Extremely Loud & Incredibly Close (1)

Thật Ồn Ào & Rất Thân Quen

Tác giả: Jonathan Safran Foer

THẾ CÒN? (1)

 Image

Thế còn về cái siêu nước? Sẽ thế nào nếu cái nắp vòi mở ra và đóng lại mỗi khi hơi nước thoát ra ngoài, khi ấy nó sẽ trở thành một cái miệng, và nó có thể huýt sáo những giai điệu êm ái, hoặc đọc một vài trích đoạn Shakespeare, hoặc chỉ đơn giản là nói mấy lời bông đùa với tôi? Tôi có thể sẽ chế tạo ra một cái siêu nước biết nói bằng giọng của Ba, và khi ấy tôi có thể đi vào giấc ngủ, hoặc là một bộ ấm chén biết hát đoạn điệp khúc trong bài “Yellow Submarine[1],” một bài hát của ban nhạc Beatles, mà tôi yêu thích, bởi vì côn trùng học là một trong những raisons d’être[2] của tôi, đây là một cụm từ tiếng Pháp mà tôi biết nghĩa. Còn một điều hay ho nữa là tôi có thể luyện cho hậu môn của mình nói được mỗi khi tôi xì hơi. Nếu như tôi muốn cho thật hài hước, tôi sẽ luyện câu, “Không phải tôi!”, mỗi khi tôi xì hơi rất thối. Và nếu như có khả năng tôi xì hơi thối ở Phòng kính huyễn hoặc[3], trong cung điện Versailles, mà nằm ở ngoại ô Paris, thuộc nước Pháp, dĩ nhiên là vậy, mông tôi sẽ tự phân bua, “Ce n’étais pas moi[4]!

Thế còn những chiếc micro xíu xiu? Sẽ thế nào nếu mọi người nuốt chúng vào bụng, và chúng sẽ phát ra tiếng đập của tim ta thông qua một cái loa phóng thanh nhỏ, mà có thể nằm trong cái túi bé tí mà chứa tất cả những thứ quan trọng nhất của chúng ta? Và khi ta trượt ván trên phố vào giữa đêm khuya ta có thể nghe rõ tiếng tim đập của mọi người, và họ cũng có thể nghe được từ ta, cứ như thể là một hệ thống định vị tàu ngầm vậy. Có một điều kỳ cục là, tôi không biết liệu tim của mọi người có cùng đập vào một thời điểm, giống như kiểu khi những người phụ nữ ở chung một nhà thì chu kỳ kinh nguyệt của họ luôn trùng nhau, điều này thì tôi biết, nhưng đấy không phải là thứ thông tin mà tôi muốn biết. Như thế thì thật lạ lùng, ngoại trừ những chốn như bệnh viện nơi các em bé được sinh ra và cất tiếng khóc như những chúc đài treo bằng pha lê trên nhà thuyền, bởi vì khi ấy các em bé chưa có đủ thời gian cho việc hòa hợp nhịp tim của mình với những người lớn. Và ở vạch đích của cuộc thi marathon toàn thành New York, tiếng tim đập của những người tham gia hẳn phải to như tiếng đại bác thời chiến tranh ấy chứ.

Và ngoài ra, có nhiều khi ta cần trốn đi đâu đó thật nhanh, nhưng con người thì không tự mình có cánh, hoặc cũng có thể là chưa, thế thì những chiếc áo có phủ hạt kê thì sao nhỉ?

Dù sao thì.

Buổi học nhu thuật[5] đầu tiên của tôi diễn ra vào ba tháng rưỡi trước. Thuật tự vệ là thứ tôi rất tò mò, vì những lý do hiển nhiên, và Mẹ cho rằng sẽ tốt cho tôi hơn nếu duy trì hoạt động thể chất bên cạnh việc chơi trống lục lạc, vì thế buổi học nhu thuật của tôi diễn ra vào ba tháng trước. Lớp học có mười bốn đứa tất cả, và chúng tôi đều mặc những bộ võ phục màu trắng vừa vặn. Chúng tôi tập cúi chào, và rồi tất cả chúng tôi đều ngồi xuống theo kiểu thổ dân da đỏ, và rồi Sensei[6] Mark gọi tôi tiến lại chỗ thầy. “Hãy đá vào hạ bộ của thầy,” thầy ấy bảo tôi. Lời thầy nói làm tôi choáng. “Excusez-moi[7]?” tôi bảo thầy. Thầy xoãi chân ra và bảo tôi, “Thầy muốn em đá vào hạ bộ của thầy.” Thầy đặt tay sang hai bên hông, và hít vào thật sâu, và nhắm mắt lại, và tôi hiểu rằng thầy ấy thật sự nghiêm túc. “Jose,” tôi bảo thầy, và tôi thầm nghĩ, Cái quái gì thế? Thầy bảo tôi, “Nào, anh chàng. Hãy thử phá hủy hạn bộ của thầy đi.” “Phá đi ấy ạ?” Vẫn nhắm mắt thầy bắt đầu cười khùng khục và nói tiếp, “Em đừng hòng làm hỏng nó dù em có cố đến đâu. Đấy chính là ví dụ tiêu biểu cho vấn đề khả năng của cơ thể được rèn luyện tốt chống lại những tấn công trực tiếp ra sao. Nào, giờ thì hãy thử xem nào.” Tôi bảo thầy, “Em là người theo chủ nghĩa hòa bình ạ,” và bởi vì mấy đứa ở tuổi tôi đâu có hiểu ý nghĩa của từ ấy, nên tôi quay về phía chúng nó và giải thích, “Tao không cho rằng việc làm tổn thương phần kín của người khác là một điều nên làm. Không bao giờ.” Sensei Mark nói, “Thầy có thể hỏi em điều này không?” Tôi quay mặt lại và bảo thầy, “‘Thầy có thể hỏi em điều này không?’ là hỏi rồi ạ.” Thầy bảo, “Em có mơ trở thành một bậc thầy về nhu thuật không?” “Không ạ,” tôi trả lời, dù cho tôi không còn mơ đến việc tiếp quản nghiệp kinh doanh trang sức của gia đình đi chăng nữa. Thầy bảo, “Em có biết làm thế nào để một võ sinh nhu thuật lại có thể trở thành một bậc thầy nhu thuật không?” “Em muốn biết tất cả mọi thứ ạ,” tôi trả lời thầy, nhưng cả điều này nữa cũng chẳng còn đúng. Thầy bảo tôi, “Một võ sinh trở thành một bậc thầy nhu thuật thông qua việc cố gắng tấn công vào hạ bộ của sư phụ anh ta.” Tôi bảo thầy, “Thú vị đấy.” Vậy đấy, buổi học nhu thuật cuối cùng của tôi diễn ra vào ba tháng rưỡi trước.

Lúc này tôi ước sao có chiếc trống lục lạc bên mình, bởi vì cho dù sau tất cả mọi điều tôi vẫn cảm thấy thật nặng nề, và đôi khi nó còn giúp tôi chơi một điệu thật hay. Bài ấn tượng nhất mà tôi có thể chơi với cái trống lục lạc là “The Flight of the Bumblebee[8],” do Nicolai Rimsky-Kor-sakov sáng tác, đây cũng là đoạn nhạc chuông điện thoại tôi tải về sau khi Ba mất. Việc tôi chơi được khúc “The Flight of the Bumblebee” là một sự kiện bất ngờ, bởi vì để chơi được khúc này ta cần phải chơi nhanh ở một số chỗ, và điều này thì rất khó đối với tôi, vì tay tôi vẫn chưa có cơ như người lớn. Ron đề nghị mua cho tôi một bộ năm trống. Dù tiền bạc thì không thể mua được tình cảm nơi tôi, dĩ nhiên là vậy, nhưng tôi vẫn đề nghị với chú ấy về cái chũm chọe Zildjian[9]. Chú ấy bảo, “Bất cứ thứ gì mà cháu thích,” và rồi chú ấy cầm theo cái đồ chơi yo-yo đang để trên bàn tôi và dẫn chó ra ngoài đi dạo. Tôi biết rằng chú ấy chỉ muốn tỏ ra thân thiện, nhưng chính điều ấy lại khiến tôi tức giận. “Yo-yo moi[10]!” tôi hét lên, giật nó lại. Điều mà tôi thực sự muốn nói với chú ấy là “Chú không phải bố cháu, và không bao giờ là bố cháu cả.”

Chẳng phải thật lạ hay sao khi mà lượng người chết luôn tăng lên cho dù kích cỡ của trái đất này vẫn không hề thay đổi, và vào một ngày nào đó ta sẽ chẳng biết phải chôn những người đã chết vào đâu? Vào sinh nhật lần thứ chín của tôi vào năm ngoái, Bà nội tặng tôi phiếu đặt báo dài hạn National Geographic[11], mà Bà thường gọi là “tờ National Geographic.” Ngoài ra Bà còn cho tôi một cái áo vest trắng, bởi vì tôi chỉ mặc độc quần áo màu trắng, và bởi vì nó quá to so với tôi nên tôi có thể giữ nó lại cho sau này. Bà còn đưa cho tôi chiếc máy ảnh của Ông nội, thứ mà tôi rất thích vì hai lý do. Tôi hỏi Bà vì sao Ông lại không mang theo chiếc máy ảnh khi bỏ đi. Và Bà trả lời, “Có thể là vì ông ấy muốn cháu giữ nó.” Tôi nói, “Nhưng mà lúc ấy cháu âm ba mươi tuổi cơ.” Bà trả lời, “Thì vẫn vậy thôi.” Dù sao, điều tuyệt vời là tôi đọc được trong tạp chí National Geographic rằng hiện nay số lượng người sống áp đảo tất tần tật những người đã chết trong quá khứ cộng lại. Hay nói cách khác, nếu tất cả mọi người còn sống trên trái đất này muốn diễn vai Hamlet[12] trong cùng một thời điểm, thì họ không thể, bởi sẽ không có đủ số đầu lâu cho họ làm điều đó!

Thế còn những ngôi nhà dành cho người chết được xây dựng dưới lòng đất thì sao? Chúng có thể nằm dưới những tòa nhà được xây dựng trên mặt đất dành cho người sống. Và ta có thể chôn người chết ở tầng thứ một trăm dưới mặt đất, và cả một thế giới người chết sẽ nằm ngay dưới thế giới của những người đang sống. Đôi khi tôi nghĩ rằng sẽ thật lạ lùng nếu có một tòa nhà cao tầng dịch chuyển lên xuống trong khi cái thang máy thì ở vị trí cố định. Nên nếu như ta muốn lên tầng chín mươi nhăm, ta chỉ việc nhấn nút 95 và tầng chín mươi nhăm sẽ hiện ra trước mặt ta. Ngoài ra, việc này cũng khá tiện lợi, bởi vì nếu như ta đang ở tầng chín mươi nhăm, và có cái máy bay nào đó nhỡ tấn công ta ở tầng bên dưới, thì tòa nhà vẫn có thể đưa ta xuống mặt đất, và mọi người đều được an toàn, ngay cả nếu như hôm ấy ta bỏ quên cái áo hạt kê ở nhà.

Từ trước đến nay tôi chỉ mới ngồi xe limousine có hai lần. Lần đầu tiên thật là kinh khủng, mặc dù chiếc limousine ấy rất tuyệt. Tôi không được xem TV ở nhà, và tôi cũng chẳng được xem TV trên xe limousines nốt, nhưng vẫn rất tuyệt vì trong xe có cái TV. Tôi hỏi người lớn là liệu chúng tôi có thể ghé qua trường học không, như thế Toothpaste[13] và The Minch[14] có thể trông thấy tôi oách như thế nào trong một chiếc limousine. Mẹ bảo rằng trường học không nằm trên đường xe đi, và chúng tôi không thể đến tang lễ muộn được. “Tại sao lại không được ạ?” tôi hỏi, mà theo tôi là một câu hỏi hay, bởi vì nếu ta thử suy nghĩ về nó, thì tại sao lại không? Mặc dù giờ đây không còn như vậy nữa, nhưng tôi từng theo thuyết vô thần, và điều đó có nghĩa là tôi không tin vào những điều mà tôi không nhìn thấy được. Tôi thực sự tin rằng khi mà ta chết, thì có nghĩa là chết thật, và ta không thể cảm nhận được gì nữa cả, và ta cũng chẳng còn mộng mị nữa. Như thế không có nghĩa là bây giờ tôi tin tưởng vào những điều mà tôi không thể nhìn thấy, bởi tôi không hề như vậy. Chỉ là tôi tin rằng các sự việc là vô cùng phức tạp. Và dù sao, chúng tôi cũng đâu có thực sự chôn cất Ba.

Dù tôi đã rất cố gắng không để ý, nhưng việc Bà nội cứ chạm vào người tôi làm cho tôi khó chịu, nên tôi trèo lên hàng ghế trước và vỗ vai bác tài xế cho đến khi bác ấy chú ý tới tôi. “Tước hiệu. Của. Bác. Là. Gì?” Tôi đặt câu hỏi theo giọng của Stephen Hawking. “Cái gì?” “Thằng bé muốn biết tên anh,” Bà nội giải thích từ hàng ghế sau. Bác ấy trao cho tôi tấm danh thiếp.

GERALD THOMPSON
Hãng xe Sunshine Limousine

phục vụ năm khu trong thành phố New York
(212) 570-7249

Tôi trao danh thiếp của mình cho bác tài xế và nói, “Chào. Gerald. Tôi. Là. Oskar.” Bác ấy hỏi tại sao tôi lại nói năng như thế. Tôi trả lời, “Hệ điều hành của Oskar là một bộ vi xử lý mạng lưới các dây thần kinh. Một máy tính biết học tập. Càng tiếp xúc nhiều với con người, thì sẽ càng học được nhiều hơn.” Bác Gerald trả lời, “O” và rồi bác ấy nói “K.” Tôi không biết liệu bác ấy có thích tôi không nữa, nên tôi bảo bác ấy, “Cái kính râm của bác có giá một trăm đô.” Bác ấy nói, “Một trăm bảy mươi nhăm.” “Bác có biết nhiều từ bậy không?” “Bác biết vài từ.” “Cháu không được dùng từ bậy.” “Đồ vô dụng.” “‘Đồ vô dụng’ nghĩa là gì ạ?” “Đấy là một từ không hay.” “Thế bác có biết từ ‘cứt’ không?” “Đấy là một từ bậy, đúng không nhỉ?” “Không ạ, nếu như bác nói là “nấm[15].” “Chắc vậy.” “Món Succotash[16] ông Balzac của tôi ơi, có nấm nhé[17].”  Bác Gerald lắc đầu và bật cười, nhưng không phải theo chiều hướng xấu, là nhằm vào tôi. “Cháu còn không thể nói ‘bánh lông[18],’” tôi kể, “trừ khi cháu nói đến một cái bánh thật sự được chế biến từ thịt thỏ. Găng tay của bác đẹp thế.” “Cảm ơn cháu.” Và rồi tôi nghĩ ra một chuyện, nên tôi nói tiếp. “Thực ra, nếu như xe limousine thật dài là dài, thì sẽ không cần phải có lái xe nữa. Bác chỉ việc vào xe từ cửa sau, đi bộ trong lòng cái xe, và rồi bước ra từ cửa trước, đến nơi mà bác muốn đến. Vì thế, trong trường hợp này, cửa trước sẽ là nghĩa trang.”  “Còn bác thì có thể được xem đá bóng.” Tôi vỗ vai bác ác và bảo, “Khi mà bác tìm từ “hài hước” trong từ điển, bác sẽ nhìn thấy hình của mình đấy.”

Ở ghế sau, Mẹ đang cầm thứ gì đó trong túi xách. Tôi biết mẹ đang vày vò nó, bởi vì tôi có thể nhìn thấy đường gân nổi lên trên tay mẹ. Bà nội thì đan găng tay len màu trắng, nên tôi biết chúng được dành cho tôi, dù lúc này trời vẫn còn chưa lạnh. Tôi muốn hỏi rõ Mẹ đang cầm thứ gì và tại sao lại phải giấu nó trong túi xách. Tôi vẫn còn nhớ rằng khi ấy tôi đã nghĩ là nếu như tôi có bị hạ thân nhiệt, thì tôi cũng chẳng thèm xỏ tay vào đôi găng ấy.

“Giờ thì cháu nghĩ,” tôi bảo Gerald, “họ có thể làm một chiếc limousine siêu dài mà ghế sau nối liền với tử cung của mẹ mình và ghế trước là lăng mộ mình, thế là cái xe sẽ dài bằng cả đời mình.” Gerald nói, “Ừ, nhưng nếu ai cũng sống như thế, thì làm sao mọi người gặp được nhau?” Tôi trả lời, “Thì sao ạ?”

Mẹ nắm chặt tay lại, và Bà nội tiếp tục đan, và tôi nói với Gerald, “Cháu từng đá vào bụng một con gà đấy bác ạ,” bởi vì tôi muốn làm bác ấy cười, bởi vì nếu tôi có thể làm cho bác ấy cười, tôi sẽ cảm thấy nhẹ nhõm hơn. Bác ấy không nói gì, có thể bởi vì bác không nghe thấy lời tôi nói, nên tôi lập lại, “Cháu nói là cháu từng đá vào bụng một con gà Pháp.” “Hả?” “Nó kêu lên ‘Ouef[19].’” “Nghĩa là sao?” “Đấy là một câu nói đùa ạ. Bác có muốn nghe một câu khác nữa không, hay là bác đã có một trứng rồi?” Bác ấy nhìn Bà nội qua gương và nói, “Thằng bé nói gì thế hả bà?” Bà tôi trả lời, “Ông nội nó yêu động vật nhiều hơn là nó yêu con người.” Tôi nói, “Bác hiểu chưa? Ouef?”

Tôi bò lại về hàng ghế sau, bởi vì nói chuyện trong khi lái xe là rất nguy hiểm, đặc biệt là khi ta đang đi trên đường cao tốc, như chúng tôi lúc này. Bà nội lại tiếp tục chạm vào người tôi, làm cho tôi thấy khó chịu, dù tôi không hề muốn vậy. Mẹ nói, “Con yêu,” và tôi trả lời, “Oui[20],” và mẹ nói tiếp, “Có phải con đưa chìa khóa cửa nhà mình cho ông đưa thư không?” Tôi nghĩ thật là kỳ quặc khi Mẹ nói đến chuyện đó vào lúc này, bởi vì nó chẳng liên quan gì cả, nhưng tôi nghĩ rằng khi ấy Mẹ đang kiếm chuyện gì đó để nói mà không quá rõ ràng. Tôi trả lời, “Người đưa thư ấy là một ạ.” Mẹ gật đầu, nhưng không hẳn là với tôi, và Mẹ hỏi tiếp rằng có phải tôi đưa cho cô đưa thư chìa khóa nhà không. Tôi gật đầu, bởi vì tôi không bao giờ nói dối Mẹ trước khi mọi chuyện xảy ra. Tôi chẳng có lý do nào để làm vậy cả. “Tại sao con lại làm thế?” Mẹ hỏi. Nên tôi bảo Mẹ, “Stan –” Và Mẹ nói, “Ai?” Và tôi trả lời, “Bác Stan là bác bảo vệ của tòa nhà ạ. Đôi khi bác ấy chạy ra ngoài phố mua cà phê, và con thì muốn chắc chắn rằng tất cả thư từ được gửi tới tận tay con, nên con nghĩ là, nếu như Alicia—” “Ai?” “Cô đưa thư ạ. Là nếu như cô ấy có chìa khóa nhà mình, cô ấy có thể cất các thứ vào trong nhà cho con.” “Nhưng mà con không thể đưa chìa khóa nhà mình cho người lạ như thế được.” “Thật may là Alicia không phải là người lạ đâu ạ.” “Nhà mình có rất nhiều thứ quý giá con ạ.” “Con biết. Nhà mình có nhiều thứ rất tuyệt.” “Đôi khi con người ta không được tốt đẹp như vẻ bề ngoài đâu, con có biết không? Nếu như cô ta lấy trộm thứ gì đó của nhà mình thì sao?” “Không đâu ạ.” “Nhưng nếu chuyện đấy xảy ra thì làm sao?” “Nhưng mà cô ấy sẽ không làm thế ạ.” “Ôi, thế cô ta có đưa cho con chìa khóa nhà cô ta không?” Chắc chắn Mẹ đang giận điên lên, nhưng tôi không hiểu tại sao Mẹ lại giận tôi. Tôi có làm gì sai đâu. Hoặc nếu mà tôi có sai thật, thì thực tình là tôi không biết mình sai ở đâu. Và tôi thề là tôi không muốn thế một chút nào.

Tôi dịch vào sát Bà nội và bảo Mẹ, “Tại sao con lại cần chìa khóa nhà của cô ấy ạ?” Mẹ có thể nói rằng tôi đang tự kéo chiếc túi ngủ, và tôi có thể nói rằng Mẹ không thực sự yêu thương tôi tẹo nào. Tôi biết mà, nếu mà Mẹ có thể lựa chọn, thì chắc chắn Mẹ muốn đám tang mà chúng tôi sẽ tham dự là của tôi cơ. Tôi nhìn lên nóc chiếc limousine, và tôi tưởng tượng ra thế giới trước khi có trần nhà, điều này làm cho tôi băn khoăn: Liệu các hang động không có trần, hay cả cái hang động ấy đều là trần? “Có lẽ là lần sau con nên hỏi ý kiến mẹ trước, được chứ?” “Mẹ đừng cáu với con,” tôi nói, và tôi ngồi sát bên Bà nội và đóng mở cái khóa cửa vài lần. “Mẹ không cáu,” Mẹ trả lời. “Không hề ạ?” “Không hề.” “Thế mẹ vẫn còn yêu con chứ?” Có lẽ đấy không phải là thời điểm thích hợp để nói rằng tôi cũng đã trao chìa khóa nhà cho anh giao bánh của Pizza Hut[21], và cả anh nhân viên ở UPS[22], và cả một chú rất dễ thương ở Tổ chức Hòa bình Xanh nữa[23], như thế chú ấy có thể gửi tôi các báo cáo về loài lợn biển và cả những loài thú đang đứng trên bờ tuyệt chủng trong lúc Stan chạy đi mua cà phê. “Mẹ chưa bao giờ yêu con nhiều hơn lúc này cả.”

“Mẹ này?” “Ừ?” “Con muốn hỏi ạ.” “Ừ.” “Mẹ đang cầm cái gì ở trong túi xách thế?” Mẹ nhấc tay ra khỏi túi và xòe rộng lòng bàn tay, nó trống trơn. “Mẹ chỉ nắm tay thôi,” Mẹ trả lời.

Dù hôm ấy là một ngày buồn khủng khiếp, Mẹ tôi vẫn rất, rất đẹp. Tôi cố nghĩ cách để diễn đạt với Mẹ điều ấy, nhưng tất cả những thứ tôi có thể nghĩ ra đều thật kì cục và lố bịch. Hôm ấy mẹ đeo chiếc vòng mà tôi làm tặng mẹ, và điều ấy khiến tôi cảm thấy như thể thứ ấy trị giá hàng trăm đô la. Tôi thích được làm đồ trang sức cho Mẹ, vì việc ấy khiến cho Mẹ hạnh phúc, và làm Mẹ hạnh phúc cũng là một raisons d’être của tôi.


[1] Yellow Submarine (Chiếc tàu ngầm màu vàng): bài hát nằm trong album soundtrack cùng tên. Đây là album phòng thu thứ 10 của ban nhạc thành phố Liverpool nổi tiếng The Beatles và là một trong những những album hiếm hoi của ban nhạc không được đánh giá cao về chuyên môn.

Đoạn điệp khúc của bài hát:

We all live in a yellow submarine,
yellow submarine, yellow submarine,
We all live in a yellow submarine,
yellow submarine, yellow submarine.

[2] raisons d’être: (tiếng Pháp) lý do tồn tại

[3] Phòng kính huyễn hoặc (Hall of Mirrors): Louis XIV hay Vị vua Mặt trời, đã cho xây phòng kính này vào năm 1684 với ý định để phản ánh quyền lực và vẻ uy nghi của nước Pháp. Phòng kính phản ánh một kỷ nguyên vàng trong suốt thế kỷ 17 của Pháp, với những tác phẩm nghệ thuật và những tấm kính lớn đầy ấn tượng. Phòng kính dài hơn 73m và các bức tường đều minh họa chiến thắng của vua Louis XIV trước Hà Lan và các đối thủ khác của Pháp thời bấy giờ. Ngoài ra phòng có tổng cộng 357 chiếc gương treo thành hàng trên tường phản chiếu những khu vườn qua cửa sổ đối diện. Trong suốt thời Louis XIV, hầu hết phòng kính được dùng cho các hoạt động vui chơi giải trí, phần còn lại là tòa án. Đây cũng là nơi chứng kiến lễ ký kết Hiệp ước Versailles, chính thức kết thúc Chiến tranh thế giớigiới I.

[4] Ce n’étais pas moi: (tiếng Pháp) Không phải tôi đâu.

[5] Nhu thuật (Jujitsu): là tên gọi chung cho nhiều môn phái cổ truyền của người Nhật. Nhu thuật xuất nguồn từ giai cấp võ sĩ samurai xưa ở Nhật Bản dùng tay không để tự vệ và chống cự lại đối thủ. Những phương pháp này dựa trên lý thuyết dùng sức công của đối phương để kiềm chế địch thủ, thay vì chống trả trực tiếp. Nhu thuật có nhiều phương pháp khác nhau nên đã nảy sinh ra nhiều môn phái khác nhau. Nhu đạo (Judo) là môn võ nổi tiếng nhất bắt nguồn từ Nhu thuật. Ngoài ra còn có các môn võ khác như Akido…, hoặc môn phái hiện đại như Nhu thuật Brazil đều có nguồn gốc chính thức từ Nhu thuật. Đây còn là môn võ được coi là tinh hoa của võ thuật phương Đông vì nó bao gồm cả các cách tấn công như: vật, khóa, đè, đấm, đá, điểm huyệt, đánh vào quan tiết… Tuy nhiên, do tính chất nguy hiểm và tàn bạo của nó mà ngày nay, môn võ này rất ít được lưu truyền.

[6] sensei: (tiếng Nhật) thầy – cô giáo

[7] Excuser-moi: (tiếng Pháp) Cái gì cơ ạ/ Xin lỗi, em không hiểu.

[8] The Flight of the Bumblebee (tạm dịch: Chuyến bay của con ong nghệ) là đoạn nhạc được chơi trong giờ giải lao cho vở opera The Tale of Tsar Saltan (Câu chuyện về Tsar Saltan), do Nikolai Rimsky-Korsakov sáng tác vào năm 1899–1900. Đoạn này gần với Màn III, Cảnh 1, kể về con chim thần (Thiên nga) biến Hoàng tử Gvidon Saltanovich (con trai của Tsar) thành một con côn trùng do vậy chàng có thẩy bay được để đến thăm cha mình (mà không biết rằng chàng vẫn còn sống).

Nghe đoạn nhạc ở đây: http://www.youtube.com/watch?v=6QV1RGMLUKE

[9] chũm chọe Zildjian: loại chũm chọe do gia tộc Zildjian thiết kế. Vào năm 1623, Avedis Zildjian đã thành lập nên một công ty chuyên sản xuất chũm chọe tại thành phố Istanbul (Thổ Nhĩ Kỳ). Trải qua 14 đời kế nghiệp, đến nay công ty của gia tộc Zildjian đang kiểm soát tới 65% thị trường chũm chọe toàn cầu và đạt doanh thu hơn 50 triệu USD vào năm 2011.

[10] moi: (tiếng Pháp) của tôi

[11] National Geographic: là ấn bản tạp chí được phát hành hàng tháng của Hiệp hội Địa lý Quốc gia Hoa Kỳ. Thiết kế trình bày của tạp chí có khung viền vàng đặc trưng và đã được đăng ký bảo hộ với Cục Sở hữu Trí tuệ. Với nhiều chủ đề nổi tiếng về phong cảnh và lịch sử hầu hết mọi nơi xa gần trên thế giới, Nationcal Geographic được xem là tạp chí hàng đầu về nhiếp ảnh cũng như bài vở. Vì đòi hỏi tiêu chuẩn cao, hình ảnh phóng sự của tạp chí này được sánh với những ấn phẩm cao nhất về nghệ thuật cũng như kỹ thuật trên thế giới. Ngay từ đầu Thế kỷ 20 khi kỹ thuật còn kém, National Geographic đã in hình màu. Tạp chí còn được biết đến nhiều vì những phụ bản địa đồ chi tiết. Các tài liệu lưu trữ của Hội thậm chí còn được Chính phủ Mỹ sử dụng, khi mà khả năng vẽ bản đồ của chính phủ còn hạn chế.

National Geographic hiện có 32 phiên bản dùng nhiều ngôn ngữ trên thế giới. Tổng số phát hành hàng tháng là gần 9 triệu số báo với hơn 50 triệu độc giả.

[12] Hamlet: nhân vật chính trong vở kịch cùng tên nổi tiếng của nhà soạn kịch vĩ đại người Anh William Shakespeare (1564-1616), có lẽ được sáng tác vào năm 1601. Cốt truyện của tác phẩm có nguồn gốc từ thể loại Saga (truyện dân gian) thời Trung cổ. Hamlet là vị hoàng tử Đan Mạch, sinh viên trường Đại học Wittenberg (Đức). Chàng gặp phải một cảnh ngộ éo le trong gia đình: vu cha vừa chết được hai tháng thì mẹ chàng, Hoàng hậu Gertrude tái giá lấy Claudius, chú ruột của chàng. Hồm ma của vua cha hiện về báo cho chàng biết Claudius là kẻ đã giết mình để chiếm đoạt ngai vàng và Hoàng hậu, và đòi Hamlet phải trả thù. Hamlet từ đó lòng tràn đầy căm phẫn, ghe tởm và chán ghét cuộc đời. Chàng giả điên để che mắt kẻ thù, thực hiện nghĩa vụ. Còn kẻ thù của Hamlet cũng ra sức theo dõi, dò xét chàng.

[13] Toothpaste: (tiếng Anh) kem đánh răng. Biệt danh của bạn Oskar

[14] The Minch: (tiếng Anh) Thằng õng ẹo. Biệt danh của bạn Oskar

[15] Nguyên văn: “shikate”, trong tiếng Anh từ này có nghĩa là nấm. Vì Oskar không được nói bậy, nên thay vì nói từ ‘cứt’ (shit) thì nó nói trệch ra là shikate.

[16] succotash: có nghĩa là món lõi ngô luộc, thường được chế biến từ các nguyên liệu như ngô, đậu lima và các loại đỗ khác. Có thể thêm vào cà chua và rau xanh và ớt ngọt. Món ăn này rất phổ biến trong thời kỳ Đại suy thoái (những năm 1940) ở Nước Mỹ vì chi phí nguyên liệu rất rẻ. Món này cũng thường được dùng trong các Lễ Tạ ơn của người Mỹ.

[17] Một kiểu chơi chữ khác của thằng Oskar. Nguyên văn là “Succotash my Balzac, dipshiitake.” Có lẽ là thằng Oskar muốn nói thế này cơ: “Suck my balls, shit.” Mà câu này thì siêu tục tĩu >.<

[18] nguyên văn: hair pie

[19] ouef: (tiếng Pháp) quả trứng

[20] oui: (tiếng Pháp) vâng

[21] Pizza Hut: chỗi nhà hàng Mỹ được nhượng quyền thương mại quốc tế chuyên cung cấp các món ăn từ bánh pizza với các phong cách khác nhau, cùng với các món ăn phụ bao gồm mỳ ống, đùi bò, và bánh mì bơ tỏi. Pizza Hut là một công ty con của Yum! Brands – công ty kinh doanh nhà hàng lớn nhất thế giới.

[22] UPS: công ty chuyển phát nhanh hàng hóa lớn nhất thế giới và dẫn đầu về việc cung cấp các dịch vụ kho vận và vận chuyển chuyên nghiệp toàn cầu. Được thành lập vào năm 1907 với tiền thân là một công ty đưa tin tại Mỹ; hiện nay, mỗi ngày, UPS giải quyết lưu lượng hàng hóa và thông tin đến hơn 200 quốc gia và lãnh thổ trên toàn thế giới.

[23] Tổ chức Hòa bình Xanh (Greenpeace): được thành lập ở Vancouver, British Columbia, Canada năm 1971. Tổ chức này nổi tiếng vì những chiến dịch chống lại việc săn bắt cá voi. Trong những năm gần đây, mục tiêu trọng tâm của tổ chức này chuyển qua các vấn đề về môi trường khác, bao gồm lưới cào đáy, sự nóng lên toàn cầu, nạn phá rừng nguyên sinh, năng lượng hạt nhân và công nghệ gene. Tổ chức này nhận được sự ủng hộ về mặt tài chính từ khoảng gần 3 triệu người, cũng như các khoản đóng góp khác đến từ các quỹ từ thiện, nhưng không chấp nhận quỹ từ các chính phủ hay doanh nghiệp.

//

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: