cái kéo cùn, một cái ô tô đồ chơi, một cái bút, một chiếc chìa khóa, cái kính bị gãy thuộc về một ai đó bị cận thị nặng…

Tôi mang chúng cho Ba xem, lúc ấy Ba đang đọc tờ New York Times bên bàn ăn, đánh dấu các lỗi sai trên tờ báo bằng mực đỏ. “Con tìm thấy rồi,” tôi nói, đẩy con mèo của tôi khỏi bàn để lấy chỗ đặt khay đựng manh mối. Ba nhìn vào cái khay và gật đầu. Tôi hỏi, “Nên?” Ba nhún vai như thể ông không hiểu tôi nói gì, và ông quay lại với tờ báo. “Ba có thể nói cho con biết là con đang đi đúng hướng haiy không ạ?” Buckminster kêu rừ..ừ…ừ, và Ba lại nhún vai. “Nhưng nếu ba không nói gì, thì làm sao con biết được là con có đang đi đúng hướng hay không?” Ba khoanh tròn chữ gì đó trên tờ báo và trả lời, “Một cách nhìn khác đối với vấn đề, làm sao con có thể sai lầm được?”

Ba đứng dậy để rót nước uống, và tôi xem xét ba khoanh tròn cái gì trên tờ báo, bởi vì Ba tôi vẫn thường gian xảo như thế. Đó là bài báo về một cô gái bỗng nhiên bị mất tích, và mọi người đều suy đoán rằng viên đại biểu quốc hội đưa cô gái đi đã sát hại cô ta. Vài tháng sau đó họ tìm thấy thi thể cô gái ở Rock Creek Park[2], thuộc Washington, D.C.[3], nhưng rồi mọi thứ thay đổi, và chẳng còn ai bận tâm đến câu chuyện đó nữa, ngoại trừ cha mẹ của cô gái.

Đó không phải là một lỗi chính tả! Đó là một lời nhắn dành cho tôi!

Tôi quay lại công viên mỗi tối trong ba ngày tiếp theo đó. Tôi đào được một cái kẹp tóc, và một dây tiền xu, và một cái đinh bấm, và một cái mắc áo, và một cái pin 9V, và một con dao quân đội Thụy Sĩ[4], và một khung ảnh nhỏ, và một cái thẻ tên của một con chó có tên Turbo, và một miếng giấy nhôm hình vuông, và một cái nhẫn, và một cái dao cạo râu, và một cái đồng hồ dây cổ lỗ sĩ chỉ 5:37, dù tôi không biết đấy là  buổi sáng hay tối. Nhưng tôi vẫn không thể tìm ra được ý nghĩa của tất cả những thứ ấy. Càng tiến hành tìm kiếm, tôi lại càng thấy mơ hồ hơn.

Tôi trải tấm bản đồ ra bàn ăn, và tôi giữ các góc bản đồ bằng các hộp đựng pin V8. Các điểm đánh dấu nơi tôi tìm kiếm đồ vật trông như những vì sao trong vũ trụ. Tôi nối chúng lại, giống một nhà thiên văn học, và nếu ta nheo mắt lại cho giống với một người Trung Quốc, thì nó sẽ giống như từ “mong manh.” Mong manh. Cái gì mong manh? Có phải là Central Park mong manh không? Có phải là thiên nhiên mong manh? Có phải những thứ tôi tìm thấy mong manh? Một cái đinh bấm không phải là thứ mong manh. Có phải một cái thìa cong là mong manh. Tôi xóa chúng đi, và nối các điểm theo cách khác, và tạo thành từ “cửa.” Cái cửa mong manh? Rồi tôi nghĩ về từ porte, theo tiếng Pháp nghĩa là cửa, dĩ nhiên là vậy. Tôi lại xóa đi và nối các điểm thành từ “porte.” Tôi phát hiện ra rằng tôi có thể nối các điểm lại để tạo thành từ “cyborg[5],” và “thú mỏ vịt[6],” và “ngực,” và cả chữ “Oskar,” nữa nếu như bạn là người Trung Quốc thật. Tôi có thể nối các điểm để tạo thành hầu hết những từ mà tôi muốn, điều đó có nghĩa là tôi chẳng tiến gần được đến thứ gì cả. Và giờ thì tôi sẽ chẳng biết được tôi định tìm kiếm thứ gì. Và đó là một trong những nguyên nhân làm cho tôi mất ngủ.

Dù sao thì.

Tôi không được phép xem TV ở nhà, dù vậy tôi được phép thuê các bộ phim tài liệu phù hợp với tôi, và tôi có thể đọc bất cứ thứ gì tôi muốn. Cuốn sách yêu thích của tôi là A Brief History of Time[7], dù tôi chưa thực sự hoàn thành việc đọc nó, bởi vì phần toán quá khó và Mẹ thì không giỏi trong việc giúp đỡ tôi. Một trong những phần yêu thích của tôi là đoạn mở đầu chương 1, nơi mà Stephen Hawking[8] kể về một nhà khoa học nổi tiếng có một lần đã giảng giả về cách trái đất quay quanh mặt trời, và mặt trời quay quanh hệ mặt trời, và bất cứ thứ gì. Rồi một người phụ nữ ở cuối phòng giơ tay lên và nói, “Những gì giáo sư nói thật vớ vẩn. Trái đất này là một mặt phẳng được đỡ bởi một con rùa khổng lồ.” Rồi nhà khoa học hỏi người phụ nữ rằng con rùa đó đứng ở đâu. Và người phụ nữ trả lời, “Nhưng đó là con rùa đang chổng ngược!”

Tôi thích câu chuyện ấy, bởi vì nó cho thấy con người ta cố chấp đến nhường nào. Và cũng bởi vì tôi rất thích loài rùa nữa.

Một vài tuần sau ngày tồi tệ nhất, tôi bắt đầu viết rất nhiều thư. Tôi không biết tại sao, nhưng đó là một trong những việc ít oi khiến cho tảng đá trong lòng tôi nhẹ bớt. Một điều kỳ quặc là thay vì dùng những con tem bình thường, tôi lại sử dụng bộ sưu tập tem của mình, kể cả những con tem rất có giá trị, mà đôi khi khiến cho tôi phân vân rằng có phải điều mà tôi thực sự muốn là cố gắng chối bỏ mọi thứ. Lá thư đầu tiên tôi viết cho Stephen Hawking. Và tôi dùng một con tem Alexander Graham Bell[9].

Kính gửi ngài Stephen Hawking,

Liệu cháu có thể trở thành người được ngài bảo trợ không ạ?

Xin cảm ơn,
Oskar Schell

Tôi đoán ông ấy sẽ không trả lời, vì ông là một con người vĩ đại và tôi thì rất bình thường. Nhưng rồi một ngày tôi từ trường trở về và Stan đưa tôi một phong thư và nói, “Cháu có thư này!” theo giọng của AOL[10] mà tôi dạy bác ấy. Tôi chạy 105 bậc thang lên căn hộ nhà tôi, và chạy vào phòng thí nghiệm của tôi, và chui vào tủ quần áo, và bật đèn lên, và mở bức thư. Nội dung bức thư được đánh máy, đây là điều hiển nhiên, vì Stephen Hawking không thể điều khiển được bàn tay của ông, bởi vì ông bị chứng bệnh xơ cúng teo cơ một bên[11], mà tôi biết, thật là không may.

Cảm ơn về bức thư của cháu. Do bác nhận được rất nhiều thư, mà bác không thể viết thư trả lời riêng cho cháu được. Tuy nhiên, cháu cần biết rằng bác đọc và giữ lại tất cả các lá thư, với hi vọng rằng sẽ hồi âm vào một ngày thích hợp nào đó. Hẹn gặp lại vào ngày đó,

Thân mến,

Stephen Hawking

Tôi gọi cho Mẹ. “Oskar hả con?” “Mẹ nhấc máy trước cả khi chuông reo.” “Mọi chuyện vẫn ổn chứ?” “Con cần một cái máy dát kim loại ạ.” “Máy dát kim loại á?” “Có thứ này tuyệt lắm mà con muốn lưu giữ lại.”

Ba luôn ôm tôi vào lòng, và Ba luôn kể cho tôi nghe những câu chuyện tuyệt nhất, và chúng tôi sẽ cùng đọc tờ New York Times với nhau, và đôi khi Ba sẽ huýt sáo bài “I Am the Walrus[12],” bởi vì đó là bài hát mà Ba yêu thích, dù ba không giải thích được cho tôi về ý nghĩa của nó, và điều này khiến tôi thấy rất buồn. Còn một điều tuyệt vời nữa là Ba luôn có thể tìm thấy lỗi sai trong mỗi bài báo mà chúng tôi đọc. Đó có thể là lỗi chính tả, hoặc lỗi về vị trí địa lý hay các sự kiện khác, và đôi khi những bài báo chỉ đơn giản là không truyền tải một câu chuyện đầy đủ. Đối với tôi, việc có một người bố thông minh hơn tờ New York Times là điều tuyệt vời, và tôi thích việc má tôi có thể cảm thấy lông ngực của Ba qua làn áo phông, và cả việc Ba luôn có mùi của kem cạo râu, dù đã vào thời điểm cuối ngày. Ở bên Ba khiến đầu óc tôi luôn bình tĩnh lại. Và tôi không buộc phải tạo ra một thứ gì đó để làm cả.

Khi Ba ôm tôi vào lòng đêm đó, cái đêm trước ngày khủng khiếp ấy, tôi hỏi Ba nếu trái đất này là một mặt phẳng được đỡ trên lưng của một con rùa khổng lồ thì sẽ ra sao? “Gì cơ?” “Chỉ là đó là lý do tại sao trái đất lại đứng yên tại vị trí của nó thay vì rơi tự do trong vũ trụ này?” “Có phải tôi đang ôm Oskar của tôi không nhỉ? Có tên ngoài hành tinh nào bắt cóc bộ óc của thằng bé thích làm thí nghiệm rồi hay sao ấy?” Tôi nói, “Chúng ta không tin vào người ngoài hành tinh đâu ạ.” Ba trả lời, “Trái đất thật sự rơi trong vũ trụ. Con biết điều này mà, anh bạn. Nó luôn luôn rơi về phía mặt trời. Đó chính là ý nghĩa của việc quay quanh quỹ đạo.” Nên tôi nói, “Đương nhiên ạ, nhưng tại sao lại có lực hấp dẫn hả ba?” Ba bảo, “Ý con khi hỏi tại sao lại có trọng lực là sao?” “Lý do là gì ạ?” “Thế ai bảo con là cần phải có nguyên nhân?” “Không ai ạ, đúng là vậy.” “Câu hỏi của ba chỉ mang tính tu từ.” “Nghĩa là sao hả ba?” “Nghĩa là ba không hỏi câu ấy để kiếm câu trả lời, mà là để đưa ra một quan điểm.” “Quan điểm gì ạ?” “Rằng không cần phải có lý do.” “Nhưng nếu như không có lý do gì cả, thì tại sao vũ trụ lại tồn tại hả ba?” “Bởi vì những điều kiện có thể chấp nhận được.” “Thế tại sao con lại là con của ba?” “Bởi vì Mẹ và ba quan hệ với nhau, và một con tinh trùng của ba gặp được một trứng của Mẹ.” “Xin thứ lỗi vì con buồn nôn quá.” “Đừng phô trương thế.” “Ôi, điều con không hiểu là tại sao chúng ta lại tồn tại cơ. Con không nói là như thế nào, mà là tại sao ạ.” Tôi tượng tượng ra những con đom đóm bay quanh đầu Ba khi ông suy nghĩ. Ba bảo, “Cúng ta tồn tại bởi vì chúng ta tồn tại.” “Thế là sao?” “Ta có thể tưởng tượng ra mọi loại vũ trụ không giống như vũ trụ này, nhưng đây là thực tại của ta.”

Tôi hiểu điều mà Ba muốn nói, và tôi không phải không đồng ý với điều đó. Chỉ bởi vì ta là một kẻ vô thần, điều đó không có nghĩa là ta không yêu thích những điều mà ta không tìm ra được câu trả lời cho câu hỏi vì sao.

Tôi bật cái radio ở băng tầng thấp, và với sự giúp đỡ của Ba tôi nghe thấy có ai đó đang nói tiếng Hi Lạp, nghe cũng hay. Chúng tôi không hiểu những gì ông ta nói, nhưng chúng tôi nằm đó, nhìn lên chòm sao dạ quang nơi trần nhà, và nghe nó trong một lúc. “Ông nội con biết tiếng Hi Lạp đấy,” ông nói. “Phải là ông nói tiếng Hi Lạp chứ,” tôi sửa lại. “Ừ. Nhưng ông không nói thứ tiếng ấy ở đất nước này.” “Có thể là mình đang nghe ông nói trên đài đấy ba ạ.” Trang đầu tờ báo bao trùm lấy chúng tôi như một chiếc chăn. Có tấm ảnh chụp phần lưng của một tay vợt tennis, mà tôi đoán là người chiến thắng trận đấu, nhưng tôi không biết được anh ta đang vui hay đang buồn.

“Ba ơi?” “Ừ?” “Ba kể chuyện cho con nghe đi?” “Ừ.” “Một chuyện thật hay vào ba nhé?” “Chuyện này sẽ khác hẳn những chuyện chán ốm trước đây ba từng kể đấy.” “Đúng đấy ạ.” Tôi nhích thật gần lại người Ba, mũi tôi gần như chạm vào nách Ba. “Nhưng con không được cắt ngang đâu nhé?” “Con sẽ cố ạ.” “Bởi vì như thế thì ba khó kể hết chuyện lắm.” “Và như thế thì bực mình lắm ạ.” “Ừ, thế thì bực mình lắm.”

Ngay khoảnh khắc trước khi Ba bắt đầu kể là thời điểm yêu thích nhất của tôi.

“Ngày xửa ngày xưa, Thành phố New York có sáu tiểu khu.” “Tiểu khu là gì ạ?” “Như thế là cắt ngang đấy nhé.” “Con biết ạ, nhưng con sẽ chẳng hiểu câu chuyện nếu con không biết tiểu khu là gì cả.” “Nó giống như là một khu vực ấy. Hoặc là một vài khu vực gộp lại.” “Ơ, nếu có tiểu khu số sáu thì năm tiểu khu kia là gì ạ?” “Thì Manhattan này, dĩ nhiên rồi, Brooklyn, Queens, Đảo Staten, và cả Bronx nữa.” “Con đã đến những nơi đấy chưa hả ba?” “Lại thế rồi.” “Con chỉ muốn biết thôi mà ba.” “Chúng ta đã đến Vườn thú Bronx rồi này, cách đây vài năm ấy. Có nhớ không nào?” “Không ạ.” “Và chúng ta cũng đã tới Brooklyn để ngắm hoa hồng trong Vườn Thực vật nữa này.” “Thế con đã đến Queens chưa hả ba?” “Chắc là chưa.” “Thế còn Đảo Staten ạ?” “Chưa.” ‘Thế có thật là có tiểu khu thứ sáu không ạ?” “Thì ba đang kể về nó đây.” “Con không cắt ngang nữa đâu ạ. Con hứa đấy.”

Khi câu truyện kết thúc, chúng tôi lại bật đài và tìm thấy có ai đó đang nói tiếng Pháp. Thật là hay, bởi vì nó làm tôi nhớ tới kỳ nghỉ mới đây của chúng tôi, mà tôi ước gì nó chẳng bao giờ kết thúc cả. Sau một lúc, Ba hỏi tôi có còn thức hay không. Tôi trả lời Ba là không, vì tôi biết Ba sẽ không rời đi cho tới khi tôi ngủ, và tôi thì không muốn Ba phải mệt mỏi trong buổi làm việc vào sáng hôm sau. Ba hôn lên trán tôi và chúc ngủ ngon, và rồi Ba bước ra cửa.

“Ba ơi?” “Ừ, sao thế anh bạn?” “Không có gì ạ.”

Lần tiếp theo tôi nghe thấy tiếng Ba là khi tôi từ trường về nhà vào ngày hôm sau. Chúng tôi tan học sớm bởi sự kiện xảy ra. Tôi không hề lo lắng, bởi vì cả Mẹ và Ba đều làm việc ở trung tâm thành phố, và Bà nội thì dĩ nhiên là không đi làm nữa, vì thế tất cả những người mà tôi quen biết đều đã an toàn.

Tôi biết rõ mình về đến nhà vào lúc 10:18, bởi vì tôi đã nhìn đồng hồ đeo tay rất nhiều lần. Căn hộ thật trống trải và yên tĩnh. Khi tôi đi vào bếp, tôi phát minh ra một cái đòn bẩy có thể đặt ở cửa trước, mà sẽ kéo được một cái bánh xe khổng lồ trong phòng khách mà có thể quay một cái răng kim loại được treo từ trên trần nhà, và thế là nó sẽ chơi những bản nhạc thật hay, chẳng hạn như “Fixing a Hole[13]” hay “I Want to Tell You[14],” và cả căn nhà này sẽ là một cái hộp âm nhạc khổng lồ.

Sau một vài giây vuốt ve Buckminster, để chứng tỏ cho nó biết là tôi yêu nó, tôi kiểm tra hộp thư thoại. Khi ấy tôi chưa có điện thoại di động, và lúc chúng tôi rời trường về nhà, Toothpaste bảo với tôi rằng chúng tôi sẽ đi xem nó tập trượt ván ở công viên, hay là chúng tôi sẽ đi xem trộm tạp chí Playboy[15] ở hàng tạp hóa với các lối đi mà không một ai biết được ta đang xem thứ gì.

Tin nhắn đầu tiên. Thứ Ba, 8:52 sáng. Có ai ở nhà không? Xin chào? Anh đây. Nếu em có đó thì hãy nhấc máy đi. Anh thử gọi điện đến văn phòng, nhưng không có ai nhấc máy. Nghe này, có chuyện gì đó đang diễn ra thì phải. Anh vẫn ổn. Họ nói bọn anh hãy ở nguyên tại chỗ và chờ lính cứu hỏa tới. Anh chắc là mọi chuyện rồi sẽ ổn thôi. Anh sẽ gọi lại khi tìm hiểu rõ hơn chuyện gì đang xảy ra. Anh chỉ muốn em biết rằng anh vẫn ổn, và không cần phải lo cho anh. Anh sẽ gọi lại sớm.

Còn có bốn tin nhắn nữa từ Ba: một vào lúc 9:12, một vào lúc 9:31, một vào lúc 9:46, và một vào lúc 10:04. Tôi nghe hết tất cả số tin nhắn đó, và nghe chúng lại lần nữa, và trước cả khi tôi có thời gian để luận ra nên làm gì, hoặc nên nghĩ gì hay cảm thấy gì, thì chuông điện thoại bắt đầu reo.

Đó là vào lúc 10:22:27.

Tôi nhìn số gọi đến và đấy là Ba.


[1] Công viên Trung tâm (Central Park): là một công viên công cộng ở Manhattan thuộc thành phố New York, Hoa Kỳ. Công viên ban đầu mở cửa năm 1857, trên 843 mẫu Anh trên khu đất thuộc sở hữu thành phố. Central Park thuộc trong số các công viên đô thị lớn nhất thế giới, khi so sánh với Bois de Vincennes (995 ha; 2,458 acres) và Bois de Boulogne (846 ha; 2,090 acres) của Paris , Richmond Park (955 ha; 2,360 acres) của London, Casa de Campo (1,723 ha; 4,256 acres) của Madrid, và Griffith Park (1,740 ha; 4,310 acres) của Los Angeles. Mỗi năm công viên đón tiếp khoảng 36 triệu khách tham quan.

[2] Rock Creek Park: là một khu tự nhiên lớn trong lòng khu đô thị với các tiện ích công viên công cộng mà cắt đôi Washington, D.C. Công viên này rộng 1,754 mẫu vuông, dọc theo thung lũng Rock Creek. Nếu tính chung cả các khu vực xanh khác thuộc địa phận hành chính của công viên (Glover Archbold Park, Montrose Park, Dumbarton Oaks Park, Meridian Hill Park, Battery Kemble Park, Palisades Park, Whitehaven Park, …), thì tổng diện tích là trên 2,000 mẫu vuông. Phần chính của khu này nằm ở phía bắc của Vườn thú quốc gia, và được thành lập theo quyết định của Quốc hội và được Tổng thống Benjamin Harrison thông qua vào ngày 27/9/1890

[3] Washington, D.C.: (Hán Việt: Hoa Thịnh Đốn) là thủ đô của Hoa Kỳ, được thành lập ngày 16/7/1790. Mang tên chính thức District of Columbia, có nghĩa Đặc khu Columbia, thành phố này còn thường được gọi là Washington, the District, hoặc đơn giản hơn là D.C. Về địa vị chính trị thì Washington, D.C. được xem là gần như tương đương với các tiểu bang của Hoa Kỳ. Washington, D.C. là nơi tiếp nhận 173 đại sứ quán nước ngoài cũng như các tổng hành dinh của Ngân hàng Thế giới (World Bank), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Tổ chức các quốc gia châu Mỹ (OAS), Ngân hàng Phát triển liên Mỹ, và Tổ chức Y tế Liên Mỹ (PAHO). Ngoài ra còn có tổng hành dinh của các cơ quan khác như các liên đoàn lao động, các nhóm vận động hành lang, và các hội đoàn nghiệp vụ cũng đặt tại nơi này.

[4] dao quân đội Thụy Sĩ có thể coi là một thương hiệu riêng để chỉ các loại dao díp bỏ túi hay loại dụng cụ đa năng được sản xuất bởi Victorinox AG và Wenger SA. Cụm từ “Dao Quân đội Thụy Sĩ ” được biết đến bởi quân lính Mỹ sau Thế chiến 2 vì những khó khăn họ gặp phải trong việc phát âm tiếng Đức. Con dao quân đội Thụy Sĩ đầu tiên được sản xuất tại Ibach, Thụy Sĩ vào năm 1891 sau khi công ty Karl Elsener, mà sau này trở thành Victorinox, giành được hợp đồng sản xuất loại dao Modell 1890 của Quân đội Thụy Sĩ từ một nhà sản xuất của Đức trước đây. Một con dao quân đội Thụy Sĩ thường có một lưỡi dao, cũng như các công cụ khác, như tua vít và mở hộp và các chức năng khác. Các ‘dụng cụ’ này thường được xếp gọn ghẽ bên trong phần tay cầm của con dao thông qua một cơ chế xoay quanh điểm chốt. Tay cầm thường có màu đỏ, và có in logo chữ thập của hãng Victorinox hoặc Wenger. Thiết kế và tính đa năng của con dao khiến nó trở nên nổi tiếng trên toàn thế giới.

[5] cyborg: nhân vật trong tiểu thuyết khoa học viễn tưởng có tính cách nửa người nửa người máy

[6] thú mỏ vịt: loài thú nhỏ có lông, có mỏ như vịt, chân có màng, đuôi bằng, đẻ trứng nhưng nuôi con bằng sữa.

[7] A Brief History of Time (Lược Sử Thời Gian) là một cuốn sách khoa học phổ thông được viết bởi Stephen W. Hawking và được xuất bản lần đầu tiên bởi Nhóm Xuất bản Bantam Dell vào năm 1988. Nó trở thành cuốn sách bán chạy nhất với hơn 9 triệu bản được bán trên toàn thế giới. A Brief History of Time cố gắng giải thích nhiều chủ đề của Vũ trụ học, trong đó có lý thuyết Big Bang, Lỗ đen, Nón ánh sáng và Lý thuyết Siêu dây, cho độc giả không chuyên. Mục đích chính của nó là giúp cho người đọc có được một cái nhìn tổng quát về chủ đề, nhưng khác với những cuốn sách khoa học nổi tiếng khác, nó cũng cố giải thích một số ý niệm toán học phức tạp. Tác giả chú thích rằng một biên tập viên đã cảnh báo ông rằng cứ thêm phương trình vào cuốn sách thì số độc giả lại giảm đi một nửa, vì vậy cuốn sách chỉ có một phương trình duy nhất là E=mc2. Ngoài ra cuốn sách còn được làm đơn giản bớt các vấn đề bằng việc thêm vào tranh minh họa, miêu tả những mô hình và biểu đồ phức tạp. A Brief History of Time được nhiều người cho một quyển “bestseller chưa được đọc,” tức là một quyển mà nhiều người sở hữu nhưng chỉ một ít là đã đọc hết.

[8] Stephen William Hawking (8/1/1942) là một nhà vật lý người Anh. Trong nhiều thập kỷ, ông được coi là ông hoàng vật lý lý thuyết của thế giới vớil ĩnh vực nghiên cứu chính là lý thuyết vũ trụ học và hấp dẫn lượng tử. Ông cũng cho rằng người ngoài hành tinh là có thật. Hawking hiện là giáo sư Lucasian, chức danh dành cho giáo sư toán học của Đại học Cambridge. Từng đảm nhiệm vị trí này là những nhà khoa học xuất chúng như Issac Newton và Paul Dirac. Ông tốt nghiệp đại học với hạng xuất sắc về ngành Vật lý, rồi sau đó ông chuyển đến Đại học Cambridge để tiếp tục theo đuổi luận án tiến sĩ về Vũ trụ học. Trong thời gian làm luận án, người ta phát hiện Hawking bị mắc một chứng bệnh về thần kinh có tên là bệnh Lou Gehrig làm ông gần như mất hết khả năng cử động, luôn phải gắn chặt vào xe lăn. Ngoài ra, sau lần phẫu thuật cắt khí quản, ông chỉ có thể nói được nhờ một thiết bị phát âm gắn với một máy tính được ông gõ chữ vào đó. Các bác sỹ cho rằng ông không sống lâu để có thể hoàn thành luận án tiến sỹ nhưng Hawking vẫn sống tới tận bây giờ. Ông đã kết hôn rồi ly hôn 2 lần, có 3 người con trong cuộc hôn nhân đầu, và một con nuôi người Việt Nam.

[9] Alexander Graham Bell (3/3/1847 – 2 /8/1922) là nhà phát minh, nhà khoa học, nhà cải cách người Scotland. Sinh ra và trưởng thành ở Edinburgh, Scotland, ông đã di cư đến Canada năm 1870 và sau đó đến Hoa Kỳ năm 1871, trở thành công dân Hoa Kỳ năm 1882. Ông được nhận giải thưởng bằng sáng chế cho phát minh ra điện thoại vào năm 1876 và bằng sáng chế này vẫn còn hiệu lực cho đến nay.

[10] AOL viết tắt của America Online, là một công ty cung cấp dịch vụ Internet toàn cầu có trụ sở tại Mỹ. Công ty này thuộc quản lý của tập đoàn Time Warner.

[11] bệnh xơ cứng teo cơ một bên/ xơ cột bên teo cơ (amyotrophic lateral sclerosis – ALS) còn có tên gọi khác là bệnh Lou Gehrig. Đây là một bệnh thoái hóa thần kinh, tiến triển mãn tính với các đặc điểm lâm sàng chủ yếu là: teo cơ, rung giật các sợi cơ và kèm theo chứng bệnh lý bó tháp, do tổ thương các nơron vận động ngoại vi kết hợp với tổn thương hệ tháp, không giảm hoặc mất cảm giác. Bệnh tiến triển nặng dần, khoảng 50% tử vong sau 3 năm, sau 6 năm tử vong khoảng 90%. Bệnh này được Charcot mô tả lần đầu tiên vào năm 1869. Tỷ lệ mắc bệnh này trên thế giới khoảng 1,4 người trên 100.000 dân số. Bệnh gặp ở nam giới nhiều gấp 2 lần nữ giới, tuổi xuất hiện nhiều nhất ở khoảng từ 40 – 59, tuy nhiên bệnh có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi.

[12] I Am the Walrus (tạm dịch: Tôi là con hải mã) là ca khúc được ban nhạc Beatles trình bày vào năm 1967, do John Lennon sáng tác. John Lennon hoàn thành bài hát này dựa trên việc kết hợp 3 bài hát dang dở khác của ông. Khi ông biết rằng một thầy giáo ở trường tiểu học mà ông từng theo học đã cho học sinh phân tích lời các bài hát của Beatles, ông đã thêm vào một đoạn những từ ngữ vô nghĩa.

Hải mã ở đây xuất phát từ nhân vật hải mã trong bài thơ “The Walrus and the Carpenter” (Con hải mã và tay thợ mộc) của Lewis Carroll. Lennon đã thể hiện sự thất vọng khi sau này nhận ra rằng con hải mã là nhân vật phản diện trong bài thơ.

[13] Fixing a Hole: một ca khúc của Beatles trong album Sgt. Pepper’s Lonely Hearts Club Band phát hành năm 1967. Ca khúc này do Paul McCartney sáng tác.

[14] I Want to Tell You là ca khúc nằm trong album năm 1966 Revolver của Beatles, do George Harrison sáng tác.

[15] Playboy: tạp chí được phát hành hàng tháng dành cho đàn ông của Mỹ được thành lập ở Chicago, Illinois bởi Hugh Hefner. Đặc điểm nổi bật của tạp chí là những bức ảnh chụp phụ nữ khỏa thân, kèm theo nhiều bài báo về thời trang, thể thao, hàng tiêu dùng và các biểu tượng phổ biến. Nó cũng giới thiệu những tác phẩm văn chương hàng đầu. Và nó cũng đưa ra những quan điểm phóng khoáng nhất là lĩnh vực chính trị.

//

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: